Phát triển hoạt động môi giới của công ty cổ phần chứng khoán Châu Á – Thái Bình Dương - Pdf 10



TIỂU LUẬN:
Phát triển hoạt động môi giới của
công ty cổ phần chứng khoán Châu
Á – Thái Bình Dương LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua,cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường chứng
khoán cũng đã có những bước phát triển nhảy vọt. TTCK đang trong quá trình hoàn
thiện vì vậy vai trò của các công ty chứng khoán ngày càng trở nên quan trọng.
Công ty chứng khoán có các hoạt động cơ bản như : Môi giới, tự doanh, bảo lãnh
phát hành… Tại công ty cổ phần chứng khoán Châu Á Thái Bình Dương (APECs) hoạt

APECS.

CHƯƠNG 1
HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN

1.1. Khái quát về công ty chứng khoán
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm về CTCK
1.1.1.1. Khái niệm
Lịch sử hình thành và phát triển của TTCK cho thấy ban đầu các nhà môi giới
thường là cá nhân hoạt động độc lập sau đó trải qua quá trình hoạt động cùng với sự
tăng lên của quy mô và khối lượng giao dịch các nhà môi giới có xu hướng tập hợp theo
một tổ chức nhất định – đó là các công ty chứng khoán. Điều này chứng tỏ rằng người
môi giới có thể là thể nhân hoặc pháp nhân nhưng trên thực tế môi giới pháp nhân được
nhà đầu tư và pháp luật tin tưởng hơn.
Theo Giáo trình Thị trường chứng khoán của Đại học Kinh tế quốc dân “Công ty
chứng khoán là một định chế tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên TTCK”.
Ở Việt Nam, Cty chứng khoán là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn thành
lập hợp pháp tại Việt Nam, được UBCKNN cấp giấy phép thực hiện một hoặc một số
loại hình kinh doanh chứng khoán.
Theo Luật chứng khoán năm 2006 thì: “ Công ty chứng khoán là công ty cổ phần,
công ty trách nhiệm hữu hạn thành lập theo pháp luật Việt Nam để kinh doanh chứng
khoán theo giấy phép kinh doanh chứng khoán do Ủy ban chứng khoán Nhà Nước
cấp”.


cùng một quốc gia các CTCK vẫn có nhiều sự khác biệt tùy thuộc vào tính chất hoạt
động của CTCK và mức độ phát triển của thị trường. Hiện nay, trên thế giới có hai mô
hình phổ biến về CTCK:
- Mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán.
Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các CTCK độc lập,
chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận, các ngân hàng không đuợc
tham gia vào kinh doanh chứng khoán.
ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU
Hội đồng quản trị
Chủ tịch Công ty

BAN ĐIỀU HÀNH
Giám đốc/Tổng Giám đốc
Phó Giám đốc/PTGĐ
KHỐI KINH DOANH
(Front office)

Môi giới
Tự doanh
Bảo lãnh phát hành
Tư vấn đầu tư
Phụ trợ

KHỐI HỖ TRỢ(Back office)

Kế toán
Kho quỹ

ngân hàng có xu hướng bảo thủ thích hoạt động cho vay hơn là thực hiện các nghiệp vụ
trên TTCK như: bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu
tư. Và một khi thị trường có biến động thì nó có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh
doanh tiền tệ của ngân hàng nếu các ngân hàng không tách bạch giữa hai loại hình kinh
doanh tiền tệ và kinh doanh chứng khoán.
 Một đặc điểm nữa của CTCK là các CTCK chuyên môn hóa ở mức độ
cao trong từng bộ phận, từng phòng ban, từng đơn vị kinh doanh nhỏ.
Nếu như ở các doanh nghiệp sản xuất, trong quy trình sản xuất sản phẩm giữa các
khâu phải có mắt xích kết nối, một sản phẩm ra đời nó phải trải qua tất cả các công đoạn

