Kinh doanh xăng dầu nội địa của Tổng công ty xăng dầu Việt Nam Petrolimex - Pdf 12

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa. Quá trình đó giúp ta mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại đưa đất
nước ngày càng hoà nhập vào tiến trình phát triển của nền kinh tế thế giới
.Đặc biệt khi nước ta gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO
Việc phát triển sản xuất, kinh doanh mở rộng thị trường,nâng cao khả
năng cạnh tranh trong thị trường trong nước cũng như trên thế giới đóng một
vai trò quan trọng trong việc giúp nước ta dần thoát khỏi tình trạng đói nghèo,
lạc hậu. Mặt khác, giúp chúng ta tạo lập được nhiều mối quan hệ giao lưu,
buôn bán với nhiều nước, tiếp thu, học hỏi những thành tựu khoa học – công
nghệ – kỹ thuật tiên tiến nhất góp phần thúc đẩy sản xuất trong nước phát
triển.Kinh doanh trong nền kinh tế thị trường,trong môi trường cạnh tranh gay
gắt, mỗi doanh nghiệp đều có những mục đích kinh doanh khác nhau để đáp
ứng nhu cầu của chính bản thân doanh nghiệp. Xong mục tiêu lợi nhuận là
quan trọng nhất, là điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Chính vì vậy, để có thể đứng vững trên thương trường và đạt hiệu quả kinh
doanh, mỗi doanh nghiệp phải biết tự đổi mới mình,hoàn thiện mình
Hiện nay, khi mà thương mại quốc tế ngày càng phát triển thì môi trường
cạnh tranh nội địa ngày càng trở nên phức tạp và đa dạng hơn. Các doanh
nghiệp không chỉ phải cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước mà còn
phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở nước mình.
Nhiều tổ chức kinh tế lớn trên thế giới đã hình thành và phát triển như: EU,
WTO, APEC, ASEAN... đã thu hút sự tham gia của nhiều nước trong đó có
Việt Nam. Đây là cơ hội và cũng là thách thức lớn cho các doanh nghiệp Việt
Nam ,bởi các doanh nghiệp nước ta có ưu thế về nguồn lao động,nguyên
liệu... nhưng các doanh ngiệp nước ngoài có ưu thế hơn ta về vốn, công nghệ,
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trình độ tổ chức quản lý, trình độ chuyên môn... Trong những năm qua, chúng
ta đã phải nhập rất nhiều hàng hóa, phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng, nguyên

*Khái niệm chung về hoạt động kinh doanh
Hoạt động kinh doanh là việc thực hiện một,hay một số hoặc tất cả các
công đoạn của quá trình đầu tư,từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung
ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích thu lợi nhuận.Tiến hành bất kì
hoạt động kinh doanh nào đều có nghĩa là tập hợp các phương tiện, con
người... và đưa họ vào quá trình sản xuất để sinh lợi cho doanh nghiệp.
