Phát triển mạng lưới đại lý tại Công ty Cổ phần Chứng khoán Châu Á - Thái Bình Dương - Pdf 12

LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo, PGS.TS. Trần Đăng
Khâm, người đã hướng dẫn em rất nhiều trong các bước, định hướng và chỉ
cách thức để em có thể hoàn thành chuyên đề này.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới Giám đốc Khối Phát triển Kinh doanh
Công ty Cổ phần Chứng khoán Châu Á – Thái Bình Dương - Bà Phạm Hồng
Vân cùng cộng sự đã giúp đỡ em trong thời gian thực tập tại công ty.
Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu đề tài
Cạnh tranh là tất yếu trong nền kinh tế thị trường. Quy luật cạnh tranh
buộc các doanh nghiệp phải xây dựng lợi thế cho mình để có thể tồn tại và
phát triển trên thị trường.
Mở rộng mạng lưới hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và mở
rộng mạng lưới đại lý nhận lệnh nói riêng của các công ty chứng khoán đang
là cách phổ biến để các công ty mở rộng thị trường, thu hút khách hàng, tăng
thị phần, tăng sức cạnh tranh.
Là công ty thứ 37 được thành lập vào cuối năm 2006, Công ty Cổ phần
Chứng khoán Châu Á- Thái Bình Dương (APEC Securities) đã nhanh chóng
vươn lên trở thành 1 trong 10 công ty chứng khoán hàng đầu tại Việt Nam.
Hiện nay, APEC Securities là công ty chứng khoán có mạng lưới đại lý nhận
lệnh lớn nhất Việt Nam. Vậy tại sao APEC lại có mục tiêu mở rộng mạng
lưới đại lý nhận lệnh? Thực trạng phát triển mạng lưới đại lý của công ty ra
sao? Hạn chế và những nguyên nhân dẫn đến hạn chế đó là gì? Từ những
câu hỏi đó, em đã quyết định nghiên cứu đề tài:
“ Phát triển mạng lưới đại lý tại Công ty Cổ phần Chứng
khoán Châu Á- Thái Bình Dương”
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề cơ bản sau:
- Hệ thống toàn bộ các vấn đề cơ bản của công ty chứng khoán, cơ sở
phát triển mạng lưới đại lý, quy trình thiết lập mạng lưới đại lý.

thể làm tốt được việc đó do họ không được chuyên môn hóa, họ cần những
nhà chuyên nghiệp, chuyên mua bán chứng khoán cho họ. Đó chính là các
công ty chứng khoán. Với nghiệp vụ chuyên môn hóa, kinh nghiệm nghề
nghiệp, bộ máy tổ chức thích hợp, các công ty chứng khoán hoàn toàn có thể
thực hiện tốt trung gian tài chính cho các nhà đầu tư. Kinh nghiệm các nước
cho thấy, khi chưa hình thành TTCK tập trung, các công ty chứng khoán vẫn
làm được trung gian môi giới và mua bán chứng khoán. Những nhà môi
Chuyên đề tốt nghiệp
giới, mua bán chứng khoán thống nhất với nhau thành lập trên TTCK tập
trung để thực hiện giao dịch. Do vậy, muốn thiết lập TTCK, trước hết phải
thiết lập các công ty chứng khoán và phát hành các chứng khoán trên thị
trường.
Công ty chứng khoán (CTCK) là một tổ chức ở thị trường chứng khoán,
thực hiện trung gian tài chính thông qua các nghiệp vụ chủ yếu sau:
- Môi giới chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng (trung gian
môi giới)
- Mua bán chứng khoán bằng nguồn vốn của chính mình để hưởng chênh
lệch giá (thương gia chứng khoán.
- Trung gian phát hành và bảo lãnh phát hành chứng khoán cho các đơn
vị phát hành.
- Tư vấn đầu tư.
Theo Luật chứng khoán số 70/2006/QH11 quy định về chứng khoán và
thị trường chứng khoán thì tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán:
“Công ty chứng khoán được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu
hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định của Luật doanh nghiệp. Uỷ ban
Chứng khoán Nhà nước cấp Giấy phép thành lập và hoạt động cho công ty
chứng khoán. Giấy phép này đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh.”
1.1.1.2. Đặc điểm của công ty chứng khoán
CTCK là một tổ chức trung gian trên TTCK, vì vậy CTCK có đặc điểm

