TRêng ®¹i häc kinh tÕ quèc d©n
Khoa th¬ng m¹i
CHUY£n ®Ò tèt nghiÖp
§Ò tµi:
HO¹T §éng dù tr÷ mÆt hµng l¬ng thùc
t¹i côc dù tr÷ quèc gia
Hµ Néi - 2008
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. BTC : Bộ Tài Chính
2. BTP : Bộ Tư Pháp
3. CP : Chính Phủ
4. DTQG : Dự Trữ Quốc Gia
5. DTQGKV : Dự Trữ Quốc Gia khu vực
6. HĐBT : Hội Đồng Bộ Trưởng
7. NĐ : Nghị Định
8. QĐ : Quyết Định
9. TCN : Tiêu chuẩn ngành
10.TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
11.TT : Thông tư
12. TTg : Thủ tướng
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
An ninh lương thực là một vấn đề mang tính chiến lược mà bất kì quốc
gia nào trên thế giới đều phải quan tâm, đặc biệt là các nước đang phát triển,
Một là: Chuyên đề nghiên cứu những vấn đề cơ bản về DTQG mặt hàng
lương thực ở tầm vĩ mô cũng như một số hoạt động dự trữ lương thực ở tầm vi
mô chịu ảnh hưởng trực tiếp của các cơ chế chính sách ở tầm vĩ mô, chuyên đề
không nghiên cứu cụ thể hoạt động DTQG mặt hàng lương thực tại các chi cục
DTQG khu vực.
Hai là: Chuyên đề nghiên cứu DTQG mặt hàng lương thực đối với toàn
ngành DTQG, tập trung nghiên cứu dự trữ lương thực về mặt khối lượng trong
mối quan hệ với dự trữ bằng tiền(giá trị).
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Ba là: Chuyên đề chủ yếu nghiên cứu hoạt động DTQG mặt hàng lương
thực trong những năm gần đây (thời kì đổi mới, khi nền kinh tế Việt Nam
chuyển sang cơ chế thị trường).
3. Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ được mục đích nghiên cứu, chuyên đề đã sử dụng tổng hợp các
phương pháp:
- Phương pháp tổng hợp và phân tích
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
- Phương pháp thống kê kinh nghiệm và thống kê toán học.
- Phương pháp dự đoán và phương pháp xử lý số liệu toán học.
4. Nội dung và kết cấu của chuyên đề
Ngoài phần mục lục, lời mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung
chính của chuyên đề bao gồm 3 phần chính:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hoạt động Dự Trữ Quốc Gia mặt
hàng lương thực.
Chương 2: Phân tích thực trạng hoạt động dự trữ mặt hàng lương thực tại
cục Dự Trữ Quốc Gia
Chương 3: Phương hướng và biện pháp tăng cường hoạt động dự trữ
lương thực tại cục Dự Trữ Quốc Gia
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG DỰ
cơn bão gây thiệt hại nặng nề về người và của. Tất cả những điều đó là nguy cơ
tiềm ẩn gây mất ổn định về sản xuất và đời sống. Vì vậy đòi hỏi Nhà Nước phải
có quỹ DTQG và quỹ này phải đủ mạnh để có thể bù đắp được những thiệt hại,
ổn định đời sống nhân dân.
Thứ hai, chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường,
các doanh nghiệp phải tự chủ trong việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
mình, lấy thu bù chi và có lãi. Do đó để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp
không ngừng cạnh tranh, kể cả cạnh tranh không công bằng. Điều đó khiến cho
nền kinh tế bất ổn, gây rối loạn thị trường.
Mặt khác tự do cạnh tranh Nhà Nước không thể ép buộc các doanh
nghiệp gánh vác trách nhiệm dự trữ cho toàn xã hội, để ứng phó với những
trường hợp bất ổn của thị trường và nền kinh tế. Nhiều doanh nghiệp vì lợi ích
của doanh nghiệp mình họ tiến hành đầu cơ để lợi dụng những lúc thiên tai, bão
lụt, dịch bệnh, hoả hoạn…để ép giá nhằm thu lợi nhuận.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Vì vậy để khắc phục hậu quả do thiên tai, bão lụt, ổn định thị trường và
mọi mặt đời sống nhân dân Nhà nước phải hình thành nên quỹ DTQG để thực
hiện chức năng quản lý toàn xã hội.
Thứ ba, tình hình chính trị thế giới luôn diễn biến phức tạp, chiến tranh
cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo, đặc biệt là tình hình khủng
bố quốc tế luôn diễn ra với mức độ ngày càng phức tạp. Điều đó luôn là hiểm
hoả đối với xã hội loài người.