b.Nội dung của hoạt động kinh doanh
*.Nghiên cứu và xác định nhu cầu thị trường về loại hàng hóa và dịch vụ
để lựa chọn kinh doanh và xây dựng chiến lược kinh doanh
Nghiên cứu thị trường và xác định nhu cầu thị trường về mặt hàng doanh
nghiệp sẽ kinh doanh phải dựa trên cơ sở doanh nghiệp có đủ trình độ chuyên
môn về mặt hàng và doanh nghiệp nắm được khả năng nguồn hàng đã biết và
có khả năng khai thác, đặt hàng,mua hàng để đáp ứng cho nhu cầu của khách
hàng tốt hơn cách đáp ứng nhu cầu hiện tại
*.Huy động và sử dụng hợp lý các nguồn lực đưa vào kinh doanh
Bất kì một hoạt động kinh doanh nào cũng phải huy động các nguồn vốn,
tài sản,con người và công nghệ... đưa chúng vào hoạt động để tạo ra sản phẩm
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hoặc dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và xã hội, thu được lợi nhuận
cho doanh nghiệp.Việc huy động nguồn lực là điều kiện không thể thiếu được
của hoạt động kinh doanh nhưng việc sử dụng nguồn lực một cách hợp lý, có
hiệu quả và kết quả mới là hoạt động quyết định kinh doanh.Việc quyết định
phương hướng, kế hoạch sử dụng nguồn lực do tập thể hội đồng quản trị
doanh nghiệp có trách nhiệm,song về cơ bản phải do tài năng của giám đốc và
hệ thống tham mưu chức năng giúp giám đốc,cũng như sự phát huy khả năng
của mọi thành viên trong doanh nghiệp,vấn đề kỉ luật,kỷ cương trong doanh
nghiệp
*.Tổ chức hoạt động nghiệp vụ mua bán,dự trữ,bảo quản,vận chuyển,xúc
tiến thương mại và các hoạt động dịch vụ phục vụ khác hàng

như:việc tạo lập,duy trì,sử dụng và phát triển có hiệu quả yếu tố con người
nhằm thực hiện các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp một cách tốt
nhất.Quản trị nhân sự là một mặt của công tác quản trị doanh nghiệp là quá
trình hoạch định,tuyển dụng,tổ chức sắp xếp,đào tạo và phát triển,đãi ngộ
nhân sự và phân quyền,giao quyền,tạo dựng ê kíp,cũng như đánh giá nhân sự
c.Đánh giá kết quả của hoạt động kinh doanh
Kết quả hoạt động kinh doanh là thành tích hoạt động sản xuất kinh
doanh mà doanh nghiệp đạt được trong một giai đoạn nhất định. Kết quả có
thể là đại lượng định lượng được như: số lượng sản phẩm tiêu thụ, doanh thu,
lợi nhuận,… Kết quả cũng có thể là đại lượng chỉ phản ánh chất lượng, mang
tính chất định tính như: chất lượng sản phẩm, danh tiếng và uy tín của doanh
nghiệp.
Các kết quả kinh doanh phải được xem xét bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau.
- Doanh thu:
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Doanh thu là một chỉ tiêu kinh tế cơ bản phản áng mục đích kinh doanh
cũng như kết quả sản xuất kinh doanh. Chỉ tiêu doanh thu có ý nghĩa to lớn
trong việc đánh giá quá trình và quy mô sản xuất kinh doanh và quản lý
doanh nghiệp. Đây là cơ sở dể phân tích các chỉ tiêu khác có liên quan, nó còn
là căn cứ đáng tin cậy cho các cấp lãnh đạo đề ra những quyết định tối ưu
trong việc sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh tế và xác định chính
xác kết quả tài chính của doanh nghiệp.
Doanh thu bán hàng: là chỉ tiêu phản ánh giá trị thực hiện do hoạt động
sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, cung cấp lao vụ, dịch vụ
cho khách hàng. Giá trị của hàng hoá được thỏa thuận ghi trong hợp đồng
kinh tế về mua bán và cung cấp hàng hóa, lao vụ, dịch vụ đã được ghi trong
hoá đơn bán hàng hoặc trên các chứng từ khác có liên quan đến hoạt động bán
hàng hoặc thoả thuận giữa người mua và người bán về giá bán hàng hoá.
Doanh thu bán hàng thuần: Được xác định như sau:

Thuế tiêu thụ đặc biệt: là loại thuế đánh vào các mặt hàng chịu thuế đặc
biệt. Hiện nay, có ba mặt hàng phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt đó là: thuốc là,
rượu, bia.
- Lợi nhuận:
Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh
doanh, là chỉ tiêu chất lượng đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của
doanh nghiệp. Từ góc độ của doanh nghiệp thì lợi nhuận là khoản tiền chênh
lệch giữa thu nhập và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được thu nhập đó.
Lãi nhuần được xác định như sau:
Lãi nhuần = Lãi gộp – Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh
nghiệp.