một, không thể thiếu một công đoạn nào. Trong khi đó, toàn bộ các nghiệp vụ của CTCK
đều phục vụ cho các giao dịch chứng khoán những mỗi một nghiệp vụ lại liên quan đến
một góc cạnh riêng. Các phòng ban khác nhau đảm nhiệm các công việc khác nhau như:
môi giới, tự doanh,bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán và ngay cả trong từng bộ
phận các công việc đều được phân công cụ thể, rõ ràng đến từng nhân viên.
Từ trình độ chuyên môn hóa cao độ dẫn đến phân cấp quản lý và làm nảy sinh việc
có quyền tự quyết. Các bộ phận trong CTCK nhiều khi không phụ thuộc lẫn nhau (ví dụ
bộ phận môi giới và bộ phận tự doanh, hay môi giới và bộ phận bảo lãnh phát hành).
Giữa các phòng ban có một sự độc lập tương đối, mối liên kết không phải mật thiết, hữu
cơ như trong các doanh nghiệp sản xuất khác. Chính vì vậy hoạt động hay cơ cấu của
phòng ban này không tác động nhiều đến phòng ban khác.
 Do đặc điểm về hàng hoá nên CTCK còn thể hiện một số đặc điểm đặc
biệt của mình.
- Về tài sản
Tài sản chính của Công ty và của khách hàng mà Công ty giữ hộ cho khách hàng
là tài sản tài chính. Đây là loại tài sản rất khó xác định giá trị, mang yếu tố vô hình, có
tính rủi ro cao.

- Trung gian đầu tư: CTCK là người đứng giữa các nhà đầu tư và tổ chức phát
hành, khi các khách hàng đầu tư vào công ty niêm yết nào đó đều phải thông qua CTCK
và ngược lại khi các nhà phát hành muốn mở rộng quy mô vốn của công ty thì phát
hành chứng khoán ra ngoài và việc phân phối chứng khoán đều cần đến CTCK.
- Trung gian tín dụng: Nhất là các CTCK trực thuộc Ngân hàng mẹ thì vai trò
trung gian tín dụng được thể hiện rõ nhất. Vốn đầu tư của các nhà đầu tư tham gia vào
thị trường sau sẽ là vốn thu về của các nhà đầu tư trước đó. Tiền của các nhà đầu tư
được luôn chuyển qua nhau khi họ thực hiện các giao dịch. Họ là người gắn kết các nhu
cầu cần vốn ( người bán chứng khoán) và nhu cầu của người cần đầu tư ( người mua
chứng khoán ).
1.1.2. Vai trò của công ty chứng khoán
1.1.2.1. Tạo hàng cho TTCK
Trên lý thuyết, khi doanh nghiệp cần huy động vốn bằng cách phát hành chứng
khoán, họ có thể tự chào bán khối lượng chứng khoán đến các nhà đầu tư. Tuy nhiên, họ
khó có thể làm tốt điều này bởi một lẽ họ không có bộ máy chuyên nghiệp. Cần có

những nhà chuyên nghiệp mua bán chứng khoán cho họ. Mặt khác nguyên tắc trung
gian của TTCK không cho phép nhà đầu tư và nhà phát hành trực tiếp mua bán chứng
khoán mà phải thông qua tổ chức trung gian mua bán. Do vậy, các CTCK với cơ cấu tổ
chức thích hợp, trình độ chuyên môn, thành thạo nghiệp vụ thông qua hoạt động bảo
lãnh phát hành, đại lý phát hành giúp di chuyển dòng vốn từ nhà đầu tư đến tổ chức phát
hành.
1.1.2.2. Vai trò đối với TTCK
- Thứ nhất, CTCK góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường.
Trên thị trường sơ cấp, khi thực hiện hoạt động bảo lãnh chứng khoán cho các tổ
chức phát hành, CTCK thông qua việc xác định và tư vấn cho tổ chức phát hành mức
giá chào bán hợp lý đối với các chứng khoán. Thông thường mức giá phát hành do các