Lịch sử Việt Nam cho thấy từ ngày dựng nước đến nay, nhân dân Việt
Nam đã phải trải qua hàng trăm cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược để bảo
vệ đất nước. Để có được nước Việt Nam độc lập ngày hôm nay, DTQG đã đóng
góp một phần quan trọng.
Ngày nay, nguy cơ chiến tranh vẫn luôn tiềm ẩn, diễn biến hoà bình ngày
càng phức tạp, xung đột khu vực và chiến tranh diễn ra ngày càng gay gắt với
mức độ ngày càng tinh vi hơn. Điều đó đặt ra cho mỗi nước phải có và ngày
càng tăng cường hơn nữa hoạt động DTQG để đảm bảo vấn đề an ninh quốc
liên quan. Hàng năm Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư căn cứ theo tình hình dự báo và
thực tiễn hoạt động DTQG tổng hợp để Chính phủ trình Quốc hội quyết định
tổng mức dự trữ hàng năm cũng như việc bổ sung ngân sách cho quỹ dự trữ.
Quỹ DTQG là khoản tích luỹ từ ngân sách Nhà Nước, do Nhà Nước thống nhất
quản lý và sử dụng theo quy định của Pháp lệnh DTQG các văn bản pháp luật
có liên quan. DTQG bao gồm cả dự trữ bằng hiện vật và giá trị (dự trữ vật tư
hàng hoá, dự trữ tiền đồng Việt Nam, dự trữ vàng và các ngoại tệ mạnh).
Sức mạnh của một nước phụ thuộc rất nhiều vào tiềm lực DTQG. Quỹ
DTQG phải đủ mạnh để có thể ứng phó được các tình huống bất trắc xảy ra. Vì
vậy tuỳ theo sự phát triển kinh tế xã hội, tình hình chính trị trong nước và thế
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
giới…để Chính phủ và Quốc hội quy định cơ cấu hàng hoá dự trữ, tỷ lệ dự trữ
bằng tiền và hiện vật…cho phù hợp với từng thời kì.
b) Hàng hoá đưa vào Dự Trữ Quốc Gia phải là những mặt hàng chiến lược
DTQG là công cụ để Nhà Nước quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế và
ổn định mọi mặt đời sống nhân dân. Để thực hiện được những nhiệm vụ đó hàng
hoá đưa vào DTQG phải là những mặt hàng thiết yếu, quan trọng, đáp ứng được
các nhu cầu để phòng chống thiên tai, bão lụt, dịch bệnh, địch hoạ, đảm bảo an
ninh quốc phòng, bình ổn thị trường và thực hiện các nhiệm vụ đột xuất khác
của Nhà Nước.
c) Dự Trữ Quốc Gia chịu sự điều hành tập trung thống nhất của Nhà Nước, có sự
phân công quản lý hàng DTQG cho các Bộ, Ngành theo quy định của Chính
phủ. Cơ cấu giá trị hàng DTQG tại các Bộ, Ngành hiện nay như sau:
Bảng 1.1: Cơ cấu giá trị hàng hoá DTQG tại các Bộ, Ngành
STT Tên đơn vị quản lý Tỷ trọng (%)
Tổng số 100
1 Bộ Tài Chính (Cục DTQG ) 27,2
2 Bộ Quốc phòng 20,7
3 Bộ Thương mại 42,7
4 Bộ Công an 2,1
ngân sách, dự trữ quá ít thì không thể khắc phục được các tình huống bất ngờ
xảy ra.
e) Cuối cùng Dự Trữ Quốc Gia trong cơ chế thị trường hoạt động không vì mục
đích lợi nhuận.
DTQG là nguồn dự trữ chiến lược của Nhà Nước nhằm chủ động đáp ứng
các nhu cầu về phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh,
đảm bảo quốc phòng, an ninh, góp phần ổn định thị trường…và thực hiện các
nhiệm vụ đột xuất khác của Nhà Nước. Quỹ DTQG được hình thành từ ngân
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
sách Nhà Nước do Quốc hội quyết định. Vì vậy hoạt động DTQG không vì mục
đích kinh doanh, không nhằm tạo ra lợi nhuận.
1.1.3. Vai trò của Dự Trữ Quốc Gia mặt hàng lương thực
Lương thực là vấn đề hàng đầu của con người, là mặt hàng thiết yếu nhất,
nói cách khác, lương thực được coi là nhu cầu cơ bản số một của toàn xã hội.