Lãi gộp được xác định:
Lãi gộp = Doanh thu thuần – Giá vốn bán hàng.
Giá thanh toán cho người bán là giá được ghi trên hoá đơn do người mua
hàng đem về cùng với hàng mua sau khi đã trừ đi các khoản chiết khấu, giảm
giá.
Chi phí phát sinh trong quá trình mua hàng bao gồm: chi phí bảo hiểm, bốc
dỡ vận chuyển, tiền thuê kho bến bãi, hao hụt định mức trong khâu mua, khoản
lệ phí phải nộp trong khâu mua, tiền lương và bảo hiểm của cán bộ chuyên trách
mua (nếu có).
Chi phí bán hàng: phản ánh các khoản phí thực tế phát sinh trong quá
trình tiêu thụ hàng hoá, lao vụ, dịch vụ, bao gồm các chi phí quản lý, đóng
gói, vận chuyển, giới thiệu, bảo hành sản phẩm hàng hoá. Chi phí bán hàng
bao gồm các khoản mục sau: Chi phí nhân viên, chi phí vật liệu bao bì, chi
7
doanh thu tính
thuế
Thuế suất thuế
doanh thu
Thuế doanh thu

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
xuất sản phẩm, chi phí về tiền lương cho bộ phận sản xuất, bộ phận bán hàng
và bộ phận quản lý chung theo khối lượng kinh doanh, chi phí thuế doanh thu,
thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt
* Các chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp:
Các chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp phản ánh hiệu quả kinh tế của toàn bộ
quá trình sản xuất kinh doanh của toàn doanh nghiệp. Hiệu quả tổng hợp được
xác định thông qua việc tính toán, so sánh giữa các chỉ tiêu kết quả kinh
doanh và chi phí sản xuất
Lợi nhuận: Lợi nhuận là phần chênh lệch dương giữa tổng thu nhập và
tổng chi phí của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Lợi nhuận được
xác định như sau:
Lợi nhuận = Tổng doanh thu – Tổng chi phí
Lợi nhuận là một chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh
doanh. Nhà quản trị quan tâm tới chỉ tiêu này vì lợi nhuận là điều kiện tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp. Càng tạo ra nhiều lợi nhuận, doanh nghiệp
càng phát triển vững mạnh, đời sống người lao động càng được nâng cao
Tỷ lệ lãi gộp:
Tỷ lệ lãi gộp là chỉ tiêu dùng để phản ánh ảnh hưởng của giá bán hàng
hoá tới hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp.
Lãi gộp
Tỷ lệ lãi gộp = x 100
Doanh thu thuần
Tỷ lệ lãi gộp càng cao chứng tỏ phần giá trị mới sáng tạo của hoạt động
sản xuất kinh doanh càng lớn, doanh nghiệp càng được đánh giá cao và ngược
lại. Nếu giá bán vẫn giữ nguyên nhưng tỷ lệ lãi gộp giảm thì ta có thể kết luận
là chi phí đã tăng lên. Chi phí ở đây được hiểu là chi phí mua nguyên vật liệu
phục vụ sản xuất hay giá vốn hàng bán.
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp, nó phản mặt hoạt động kinh doanh trên
góc độ vốn. Đối với hoạt động kinh doanh thương mại thì vốn vận động hầu
hết các quá trình nghiệp vụ. Vốn của doanh nghiệp bao gồm vốn cố định và
vốn lưu động, ta lần lượt tính từng chỉ tiêu.
- Chỉ tiêu doanh lợi trên vốn sản xuất:
Lợi nhuận
Doanh lợi vốn =
Tổng vốn sử dụng
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ sinh lời của toàn bộ vốn kinh doanh, cho
biết một đồng vốn bỏ vào kinh doanh sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Doanh lợi vốn càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao và ngược lại.
- Hiệu quả sử dụng vốn cố định:
Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước
về tài sản cố định, mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong
nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết
thời gian sử dụng. Quan niệm về tính hiệu quả của việc sử dụng vốn cố định
phải được hiểu trên hai khía cạnh.