CTCK hoạt động trong môi trường xung đột lợi ích: Xung đột lợi ích xảy
ra khi lợi ích của đối tượng này đi ngược lại lợi ích của đối tượng có liên
quan. Các CTCK hoạt động trong môi trường luôn luôn tồn tại xung đột lợi
ích: đó là xung đột giữa lợi ích của công ty và lợi ích của khách hàng, xung
đột giữa lợi ích của các bộ phận khác nhau trong cùng một công ty.
Sản phẩm mà CTCK cung cấp là các dịch vụ tài chính. Điểm đặc biệt là
sự phát triển của các dịch vụ tài chính phụ thuộc vào sự phát triển của
TTCK. Vì vậy các dịch vụ tài chính rất dễ thay đổi. Các dịch vụ này rất dễ
bắt chước: hôm nay CTCK này có dịch vụ đặt lệnh qua điện thoại thì ngay
ngày mai, CTCK khác cũng mở dịch vụ này. Gần như các CTCK đều có các
dịch vụ tài chính giống nhau, điều khác biệt chỉ là chất lượng của các dịch
vụ này.
Là trung gian tài chính, hoạt động trong môi trường có xung đột lợi ích,
hoạt động của các CTCK đòi hỏi tính chuyên môn hóa và chuyên nghiệp hóa
cao để có thể đảm bảo tốt nhất lợi ích của nhà đầu tư cũng như lợi ích của
CTCK.
Do những đặc điểm này mà CTCK là loại hình doanh nghiệp kinh doanh
có điều kiện: đó là điều kiện về vốn, điều kiện về nhân lực, điều kiện về cơ
sở vật chất. Địa bàn hoạt động của các CTCK là nơi có kinh tế phát triển.
1.1.1.3. Mô hình tổ chức của công ty chứng khoán
Có thể khái quát mô hình tổ chức kinh doanh chứng khoán của CTCK
theo 2 nhóm sau:
- Mô hình công ty chứng khoán đa năng
Chuyên đề tốt nghiệp
Theo mô hình này, các CTCK được tổ chức dưới hình thức một tổ hợp
dịch vụ tài chính tổng hợp bao gồm kinh doanh chứng khoán, kinh doanh
tiền tệ và các dịch vụ tài chính. Theo đó, các ngân hàng thương mại hoạt
động với tư cách là chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh
doanh tiền tệ. Mô hình này được biểu hiện dưới 2 hình thức sau:
Loại đa năng một phần: Các ngân hàng thương mại muốn kinh doanh

CTCK hoạt động theo 2 nhóm nguyên tắc cơ bản là nhóm nguyên tắc
mang tính đạo đức và nhóm nguyên tắc mang tính tài chính.
1.1.2.1. Nhóm nguyên tắc đạo đức
CTCK phải đảm bảo giao dịch trung thực và công bằng vì lợi ích của
khách hàng; Kinh doanh có kỹ năng, tận tuỵ và có tinh thần trách nhiệm; Ưu
tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh của công ty và
có nghĩa vụ phải bảo mật mọi thông tin của khách hàng; Nghiêm cấm các
CTCK thực hiện các giao dịch nội gián, thực hiện các giao dịch mua bán gây
thiệt hại đến lợi ích của khách hàng.
CTCK không được tiến hàn các hoạt động có thể làm cho khách hàng và
công chúng hiểu lầm về giá cả, giá trị và bản chất của chứng khoán hoặc các
hoạt động khác gây thiệt hại cho khách hàng.
1.1.2.2. Nhóm nguyên tắc tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp
- CTCK cần đảm bảo các yêu cầu về vốn, cơ cấu vốn và nguyên tắc hạch
toán, báo cáo theo quy định của UBCK Nhà nước; đảm bảo nguồn tài chính
trong cam kết kinh doanh chứng khoán với khách hàng.
- CTCK không được dùng tiền của khách hàng làm nguồn tài chính để
kinh doanh, ngoại trừ trường hợp số tiền đó phục vụ cho giao dịch của khách
hàng.
- Tiền và chứng khoán của khách hàng phải được tách bạch với tài sản
của CTCK. CTCK không được dùng chứng khoán của khách hàng làm vật
thế chấp vay vốn trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản.
1.1.3. Vai trò của công ty chứng khoán
Với tư cách là trung gian tài chính, thực hiện các hoạt động trên TTCK,
vai trò của CTCK như sau:
1.1.3.1. Đối với tổ chức phát hành
Mục đích của các tổ chức phát hành khi tham gia TTCK là nhằm huy
động vốn thông qua việc phát hành các loại chứng khoán. Vì vậy, thông qua
hoạt động đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành, các CTCK có vai trò tạo ra

- Góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính. Trên thị
trường cấp 1, do thực hiện các hoạt động như bảo lãnh phát hành, chứng
khoán hoá, các CTCK không những huy động một lượng vốn lớn đưa vào
sản xuất kinh doanh cho nhà phát hành mà còn làm tăng tính thanh khoản
Chuyên đề tốt nghiệp
của các tài sản tài chính được đầu tư vì các chứng khoán qua đợt phát hành
sẽ được mua bán giao dịch trên thị trường cấp 2. Điều này làm giảm rủi ro,
tạo tâm lý yên tâm cho người đầu tư. Trên thị trường cấp 2, do thực hiện các
giao dịch mua và bán, các CTCK giúp người đầu tư chuyển đổi chứng khoán
thành tiền mặt và ngược lại. Những hoạt động đó có thể làm tăng tính thanh
khoản của những tài sản tài chính.
1.1.3.4. Đối với cơ quan quản lý
Các CTCK có vai trò cung cấp thông tin về TTCK cho các cơ quan quản
lý thị trường để thực hiện mục tiêu quản lý thị trường. Thật vậy, do các
CTCK vừa là người bảo lãnh phát hành cho các chứng khoán mới, vừa là
làm trung gian mua bán chứng khoán và thực hiện các giao dịch trên thị
trường. Một trong những yêu cầu của TTCK là các thông tin phải cần phải
được công khai hoá dưới sự giám sát của các cơ quan quản lý thị trường.
Việc cung cấp thông tin vừa là quy định của hệ thống luật pháp, vừa là
nguyên tắc nghề nghiệp của các CTCK vì CYCK cần phải minh bạch và
công khai trong hoạt động.
1.1.4. Các hoạt động cơ bản của công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán được thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ
kinh doanh sau đây:
a) Môi giới chứng khoán;
b) Tự doanh chứng khoán;
c) Bảo lãnh phát hành chứng khoán;
d) Tư vấn đầu tư chứng khoán
1
1.1.4.1. Môi giới chứng khoán