Trong đời sống kinh tế xã hội, lương thực như học thuyết Mác đã chỉ rõ là
“Điều kiện đầu tiên của mọi việc sản xuất nói chung”. Nó cho thấy lương thực
đóng vai trò then chốt, giữ công tác mở đường, thúc đẩy sự phát triển của các
ngành khác trong nền sản xuất xã hội.
Đối với nước ta, lương thực đóng vai trò cực kì quan trọng vì nước ta là
một nước nông nghiệp với gần 90% dân số làm nghề nông. Vì vậy lương thực
không chỉ đáp ứng nhu về giá trị sử dụng trong đời sống của người dân mà nó
còn đóng vai trò quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp nói riêng, sự phát triển
kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng an ninh nói chung. Chủ Tịch Hồ Chí Minh
đã từng dạy: “Muốn nâng cao đời sống nhân dân, thì trước hết phải giải quyết
vấn đề ăn (rồi mới đến vấn đề mặc và các vấn đề khác). Muốn giải quyết tốt vấn
đề ăn thì phải làm thế nào có được đầy đủ lương thực”.
Chính vì tầm quan trọng của lương thực đối với sự phát triển kinh tế xã
hội, đảm bảo đời sống nhân dân nên hầu hết các nước đều có DTQG mặt hàng
lương thực. Lương thực được coi là mặt hàng dự trữ chiến lược, chiếm tỷ trọng
lớn trong cơ cấu hàng hóa dự trữ tại cục DTQG.
Tạp chất 2,5 2 2 2,5
Hạt vàng 0,2 0,2 0,2 0,2
Hạt không hoàn thiện 7 5 6 7
Hạt hư hỏng 1 1 1 1
Sâu mọt sống (cm/kg) 0 0 0 0
Nguồn: Ban kĩ thuật bảo quản
Giải thích:
- Vùng I (miền núi) gồm: 2 đơn vị DTQGKV Tây Nguyên, Tây Bắc.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
- Vùng II (Đồng bằng Bắc Bộ) gồm: 11 đơn vị DTQG khu vực Hà Nội, Hà
Sơn Bình, Vĩnh Phú, Bắc Thái, Hà Bắc, Hải Hưng, Đông Bắc, Thái Bình, Hà
Nam Ninh, Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh.
- Vùng III (Duyên hải Trung Bộ) gồm: 4 đơn vị DTQG khu vực Bình Trị
Thiên, Đà Nẵng, Nghĩa Bình, Nam Trung Bộ.
- Vùng IV (Đồng bằng Nam Bộ) gồm: 2 đơn vị DTQG khu vực Thành phố
Hồ Chí Minh, Hậu giang.
Ngoài ra cần thêm 1 số tiêu chuẩn quy định khác như thóc phải đảm bảo không
có hạt mốc, màu sắc tự nhiên, mùi: Đặc trưng của thóc, vị: Không có vị lạ, hạt
ngắn (tròn) < 6 cm, hạt dài từ 6 – 6,7 cm, hạt rất dài > 7 cm.
b) Tiêu chuẩn quy định cho gạo
Gạo DTQG đảm bảo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) 5644 – 1999. Theo đó
tiêu chuẩn quy định cho gạo DTQG như sau:
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Bảng 1.4: Chỉ tiêu chất lượng gạo trắng
Loại gạo % khối
lượng
Tỷ lệ hạt dài Thành phần của hạt Chỉ tiêu chất lượng không lớn hơn, theo % khối lượng
Hạt rất
dài
L>7
Hạt
bạc
phấn
Hạt bị
hư
hỏng
Hạt
nếp
Hạt
non
Tạp chất
Thóc
(hạt/kg)
Độ
ẩm
Mức xát
Gạo
hạt
dài
100% loại A >=10 <=10 >60 (0,5-0,8)L <4 <=0,1 0 0,25 0,2 5 0,25 1,5 0 0,05 10 14 Rất kỹ
100% loại B >=10 <=10 >=60 (0,5-0,8)L <4,5 <=0,1 0 0,5 0.2 5 0,5 1,5 0 0,05 10 14 Rất kỹ
5% >=5 <=15 >=60 (0,35-0,75)L 5±2 <=0,2
2
2
5
5
7
7
7
2
gia, đảm bảo cho quá trình sản xuất xã hội tiến hành được liên tục trong điều
kiện bình thường cũng như trong những tình huống bất ngờ xảy ra. Tuy nhiên
sự hình thành, duy trì quy mô dự trữ cũng như quản lý hoạt động dự trữ mặt
hàng lương thực phụ thuộc vào nhiều nhân tố) khác nhau. Cụ thể:
a) Các nhân tố thuộc về môi trường chính trị - xã hội
DTQG là dự trữ của một nước. Vì vậy hoạt động DTQG nói chung và dự
trữ lương thực nói riêng chịu ảnh hưởng rất lớn từ môi trường chính trị - xã hội
của chính bản thân nước đó. Chẳng hạn, nếu nền chính trị không ổn định, xung
đột chính trị, vũ trang, sắc tộc, tôn giáo thường xuyên xảy ra, khi đó để đảm bảo
an ninh quốc gia, đảm bảo đời sống vật chất của người dân trong điều kiện
chính trị biến động thì lương thực DTQG phải tăng lên. Ngược lại nếu chính trị
ổn định, lượng lương thực không nhất thiết phải dự trữ nhiều, khi đó sẽ gây lãng
phí một khoản ngân sách dành cho dự trữ.