Với số vốn hiện có, có thể sản xuất thêm một số lượng sản phẩm với
chất lượng tốt, giá thành hạ để tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Đầu tư thêm vốn một cách hợp lý nhằm mở rộng quy mô sản xuất để
tăng doanh số tiêu thụ với yêu cầu đảm bảo tốc độ tăng lợi nhuận phải lớn
hơn tốc độ tăng vốn.
Hiệu quả sử dụng vốn cố định phản ánh cứ một đồng vốn cố định tham
gia sản xuất sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn
cố định được coi là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá chất lượng và hiệu
quả đầu tư cũng như chất lượng sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp.
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Hiệu quả sử dụng vốn lưu động:
Vốn lưu động là số tiền ứng trước về tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá

Số lượng sản phẩm Số sản phẩm sản xuất trong kỳ
bình quân một nhân viên Số nhân viên bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu giá trị:
Doanh thu bình quân Doanh thu bán hàng trong kỳ
một nhân viên trong kỳ Số nhân viên bình quân trong kỳ
- Lợi nhuận bình quân một nhân viên:
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Lợi nhuận bình quân Lợi nhuận của doanh nghiệp
một nhân viên Số nhân viên bình quân của DN
Chỉ tiêu này cho biết mỗi lao động sử dụng trong doanh nghiệp tạo ra
được bao nhiêu lợi nhuận trong một thời kỳ nhất định.
Chỉ tiêu năng suất lao động và lợi nhuận bình quân một nhân viên càng
cao thì hiệu quả sử dụng lao động càng tốt. Việc phân tích, đánh giá hai chỉ
tiêu này giúp doanh nghiệp có thể khống chế số lượng lao động ở mức hợp lý,
vừa đảm bảo sử dụng tốt về số lượng thời gian và chất lượng lao động, vừa
góp phần vào việc tiết kiệm chi phí, tăng thu nhập cho doanh nghiệp.Đội ngũ
lao động giữ vai trò quan trọng trong việc kinh doanh có hiệu quả của doanh
nghiệp. Chất lượng sản xuất kinh doanh phụ thuộc rất nhiều vào ý thức trách
nhiệm, tinh thần hợp tác của mọi thành viên trong doanh nghiệp. Để phát huy
được mọi tiềm năng trong lao động, sử dụng lao động có hiệu quả đòi hỏi
phải quản lý lao động một cách khoa học, sử dụng đúng người, đúng việc,
đúng năng lực trình độ.
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Như vậy, việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là nhiệm vụ quan trọng của
bất kỳ công ty , doanh nghiệp nào trong cơ chế thị trường. Vấn đề đặt ra là
phải phân biệt giữa kết quả kinh doanh và hiệu quả kinh doanh, từ đó có
hướng nghiên cứu phù hợp.Để đưa ra được những biện pháp thích hợp nhằm
nâng cao hiệu quả kinh doanh của mỗi công ty, doanh nghiệp đòi hỏi phải có
sự nghiên cứu, phân tích tỉ mỉ, chính xác thực trạng kinh doanh ở công ty,

quan hệ với các doanh nghiệp này một cách chặt chẽ, toàn diện, bền vững và
lâu dài.
Đối với nhóm khách hàng là các cơ sở kinh tế trọng yếu trong nền kinh
tế quốc dân sử dụng nhiều diesel và nhiên liệu đốt , hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp này có ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống kinh tế-
xã hội và an ninh quốc phòng của đất nước; Petrolimex chủ trương dành cho
nhóm khách hàng này những ưu đãi nhất định về nguồn, giá cả,.Đối với khách
hàng tiêu dùng mặt hàng chính sách, Petrolimex phối hợp chặt chẽ với các
tỉnh miền núi bảo đảm cung ứng đầy đủ về số lượng, tiến độ, đúng địa chỉ và
các chính sách khác theo đúng chỉ đạo của Nhà nước.