một cơ chế giá cả giúp nhà đầu tư đưa ra được nhận định đúng giá trị khoản đầu tư của
mình cũng như giảm chi phí và thời gian giao dịch.
Với trình độ của một chuyên gia tài chính các CTCK giúp các nhà đầu tư thực hiện
các khoản đầu tư một cách có hiệu quả.
Sự uy tín của các CTCK làm khơi dậy niềm tin và quan trọng hơn nữa là tạo ra
nhu cầu đầu tư vào TTCK của công chúng.
CTCK là một chủ thể quan trọng không thể thiếu trên TTCK. Họ là tổ chức trung
gian kết nối giữa tổ chức phát hành với nhà đầu tư, họ cũng có thể là nhà tạo lập thị
trường và đồng thời là tổ chức cung cấp các dịch vụ cần thiết phục vụ cho hoạt động
giao dịch chứng khoán trên thị trường.
1.1.3. Các hoạt động cơ bản của Công Ty chứng khoán
1.1.3.1. Hoạt động Môi Giới chứng khoán
Hoạt động môi giới là một trong những nghiệp vụ quan trọng của CTCK. Với vai
trò là trung gian trong các giao dịch mua bán giữa các khách hàng, nghiệp vụ môi giới đã
thu được một khoản phí không nhỏ cho CTCK. Ngoài ra nhân viên môi giới là những
người tiếp xúc gần nhất, hiểu rõ khách hàng của mình nhất và cũng là bộ mặt của CTCK.
Khách hàng lựa chọn CTCK để tham gia thị trường thông qua chủ yếu là bộ mặt của
phòng môi giới. Những sản phẩm được CTCK đưa ra để phục vụ khách hàng hay những
đánh giá về khách hàng của mình đều được thực hiện thông qua các hoạt động môi giới. Hoạt động trung gian của CTCK là nhằm giúp cho khách hàng giao dịch được
thuận lợi. Thông qua các dịch vụ tư vấn đầu tư, cung cấp thông tin cho khách hàng và
chia sẽ những lo âu với họ hoạt động môi giới đã trở thành người bạn không thể thiếu
đối với các nhà đầu tư. Và khi đã là những người bạn của nhau thì cần phải giúp nhau
do vậy các nhân viên môi giới ngoài các kiến thức thông thạo về chứng khoán còn cần
đòi hỏi phải có đạo đức nghề nghiệp. Vậy để có thể trở thành một nhân viên Môi Giới


Sơ đồ 1. 2: Quy trình nghiệp vụ trong hoạt động môi giới tại Công Ty Chứng
Khoán Khách hàng mở tài
khoản tại CTCK Khách hàng mở tài khoản tiền gửi nếu muốn
mua chứng khoán


giá, hoạt động tự doanh của công ty đựơc thực hiện thông qua hoạt động tạo lập thị
trường . Khi đó CTCK đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường, nắm giữ một số lượng
chứng khoán nhất định đủ lớn để tạo ra sự liên tục cho một loại chứng khoán nào đó, và
tiến hành mua bán với khách hàng để hưởng chênh lệch giá.
Mục đích của bất kỳ CTCK nào khi thực hiện hoạt động tự doanh là nhằm thu lợi
nhuận cho chính mình. Hoạt động này được thực hiện song song với hoạt động môi giới
cho khách hàng. Vì vậy trong qúa trình hoạt động rất dễ gây ra xung đột lợi ích với
khách hàng giữa việc thực hiện lệnh cho khách hàng trước hay cho công ty trước. Theo
thứ tự ưu tiên thì công ty phải thực hiện lệnh của khách hàng trước lệnh tự doanh của
công ty, có thể công ty sẽ bỏ qua lệnh của khách hàng mà thay vào đó là đọc lệnh của
công ty trước. Như vậy công ty đã không làm đúng với trách nhiệm của mình và vi
phạm đạo đức nghề nghiệp làm phát sinh xung đột mâu thuẫn với khách hàng.
Các CTCK thực hiện hoạt động tự doanh phải bằng chính nguồn vốn của công
ty tránh lạm dụng tài sản của khách hàng, trường hợp công ty lợi dụng chứng khoán của
các nhà đầu tư dài hạn để thực hiện hoạt động tự doanh của mình, trong trường hợp
thuận lợi hoạt động đó có lãi thì ít xảy ra vấn đề rắc rối, nhưng nếu hoạt động tự doanh
mà thua lỗ thì gây ra rất nhiều vấn đề cho cả hai. Bản thân công ty thì bị mất uy tín đối
với nhà đầu tư đó và trên cả thị trường. Nhà đầu tư bị lạm dụng tài sản của mình có thể
bị mất hoặc đươc bồi thường. Vì vậy công ty muốn thực hiện hoạt động tự doanh cần
phải có số vốn lớn đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn cao, có khả năng phân
tích và đưa ra các quyết định đầu tư đúng đắn, đặc biệt trong trường hợp vai trò của nhà
tạo lập thị trường.
Để thực hiện tốt hai vai trò của mình đó là môi giới và tự doanh thì CTCK cần :

Tách biệt trong tự doanh và trong hoạt động môi giới để đảm bảo tính minh
bạch, rõ ràng, trong hoạt động. Bao gồm tách biệt về con người, quy trình nghiệp vụ,
vốn, tài sản của khách hàng và công ty.
Sơ đồ 1.3: Các bước nghiệp vụ bảo lãnh phát hành của CTCK
(Nguồn UBCKNN)
1.1.3.4. Hoạt động Quản Lý Danh Mục Đầu Tư