Mặt khác quan điểm của Đảng và Nhà Nước trong việc quản lý nền kinh
tế, điều hành đất nước cũng ảnh hưởng đến việc hình thành tỷ lệ, quy mô
DTQG về lương thực. Cơ chế quản lý kinh tế sẽ ảnh hưởng tới phương thức
mua bán, giá cả lương thực nhập - xuất…
Lương thực là thức ăn chủ yếu của con người, do vậy yếu tố xã hội ảnh
hưởng rất lớn tới hoạt động DTQG về lương thực. Quy mô dân số, tỷ lệ gia tăng
dân số, xu hướng vận động của dân số ảnh hưởng tới khối lượng, quy mô dự trữ
lương thực. Thông thường dân số càng lớn thì quy mô lương thực dự trữ càng
lớn. Có như vậy lương thực mới đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu thiết yếu cho
đời sống dân cư khi có tình huống xấu xảy ra.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
b) Các nhân tố thuộc về tiềm lực kinh tế
Nguồn vốn dành cho DTQG 100% từ ngân sách Nhà nước. Lương thực là
một mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu hàng DTQG. Do vậy vốn cho
lương thực dự trữ cũng hoàn toàn do ngân sách Nhà Nước cấp. Hàng năm Nhà
Nước trích một tỷ lệ GDP cho ngân sách. Nếu nền kinh tế phát triển, tốc độ tăng
trưởng cao thì khi đó tỷ lệ GDP dành cho DTQG nói chung và dự trữ lương
thực. Nếu chất lượng kho tốt sẽ giảm đáng kể lượng lương thực bị hao hụt, mất
mát, hư hỏng…Sự phân bố mạng lưới kho sẽ ảnh hưởng đến hoạt động nhập -
xuất lương thực. Mạng lưới kho hợp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến
hành hoạt động nhập - xuất lương thực.
Công nghệ sẽ ảnh hưởng tới quy trình bảo quản lương thực. Nếu áp dụng
công nghệ bảo quản tiên tiến sẽ làm cho thời gian bảo quản lương thực được
kéo dài, chất lượng bảo quản lương thực tăng lên, giảm hao hụt, mất mát, giảm
chi phí và tăng năng suất lao động. Ngược lại công nghệ lạc hậu, lỗi thời sẽ làm
giảm thời gian bảo quản, giảm chất lượng bảo quản đồng thời làm gia tăng chi
phí bảo quản.
e) Yếu tố con người
Con người là chủ thể tiến hành hoạt động DTQG. Do vậy con người đóng
vai trò quyết định tới hiệu quả hoạt động DTQG.
Thật vậy, nếu người làm công tác DTQG nhận thức đúng đắn về vai trò,
chức năng của DTQG, họ là những người có trình độ, ý thức trách nhiệm, khi
đó sẽ giúp cho việc tổ chức các nghiệp vụ hoạt động DTQG hiệu quả hơn.
Chẳng hạn, nếu người làm công tác nghiên cứu và dự báo nhu cầu lương thực
cần dự trữ có trình độ, kinh nghiệm…thì mức dự trữ lương thực hàng năm sẽ
được dự báo một cách khoc học và chính xác hơn.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Xét ở tầm vĩ mô, quan điểm của nhà lãnh đạo đất nước sẽ tác động tới
quy mô dự trữ, nguồn vốn cho dự trữ cũng như điều hành hoạt động DTQG về
lương thực.
Như vậy mọi việc thành công hay thất bại đều do con người và tổ chức
quyết định. Nếu có một tổ chức phù hợp, công tác tổ chức được quan tâm đúng
mức, triển khai thực hiện một cách khoa học, kiểm tra chặt chẽ thì hiệu quả hoạt
động DTQG nói chung và hoạt động dự trữ lương thực nói riêng sẽ mang lại
hiệu quả cao.