1.2.2 .Vai trò của kinh doanh xăng dầu và kinh doanh xăng dầu nội địa
Xăng dầu là mặt hàng thiết yếu và có tính chiến lược đối với sự phát
triển của đất nước,là mặt hàng độc quyền của nhà nước.Nhà nước Việt Nam
thực hiện độc quyền của mình đối với xuất nhập khẩu xăng dầu thông qua
quản lý quyền trực tiếp xuất nhập khẩu của doanh nghiệp và quy định hạn
ngạch xuất nhập khẩu.Kinh doanh xăng dầu có tác động đến mọi mặt của nền
kinh tế, nhất là những ngành công nghiệp mang tính chiến lược của đất nước
như công nghiệp ôtô, giao thông vận tải,hàng không....
Kinh doanh xăng dầu nội địa là hoạt động kinh doanh xăng dầu diễn ra ở
trong nước đáp ứng nhuu cầu nền kinh tế trong nước và sinh hoạt của đời
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sống nhân dân do vậy xăng dầu là mặt hàng không thể thiếu trong nền kinh tế
cũng như trong đời sống của nhân dân
I. Nội dung của kinh doanh xăng dầu nội địa
1.Nghiên cứu thị trường
Nghiên cứu thị trường là công việc đầu tiên và cần thiết đối với mỗi
doanh nghiệp trong mọi hoạt sản xuất kinh doanh.Nghiên cứu thị trường
nhằm trả lời các câu hỏi:Sản xuất những sản phẩm gỡ? sản xuất như thế nào?
sản phẩm bán cho ai?

cuối cùng.để hoạt động tiêu thụ được hiệu quả cần phải lựa chọn kênh tiêu thụ
một cách hợp lý trên cơ sở tính đến các yếu tố như đặc điểm sản phẩm,các
điều kiện vận chuyển,bảo quản,sử dụng...
Doanh nghiệp có hai kênh tiêu thụ đó là kênh trực tiếp và kênh gián tiếp.
- kênh tiêu thụ trực tiếp là hình thức doanh nghiệp bán thẳng sản phẩm
của mình cho người tiêu dùng cuối cùng không thông qua khâu trung
gian nào.Giảm được chí phí lưu thông,thời gian sản phẩm đến tay
người tiêu dùng nhanh hơn,doanh nghiệp có điều tiếp xúc trực tiếp
với người tiêu dùng...
- Kênh tiêu thụ gián tiếp là hình thức doanh nghiệp mà doanh nghiệp
xuất bán sản phẩm của mình cho người tiêu thụ cuối cùng có qua
khâu trung gian.Giúp doanh nghiệp tiêu thụ được khối lượng hàng
lớn hàng hóa trong thời gian ngắn nhất,từđó thu hồi vốn nhanh,tiết
kiệm chi phí bảo quản hao hụt
5.Tổ chức các hoạt động xúc tiến yểm trợ cho hoạt động bán hàng
Xúc tiến là hoạt động Marketing tới khách hàng tiềm năng của doanh
nghiệp.Các thông tin bao gồm các thông tin về doanh nghiệp, sản phẩm,về
phương thức phục vụ và những lợi ích mà khách hàng sẽ thu được khi tiêu thụ
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sản phẩm của doanh nghiệp, cũng như các tin tức về khách hàng, qua đó
doanh nghiệp tìm ra phương thức thỏa mãn khách hàng một cách tốt nhất.
Hoạt động xúc tiến bán hàng là toàn bộ các hoạt động nhằm tìm kiếm
và thúc đẩy cơ hội bán hàng trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm.Nó có ý nghĩa
quan trọng trong việc chiếm lĩnh thị trường và nâng cao khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp
Yểm trợ các hoạt động bán hàng nhằm hỗ trợ, thúc đẩy,tạo điều kiện
thuận lợi để thực hiện hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
6.Tổ chức hoạt động bán hàng
Bán hàng là một trong những khâu cuối cùng của hoạt động kinh

cao,.. thì doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình kinh doanh, ảnh
hưởng tới hiệu quả kinh tế.