Xúc tiến tìm
hiểu và nhận
Kí hợp đồng
quản lí

Thực hiện hợp
đồng quản lí

CTCK
và khách hàng sẽ tiếp xúc,
tìm hiểu về khả năng tài chính
và chuyên môn, từ đó đa ra các
Nội dung của hợp đồng bao gồm
các vấn đề về vốn, thời gian uỷ
thác, mục tiêu đầu t, quyền
CTCK sẽ thực hiện đầu t vốn
uỷ thác của khách hàng theo hợp

gồm: cho vay ký quỹ, cầm cố chứng khoán, ứng trước tiền bán chứng khoán, ứng trước
tiền cổ tức.
Khi khách hàng có ý định mua chứng khoán nhưng không đủ số tiền ký quỹ,
CTCK có thể cho khách hàng vay cầm cố những loại chứng khoán mà họ đang nắm giữ
để có đủ tiền mua chứng khoán mới. Trong hoạt động này khách hàng chỉ cần ký quỹ
một phần, số còn lại sẽ do CTCK ứng trước tiền thanh toán. Đến kì hạn đã thỏa thuận,
khách hàng phải hoàn trả đủ số chênh lệch cùng với lãi cho CTCK. Trường hợp khách
hàng không trả được nợ thì CTCK có quyền sở hữu số chứng khoán đã mua. Trong thời
gian cầm cố chứng khoán thì khách hàng không được giao dịch số chứng khoán đó,
trong trường hợp khách hàng muốn bán chứng khoán đó thì phải làm hợp đồng giải tỏa
số chứng khoán đó và chỉ được bán số chứng khoán đó để trả nợ. Số tiền thu được từ
việc cầm cố chứng khoán, nhà đầu tư chỉ được sử dụng để mua chứng khoán chứ không
được sử dụng với mục đích khác.
Rủi ro xảy ra đối với CTCK là chứng khoán thế chấp đó có thể bị giảm giá tới mức
giá trị của chúng thấp hơn giá trị khoản vay kí quỹ. Vì vậy khi cấp khoản vay cầm cố,
CTCK phải có những nguyên tắc riêng để đảm bảo thu hồi vốn và tránh tập trung quá
mức vào một khách hàng hay một loại chứng khoán nhất định như việc quy định hạn mức
tối đa mà một hợp đồng được phép vay cũng như tỷ lệ cầm cố so với giá trị chứng khoán tại
thời điểm cầm cố.
Nghiệp vụ này thường đi kèm với nghiệp vụ môi giới trong một CTCK, vì vậy quy
trình giao dịch về căn bản là giống nhau. Chỉ có điểm khác nhau là: giao dịch môi giới

thường sử dụng tài khoản tiền mặt còn giao dịch cho vay kí quỹ lại sử dụng tài khoản kỹ
quỹ.
 Hoạt động lưu ký chứng khoán
Lưu ký chứng khoán là hoạt động của CTCK nhằm giúp cất giữ bảo quản hộ các
chứng khoán cho khách hàng của mình thông qua các tài khoản lưu ký chứng khoán.

thông thường và môi giới hai đôla.
 Môi giới lập giá
Môi giới lập giá hay còn gọi là các chuyên gia thị trường tham gia vào hệ thống đầu
lệnh góp phần định giá CK trên SGDCK, nhằm tạo ra tính liên tục, nâng cao tính thanh
khoản của thị trường và giảm thiểu các tác động tạm thời đến cung - cầu chứng khoán.
Chức năng đầu tiên của chuyên gia là duy trì một thị trường liên tục, công bằng và
trật tự cho loại cổ phiếu mà mình chịu trách nhiệm.
Chức năng thứ hai là tối thiểu hóa sự chênh lệch có thể xảy ra tại thời điểm mở cửa
giao dịch. Để thực hiện được chức năng này, nhà môi giới lập giá phải thực hiện mua
bán chứng khoán từ tài khoản của chính mình. Nhà môi giới thực hiện điều này một
cách thận trọng, chỉ tham gia khi có các biểu hiện cần thiết phải can thiệp.
Những nhà môi giới lập giá có quyền ngưng giao dịch giữa chừng nếu thấy thị
trường “quá nóng” để tránh tổn thất cho thị trường. Họ cũng có quyền đóng cửa thị
trường đối với loại chứng khoán mà họ chịu trách nhiệm bình ổn mà không thực hiện
bình ổn được.
 Môi giới thông thường
Môi giới thông thường là các nhà môi giới của các công ty thành viên. Họ thực hiện
các giao dịch mua bán cho khách hàng và hưởng các khoản hoa hồng mà khách hàng trả
cho họ.
Sơ đồ 1.5: Hoạt động môi giới thông thường
Sở Giao Dịch Chứng Khoán