1.3. Nội dung cơ bản của hoạt động Dự Trữ Quốc Gia mặt hàng lương thực
DTQG là hoạt động tất yếu khách quan của mọi nền sản xuất xã hội.
+ Khả năng tham gia vào các tổ chức thương mại khu vực và thế giới.
- Dự báo về diễn biến của thời tiết và tần suất xảy ra thiên tai (bão, lũ lụt,
hạn hán…), tần suất xảy ra các cuộc khủng hoảng về kinh tế, sự mất ổn định của
thị trường.
Như vậy nghiên cứu, phân tích và dự báo xu hướng phát triển của nền
kinh tế, sự biến động của tình hình chính trị, xã hội là công tác quan trọng của
hoạt động DTQG, nó đòi hỏi phải có sự tham gia phối hợp của nhiều cấp, nhiều
ngành nhằm đem lại hiệu quả cho hoạt động DTQG.
1.3.2. Xây dựng chiến lược Dự Trữ Quốc Gia
Hoạt động DTQG chỉ có thể đem lại hiệu quả thật sự khi ngành DTQG có
một chiến lược DTQG đúng đắn.
Chiến lược DTQG là định hướng hoạt động DTQG cho một thời kì dài,
phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và tổng thể các biện pháp để
hoạt động DTQG đạt được các mục tiêu đề ra đó là phòng, ngừa, khắc phục các
biến cố do thiên tai, khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội gây ra một cách chủ
động và có hiệu quả nhất.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Ở cục DTQG, từ năm 2007 trở về trước việc xây dựng chiến lược DTQG
là hoàn toàn không có. Chiến lược DTQG bắt đầu được phê duyệt từ đầu năm
2007. Tuy nhiên chiến lược vẫn ở trên giấy tờ, việc triển khai chiến lược vẫn
chưa được thực hiện. Nội dung của chiến lược DTQG bao gồm:
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động DTQG trong quá khứ, hiện tại
và dự báo về tương lai.
- Quán triệt quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà Nước về
phát triển kinh tế xã hội trong thời kì mới, trên cơ sở đó cụ thể hoá vào hoạt
động DTQG.
- Xác định các mục tiêu tổng quát và các mục tiêu chủ yếu của thời kì
chiến lược. Các mục tiêu này phải được cụ thể hoá trong từng giai đoạn và phải
được thực hiện trong các kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
- Xác định quy mô, tỷ lệ dự trữ, cơ cấu hàng hoá DTQG, danh mục các
hàng hoá DTQG theo đúng quy trình, quy phạm bảo quản, áp dụng công nghệ
mới vào bảo quản. Đồng thời tổ chức chỉ đạo thực hiện nghiêm ngặt công tác
bảo vệ, bảo quản hàng hoá DTQG, thường xuyên kiểm tra việc thực hiện kế
hoạch theo từng năm. Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Nhà Nước về
quản lý hành chính, ngân sách, chế độ báo cáo tài chính…
1.3.5. Tổ chức đánh giá và điều chỉnh chiến lược và kế hoạch cho phù hợp với
tình hình cụ thể.
Chiến lược và kế hoạch được lập ra cho thời kì tương lai, mà tương lai thì
luôn biến động. Vì vậy để đảm bảo hoạt động DTQG có hiệu quả thì trong quá
trình thực hiện đòi hỏi phải thường xuyên đánh giá và điều chỉnh chiến lược và
kế hoạch theo từng tình huống cụ thể.
DTQG là nguồn dự trữ chiến lược để phòng, chống và khắc phục hậu quả
do thiên tai, bão lụt, ổn định nền kinh tế, đảm bảo quốc phòng an ninh. Để làm
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
được điều đó cục DTQG phải dự báo những tình huống xấu có thể xảy ra trong
tương lai để xây dựng chiến lược và kế hoạch dự trữ hợp lý. Tuy nhiên thiên tai,
bão lụt, sự bất ổn của nền kinh tế…luôn xảy ra ngẫu nhiên, bất ngờ. Nó có thể
xảy ra ít hoặc nhiều hơn dự báo. Vì vậy nó đòi hỏi cục DTQG phải điều chỉnh
lực lượng dự trữ một cách phù hợp để kịp thời khắc phục những tình huống đó.
Trong điều kiện cụ thể của nước ta hiện nay, để phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ổn định mọi mặt đời sống người dân thì
việc thường xuyên đánh giá và điều chỉnh chiến lược và kế hoạch DTQG đóng
một vai trò vô cùng quan trọng, nó góp phần hoàn thiện chiến lược DTQG.