* Nhân tố về chính trị và luật pháp:
Sự ổn định về thể chế chính trị, sự nhất quán về quan điểm chính sách
lớn, hệ thống luật pháp ổn định, hoàn thiện sẽ là điều kiện, là cơ sở để kinh
doanh ổn định, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Sự ổn định về chính trị sẽ
khuyến khích đầu tư, bao gồm đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Đầu
tư kinh tế sẽ giúp các doanh nghiệp giải quyết một vấn đề cơ bản là vốn kinh
doanh, nguồn vốn được đảm bảo thì doanh nghiệp mới có khả năng kinh
doanh có hiệu quả.Nền kinh tế nước ta hiện nay là nền kinh tế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước. Nhà nước tác động đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp thông qua các chính sách vĩ mô, các văn bản
pháp lý. Nhà nước thường sử dụng các công cụ về Thuế, chính sách tài trợ,
quy định pháp luật… Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng của Nhà
nước, là nguồn thu quan trọng cho Ngân sách Nhà nước. Các doanh nghiệp có
nghĩa vụ phải nộp thuế, bao gồm thuế doanh thu, thuế lợi tức,… Chính vì vậy
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thuế suất cao hay thấp và sự thay đổi của biểu thuế suất sẽ ảnh hưởng trực
tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.Khi muốn khuyến khích phát
triển một ngành kinh tế nào đó, Nhà nước sẽ có những chính sách thích hợp,
tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong ngành đó phát triển. Do
vậy, nếu doanh nghiệp hoạt động kinh doanh ở những ngành nghề được Nhà
nước khuyến khích sẽ gặp nhiều thuận lợi. Ngược lại, nếu ở một ngành Nhà
nước hạn chế phát triển thì các doanh nghiệp của ngành đó khi hoạt động sẽ
rất khó khăn, hiệu quả kinh tế đạt được sẽ thấp.
* Nhân tố về văn hóa - xã hội:
Để hoàn thành quá trình kinh tế sản xuất, doanh nghiệp phải thực hiện
tiêu thụ sản phẩm sản xuất ra. Chính vì vậy mọi hoạt động của doanh nghiệp
đều nhằm hướng tới khách hàng. Do đó các phong tục tập quán, thái độ tiêu

khách hàng là đối tượng ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả hoạt động kinh
doanh.
Việc quyết định giá bán sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ có ý nghĩa rất
quan trọng đối với việc tiêu thụ sản phẩm. Giá bán mà doanh nghiệp xác định
phải phù hợp với chất lượng sản phẩm, phù hợp với mặt bằng giá trên thị
trường và được khách hàng chấp nhận. Giá bán cao chưa chắc đã là giá tốt
nhất, phải xác định giá bán sao cho lợi nhuận là lớn nhất mới là giá bán tối
ưu. Xác định được giá bán tối ưu là một quá trình phức tạp và có ảnh hưởng
lớn hơn hiệu quả kinh tế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận là điều kiện để doanh nghiệp tồn tại
và phát triển. Việc tăng giảm lợi nhuận của một doanh nghiệp chịu sự tác
động của khách hàng. Khách hàng tiêu thụ nhiều sản phẩm của doanh nghiệp
sẽ làm tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, khách hàng mua sản phẩm của một ngành
nào đó thì họ có thể làm giảm lợi nhuận của ngành đó bằng cách yêu cầu chất
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
lượng sản phẩm cao hơn hoặc yêu cầu dịch vụ nhiều hơn, khách hàng rất có
khả năng gây sức ép đối với doanh nghiệp, nhất là khi họ có đầy đủ thông tin
về nhu cầu, giá cả hàng hoá trên thị trường và quá trình sản xuất của doanh
nghiệp. Do đó, doanh nghiệp luôn cố gắng đáp ứng mọi nhu cầu của khách
hàng và hạn chế tối đa khả năng gây sức ép của khách hàng. Có như vậy
doanh nghiệp mới tăng được lợi nhuận, đạt hiệu quả kinh tế cao.