thuê chỗ tại Sở giao dịch giống như các CTCK thành viên. Họ chuyên thực thi các lệnh
cho các công ty thành viên khác của Sở giao dịch. Sở dĩ có điều này là do tại các Sở
giao dịch nhộn nhịp, lượng lệnh phải giải quyết cho khách hàng của các CTCK đôi khi
rất nhiều, các nhân viên môi giới của các công ty này không đảm đương hết hoặc vì một
lý do nào đó vắng mặt, lúc đó các CTCK sẽ hợp đồng với các nhà môi giới độc lập để
thực hiện lệnh cho khách hàng của mình và trả cho người môi giới này một khoản tiền
nhất định.
Ban đầu các nhà môi giới độc lập này được trả 2 đôla cho một lô tròn chứng khoán
(100 cổ phiếu) nên người ta quen gọi là môi giới 2 đôla. Họ có tư cách độc lập, tức là
không đại diện cho bất kỳ một CTCK nào cả.
Đây là nguồn bổ sung nhân lực cho các CTCK, là lực lượng dự bị tạo ra độ co giãn
để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nhà đầu tư, là môi trường tốt để đào tạo nguồn nhân lực
cho nghề môi giới. Đây cũng là một nhân tố góp phần tạo ra sức cạnh tranh lớn hơn cho
chính các nhà môi giới trên sàn vì họ luôn có áp lực bị thay thế. Cạnh tranh sẽ tạo ra
động lực phát triển, như vậy sẽ không những có lợi cho các CTCK, mà còn có lợi cho
các nhà đầu tư.
1.2.2.2. Môi giới trên thị trường OTC
Một trong những đặc điểm đặc trưng của thị trường OTC là có sự xuất hiện của
Khách hàng đặt
lệnh mua chứng
khoán
Nhân viên môi giới
thông thường
Khách hàng
đặt lệnh bán
chứng khoán
khoán cũng giống như tiền – tức là không có giá trị nội tại. Giá trị của chứng khoán
chính là các cam kết lợi ích mà tổ chức phát hành mang lại với những điều kiện ràng
buộc cụ thể. Thuộc tính gắn liền với chứng khoán là tính sinh lợi, tính rủi ro và tính
thanh khoản. Chính vì những đặc điểm này đã làm chứng khoán trở thành một loại
hàng hóa cao cấp, mà việc xác định giá trị thật không đơn giản. Trên TTCK, không phải
trực tiếp những người muốn mua hay bán chứng khoán trao đổi với nhau mà mọi giao
dịch phải được thực hiện qua khâu trung gian, đó là các công ty chứng khoán. Trung
gian là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTCK để đảm bảo tính trật tự trên thị
trường, hỗ trợ cho công tác quản lý thị trường đồng thời đảm bảo quyền lợi cho nhà đầu
tư. Chính vì thế trên TTCK phải có các nhà môi giới để đảm nhiệm khâu trung gian này.
1.2.3.1. Môi giới chứng khoán là đại diện cho Công ty chứng khoán cũng như cho
khách hàng
Môi trường hoạt động của phòng môi giới là luôn luôn phải tiếp xúc với khách
hàng. Do vậy có thể nói các hoạt động môi giới chính là bộ mặt của công ty. Khi khách
hàng tiếp xúc, tìm hiểu về hoạt động của TTCK thì với các hoạt động môi giới tư vấn
giới thiệu cho khách hàng về các hoạt đông của thị trường nhân viên môi giới sẽ có thể
giúp cho khách hàng đưa ra được các quyết định. Do vậy việc đánh giá ban đầu của nhà
đầu tư đối với hoạt động của CTCK sẽ thông qua việc xem xét hoạt động của bộ phận
môi giới. Vì vậy có thể nói hoạt động môi giới chính là bộ mặt của CTCK. Môi giới
chính là đại diện cho CTCK khi tiếp xúc với khách hàng. Và môi giới cũng sẽ đại diện
cho khách hàng trong việc giao dịch mua bán chứng khoán sau khi đã thực hiện việc tư
vấn cho khách hàng.
1.2.3.2. Giúp giảm chi phí giao dịch
Do lợi thế của chuyên môn hóa được hoạt động trong nghành chứng khoán lên
các CTCK và nghề môi giới giúp giảm thiểu chi phí giao dịch.
Chúng ta thử cùng tìm hiểu một giao dich: Cũng như bất kỳ một thị trường nào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status