các lệnh mua bán cho các công ty chứng khoán hay cho khách hàng của
công ty trên sàn giao dịch. Họ được gọi chung là môi giới trên sàn.
Thứ ba: Môi giới độc lập (môi giới 2 đô la): chính là các môi giới làm
việc cho chính họ và hưởng hoa hồng hay thù lao theo dịch vụ. Họ là một
thành viên tự bỏ tiền ra thuê chỗ tại Sở giao dịch (sàn giao dịch) giống như
các công ty chứng khoán thành viên.
Họ chuyên thực thi các lệnh cho các công ty thành viên khác của Sở giao
dịch. Sở dĩ có điều này là tại các Sở giao dịch nhộn nhịp, lượng lệnh phải
giải quyết cho khách hàng của các CTCK đôi khi rất nhiều, các nhân viên
môi giới của các công ty này không thể làm xuể hoặc vì một lý do nào đó
vắng mặt. Lúc đó các CTCK sẽ hợp đồng với các nhà môi giới độc lập để
thực hiện lệnh cho khách hàng của mình và trả cho người môi giới này một
khoản tiền nhất định. Ban đầu các nhà môi giới độc lập được trả 2 đô la cho
một lô tròn chứng khoán (100 cổ phần) nên người ta quen gọi là “môi giới 2
đô la”.
Môi giới độc lập cũng được gọi là môi giới trên sàn, họ đóng vai trò không
khác gì một môi giới thông thường, chỉ khác là họ có tư cách độc lập- tức họ
không đại diện cho bất kỳ một CTCK nào cả.
- Tạo lập thị trường trên thị trường OTC
Nhà tạo lập thị trường là người thực hiện chức năng duy trì thị trường
cho một loại chứng khoán. Vai trò của các nhà tạo lập thị trường:
+ Duy trì tính linh hoạt của thị trường đối với một loại chứng khoán khi
chứng khoán đó được phát hành ra thị trường
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Tăng khả năng thực hiện giao dịch một loại chứng khoán có thể sinh
lời do cạnh tranh về giá cả đặt ra giữa các nhà tạo lập thị trường khác nhau
đối với cùng loại chứng khoán đó.
+ Thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư tới một loại chứng khoán
không niêm yết trên thị trường.
+ Tăng tính linh hoạt của thị trường đối với một loại chứng khoán khi

Đầu tư giảm giá là hoạt động đầu tư trong đó CTCK tìm cách gìm giá
chứng khoán xuống để có thể mua vào một lượng tối đa. Hoạt động đầu tư
theo hình thức đầu tư xuống giá trong luật pháp nhiều nước là không cho
phép do vậy các CTCK thường rất cân nhắc rất cẩn thận khi quyết định
chiến lược đầu tư theo loại hình này.
+ Hoạt động đầu cơ
Cơ sở đầu cơ của các CTCK này là: tại một ngày nhất định trong tương
lai giá cổ phiếu sẽ tăng hơn thời điểm hiện tại. Do đó, CTCK sẽ mua thật
nhiều cổ phiếu tại thời điểm giá chứng khoán thấp để bán lượng cổ phiếu đó
với giá cao hơn trong tương lai. Hoạt động đầu cơ hầu hết chỉ thực hiện
trong ngắn hạn và chỉ những CTCK với tiềm lực tài chính mạnh, có tính
chuyên nghiệp trong đầu tư với chính sách đầu tư phóng khoáng mới có thể
thực hiện hoạt động này để thu về mức lợi nhuận cao.
Chuyên đề tốt nghiệp
Thứ 5: Hoạt động tạo lập thị trường
Các CTCK có thể thực hiện hoạt động tự doanh dưới hình thức tạo lập thị
trường cho một hay nhiều loại chứng khoán. Nhiệm vụ quan trọng nhất và
chủ yếu của các nhà tạo lập thị trường là tạo tính thanh khoản cho thị trường
thông qua việc nắm giữ một lượng cổ phiếu để sẵn sàng mua bán, giao dịch
với khách hàng. Khi đó, các CTCK sẽ xướng mức giá cao nhất sẵn sàng mua
và giá thấp nhất sẵn sàng bán, các mức giá này là giá yết của các nhà tạo thị
trường và họ sẽ được hưởng chênh lệch giá thông qua việc mua bán cổ phiếu.
Trong hoạt động tự doanh CTCK kinh doanh bằng chính nguồn vốn của
công ty. Vì vậy, CTCK đòi hỏi phải có nguồn vốn rất lớn và đội ngũ nhân
viên có trình độ chuyên môn, khả năng phân tích và đưa ra các quyết định
đầu tư hợp lý, đặc biệt trong trường hợp đóng vai trò là nhà tạo lập thị
trường.
1.1.4.3. Hoạt động đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán
Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ chức bảo lãnh phát hành cam
kết với tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng

cấu vốn tối ưu. Do sự chuyên môn hoá trong nền kinh tế phát triển, họ tìm
đến các CTCK để có thể nhận được những tư vấn trong việc xác định cơ cấu
tài chính, phương án huy động vốn và được CTCK lập kế hoạch tài chính và
phân tích tài chính định kỳ cho doanh nghiệp của mình.
1.1.4.5. Hoạt động phụ trợ
Chuyên đề tốt nghiệp
- Lưu ký chứng khoán: Là việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách
hàng thông qua các tài khoản lưu ký chứng khoán. Đây là quy định bắt buộc
trong giao dịch chứng khoán. Khi thực hiện dịch vụ lưu ký chứng khoán cho
khách hàng, CTCK sẽ nhận được các khoản thu phí lưu ký chứng khoán, phí
gửi, phí rút và phí chuyển nhượng chứng khoán.
- Quản lý cổ tức: xuất phát từ việc lưu ký chứng khoán cho khách hàng,
CTCK sẽ theo dõi tình hình thu lãi, cổ tức của chứng khoán và đứng ra làm
dịch vụ thu nhận và chi trả cổ tức cho khách hàng thông qua tài khoản của
khách hàng.
- Nghiệp vụ tín dụng: đối với các TTCK phát triển, bên cạnh nghiệp vụ
môi giới chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng, CTCK còn triển
khai dịch vụ cho vay chứng khoán để khách hàng thực hiện giao dịch bán
khống hoặc cho khách hàng vay tiền để thực hiện nghiệp vụ mua ký quỹ.
1.2.Mạng lưới đại lý của công ty chứng khoán
1.2.1.Cơ sở kinh tế và cơ sở pháp lý của việc hình thành đại lý
1.2.1.1. Cơ sở kinh tế
- Khái niệm về đại lý nhận lệnh
Đại lý là những nhà trung gian có quyền hành động hợp pháp thay mặt
cho công ty. Đại lý là các tổ chức có tư cách pháp nhân thực hiện các hoạt
động làm cho các dịch vụ sẵn sang cho nhà đầu tư để họ có thể sử dụng.
Trong kinh tế thuật ngữ này được dùng như là một hành vi thương mại, theo
đó bên giao đại lý (thường là một doanh nghiệp, công ty có sản phẩm, dịch
vụ cần bán) và bên đại lý thỏa thuận việc bên đại lý nhân danh mình mua
hoặc bán hàng cho bên giao đại lý để hưởng thù lao.

dịch, tổ chức nhận làm đại lý không cao.
+ Bất lợi: Hoạt động của các phòng giao dịch, đại lý nhận lệnh còn đơn
giản, chưa đáp ứng được hết nhu cầu của nhà đầu tư
Mục đích của phát triển mạng lưới đại lý là để tiếp cận được với khách
hàng, vì vậy đại lý cần được xây dựng tại những nơi trung tâm. Và đại lý chỉ
được thực hiện những hoạt động đơn giản là nhận lệnh và sơ kiểm lệnh.
1.2.1.2. Cơ sở pháp lý
Theo Quyết định số 55/2004/QĐ-BTC ngày 17/06/2004 của Bộ tài chính
về việc tổ chức và hoạt động của CTCK, trong đó tại điều 13 và điều 14 cho
phép các CTCK được thành lập phòng giao dịch và đại lý nhận lệnh. Theo
quyết định này, CTCK được lập các phòng giao dịch chứng khoán tại các
tỉnh, thành phố có trụ sở chính hoặc chi nhánh đã được chấp thuận theo quy
định của pháp luật hoặc lựa chọn một số các pháp nhân làm đại lý nhận lệnh
cho CTCK tại các tỉnh, thành phố nơi CTCK không có trụ sở chính hoặc
chưa có chi nhánh.
Tại điều 14 của quyết định này quy định rõ các quyền, nghĩa vụ đối với
CTCK và các đại lý nhận lệnh, đồng thời quy định yêu cầu đối với các đại lý
nhận lệnh.
Điều 14. Đại lý nhận lệnh
1