* Nhà cung cấp:
Doanh nghiệp thương mại chỉ hoạt động được khi được cung cấp hàng hoá
và các phương tiện phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Như vậy, nhà cung
cấp có vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp.
Để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
diễn ra thường xuyên, liên tục, yêu cầu đặt ra là các doanh nghiệp này phải
được cung cấp đầy đủ về số lượng, chủng loại và chất lượng vật tư theo đúng

các ngành có một số lượng lớn doanh nghiệp. Các doanh nghiệp trong nước
và nước ngoài rất khác nhau về nguồn gốc, phong cách kinh doanh. Do vậy,
các ngành kinh doanh có đối thủ cạnh tranh nước ngoài thường phải đối đầu
với sự cạnh tranh đặc biệt.
Sự cạnh tranh sẽ làm hạn chế hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
trong thời gian ngắn. trong thời kỳ cạnh tranh mạnh mẽ, doanh nghiệp thường
phải tăng chi phí do giảm giá sản phẩm hay đầu tư cho quảng cáo… Nhiều
doanh nghiệp chấp nhận lỗ trong thời kỳ này để giành thắng lợi. Giai đoạn
này dài hay ngắn phụ thuộc vào cường độ cạnh tranh trong ngành cao hay
thấp. Trong giai đoạn này, doanh nghiệp nào có đủ năng lực, đủ sức đứng
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vững thì sẽ giành thắng lợi, hiệu quả kinh tế sẽ tăng dần lên theo thời gian
hoạt động kinh doanh trên thị trường.Ở Việt Nam hiện nay, Nhà nước khuyến
khích các doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh, theo đúng khuôn khổ pháp
luật. Tuy nhiên, ở một số ngành, tình trạng độc quyền vẫn tồn tại hoặc mức
cạnh tranh mới ở thời kỳ sơ khai.
3. Nhân tố thuộc nội tại doanh nghiệp:
* Trình độ tổ chức quản lý và trình độ lao động:
Lực lượng lao động là những người trực tiếp tiến hành các hoạt động sản
xuất kinh doanh, và các hoạt động quản lý của doanh nghiệp. Do đó, yếu tố
con người luôn phải đặt lên hàng đầu. Con người là trung tâm của mọi sự phát
triển, là tác giả của mọi thành quả, trong đó có việc nâng cao hiệu quả kinh tế
của hoạt động kinh doanh.Ban giám đốc là cán bộ quản lý cao cấp nhất trong
doanh nghiệp. Vai trò của người lãnh đạo trong hoạt động sản xuất kinh
doanh là rất quan trọng, thể hiện sự kết hợp một cách tối ưu và hài hoà các
yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh, do đó sẽ tạo được kết quả kinh
doanh cao, giảm được các chi phí không cần thiết. Vai trò của người lãnh đạo
quản lý còn thể hiện ở việc quyết định chiến lược kinh doanh cho doanh
nghiệp và tổ chức thực hiện chúng. Có thể nói, mọi sự thành bại của doanh

then chốt của các doanh nghiệp này là phải đổi mới máy móc, thiết bị, cải tiến
quy trình công nghệ. Đổi mới tài sản cố định là cách duy nhất để có được
năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt, giá cả hạ từ đó có đủ sức cạnh tranh
trên thị trường. Đổi mới tài sản cố định còn là một nhân tố quan trọng để hạ
thấp chi phí sản xuất như: hạ thấp hao phí năng lượng, giảm chi phí sửa chữa,
tăng năng suất lao động, giảm chi phí tiền lương… Tronh kinh doanh, việc
tăng cường đổi mới trang thiết bị được coi là một lợi thế để chiếm lĩnh không
chỉ thị trường hàng hoá mà cả thị trường. Những ý nghĩa nêu trên đã khẳng
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status