1. Trong quá trình hoạt động, công ty chứng khoán được lập các đại lý
nhận lệnh tại nơi công ty không có trụ sở chính hoặc chưa có chi nhánh và
phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về hoạt động của đại lý nhận lệnh.
1
Quyết định số 55/2004/QĐ-BTC ngày 17/06/2004
Chuyên đề tốt nghiệp
2. Đại lý nhận lệnh được tiến hành nhận, sơ kiểm và chuyển lệnh về trụ sở
chính/chi nhánh công ty chứng khoán theo hợp đồng với công ty chứng
khoán. Đại lý nhận lệnh không được mở tài khoản giao dịch, lưu ký chứng

phát triển nông thôn (AGRISCO), với lợi thế mạng lưới hoạt động rất rộng
của ngân hàng mẹ, mà chủ yếu là tại khu vực nông thôn. AGRISCO đã có
chiến lược phát triển mạng lưới đại lý nhận lệnh, từng bước đưa dịch vụ và
sản phẩm chứng khoán về khu vực nông thôn. Tính đến cuối năm 2006,
AGRISCO đã có 30 đại lý nhận lệnh trên cả nước.
- Đặc điểm của khách hàng
Đây cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc xây dựng mạng lưới
chi nhánh, đại lý. Những yếu tố cơ bản cần xem xét về đặc điểm của khách
hàng là quy mô, cơ cấu, mật độ và hành vi của khách hàng. Nếu khách hàng
ở phân tán về địa lý hoặc quy mô đầu tư nhỏ lẻ thì không nên đặt chi nhánh,
đại lý tại đó. Những khu vực nằm ở trung tâm, có mật độ dân cư cao là điều
kiện phù hợp để đặt chi nhánh, đại lý tại đó.
- Đặc điểm của hàng hóa
Yếu tố chi phối đến việc lựa chọn và xây dựng mạng lưới chi nhánh, đại
lý đó là đặc điểm của hàng hóa. Hàng hóa thực có hình thái cụ thể, giá trị
của nó do giá trị sử dụng quyết định. Ngược lại, chứng khoán là hàng hóa tài
Chuyên đề tốt nghiệp
chính, không có hình thái cụ thể, giá trị của nó do quyền yêu cầu về thu nhập
đối với tổ chức phát hành quyết định. Vì vậy, để đánh giá được giá trị của
chứng khoán, không phải là điều dễ, do đó, không phải ai cũng có thể trở
thành nhà đầu tư trên thị trường. Từ đặc điểm này, có thể thấy, CTCK nên
xây dựng các chi nhánh, đại lý tại những khu trung tâm văn hóa, kinh tế, tài
chính của các tỉnh, thành nơi có trình độ dân trí cao.
- Mạng lưới hoạt động của đối thủ cạnh tranh
Việc lựa chọn, xây dựng 1 đại lý cũng chịu ảnh hưởng bởi hệ thống mạng
lưới đại lý các công ty hoạt động trong cùng ngành. Công ty sẽ phải lựa
chọn những chi nhánh, đại lý có thể mang lại lợi thế cạnh tranh so với chi
nhánh, đại lý của các công ty khác. Lợi thế ấy có thể mang lại từ chất lượng
dịch vụ, vị trí địa lý hay từ hoạt động marketing.
- Khả năng nguồn lực và đặc điểm của chính doanh nghiệp

- Thời hạn hiệu lực của hợp đồng đại lý.
Sau khi các điều khoản, điều kiện đã được 2 bên đồng ý, hợp đồng mở
đại lý sẽ được kí kết, đại lý sẽ đi vào hoạt động. Thông thường, 1 hợp đồng
mở đại lý sẽ kéo dài 2 năm. Tuy nhiên, nếu 1 trong 2 bên vi phạm hợp đồng,

Trích đoạn Môi trường chính trị xã hội và pháp luật Sự phát triển của thị trường CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI ĐẠI LÝ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG VP TRỢ LÝ HĐQT Kết quả hoạt động kinh doanh chủ yếu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status