Phát triển mạng lưới đại lý tại công ty cổ phần chứng khoán châu Á- Thái Bình Dương - Pdf 23

LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo, PGS.TS. Trần Đăng
Khâm, người đã hướng dẫn em rất nhiều trong các bước, định hướng và chỉ
cách thức để em hoàn thành chuyên đề này.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới cô giám đốc Phạm Hồng Vân và các
anh chị trong phòng phát triển kinh doanh tại công ty cổ phần chứng khoán
châu Á- Thái Bình Dương, những người đã giúp đỡ em trong thời gian thực
tập tại công ty.
1
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Danh sách cổ đông sáng lập và cổ đông nắm giữ trên 5% vốn
cổ phần………………………………………………………………… 40
Bảng 2.2. Nhân sự trong các bộ phận tại trụ sở chính……………... 42
Bảng 2.3. Doanh thu từ các hoạt động kinh doanh chứng khoán năm 2007
……………………………………………………………………… 48
Bảng 2.4. Doanh thu môi giới chứng khoán năm2007…………….. 59
Biểu đồ 1. Mô hình tổ chức hoạt động của công ty cổ phần chứng khoán
châu Á- Thái Bình Dương…………………………………………….. 45
2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT TỪ ĐẦY ĐỦ
APEC Công ty cổ phần chứng khoán châu
Á- Thái Bình Dương
AGRISCO Công ty trách nhiệm hữu hạn chứng
khoán ngân hàng Nông nghiệp và
phát triển nông thôn
BVSC Công ty cổ phần chứng khoán Bảo
Việt
DT Doanh thu
MGCK Môi giới chứng khoán
TTCK Thị trường chứng khoán

Với mục tiêu nghiên cứu như trên, kết cấu của đề tài gồm ba phần
chính:
Chương 1: Mạng lưới đại lý của công ty chứng khoán
Chương 2: Thực trạng phát triển mạng lưới đại lý tại công ty cổ phần
chứng khoán châu Á- Thái Bình Dương
Chương 3: Giải pháp phát triển mạng lưới đại lý tại công ty cổ phần
chứng khoán châu Á- Thái Bình Dương
5
CHƯƠNG 1. MẠNG LƯỚI ĐẠI LÝ CỦA CÔNG TY CHỨNG
KHOÁN
1.1. Khái quát về công ty chứng khoán
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và mô hình tổ chức của công ty chứng
khoán
1.1.1.1. Khái niệm
Để hình thành và phát triển thị trường chứng khoán (TTCK) có hiệu quả,
một yếu tố không thể thiếu được là các chủ thể tham gia kinh doanh trên
TTCK. Mục tiêu của việc hình thành TTCK là thu hút vốn đầu tư dài hạn
cho việc phát triển kinh tế và tạo ra tính thanh khoản cho các loại chứng
khoán. Do vậy, để thúc đẩy TTCK hoạt động một cách có trật tự, công bằng
và hiệu quả cần phải có sự ra đời và hoạt động của các công ty chứng khoán.
Các công ty chứng khoán là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của
nền kinh tế nói chung và của TTCK nói riêng. Nhờ các công ty chứng khoán
mà các cổ phiếu và trái phiếu lưu thông buôn bán tấp nập trên TTCK, qua
đó, một lượng vốn khổng lồ được đưa vào đầu tư từ việc tập hợp những
nguồn vốn lẻ tẻ trong công chúng.
Mỗi doanh nghiệp muốn huy động vốn bằng cách phát hành chứng
khoán, không phải tự họ đi bán số chứng khoán họ cần phát hành. Họ không
thể làm tốt được việc đó do họ không được chuyên môn hóa, họ cần những
nhà chuyên nghiệp, chuyên mua bán chứng khoán cho họ. Đó chính là các
công ty chứng khoán. Với nghiệp vụ chuyên môn hóa, kinh nghiệm nghề

Trong những giao dịch diễn ra trên thị trường tài chính, một bên thường
không biết tất cả những gì cần biết về bên kia để có được những quyết định
đúng đắn. Sự không cân bằng về thông tin mà mỗi bên có được được gọi là
thông tin không cân xứng. Vấn đề thông tin không cân xứng là đặc trưng cơ
bản trên thị trường tài chính. Đây cũng là lý do để các trung gian tài chính và
tài chính gián tiếp đóng vai trò quan trọng trong thị trường. Hơn nữa, TTCK
không giống với thị trường hàng hóa thông thường khác vì hàng hóa của
TTCK là loại hàng hóa đặc biệt, đó là các tài sản tài chính. Các tài sản này
không có hình thái giá trị cụ thế, giá trị của nó do quyền yêu cầu vè thu nhập
của tổ chức phát hành quy định, và vì vậy, giá cả của nó biến động theo thị
trường, rất khó dự đoán chính xác.
Trung gian tài chính được thể hiện:
- Trung gian giao dịch: CTCK đứng ra mua, bán chứng khoán cho các
nhà đầu tư và hưởng phí giao dịch.
- Trung gian thông tin: CTCK có các chuyên gia tư vấn, các chuyên gia
này có nhiệm vụ theo giõi chứng khoán và đề xuất các quyết định mua bán
cho khách hàng. Vì vậy, các báo cáo do các chuyên gia này lập phải được
công bố cho khách hàng của công ty mình. Điều này đồng nghĩa các báo cáo
này cũng được công bố rộng rãi cho công chúng đầu tư. Với đặc điểm trung
gian thông tin, CTCK đã giúp khách hàng có thể tiếp cận được với các thông
tin liên quan đến chứng khoán, như vậy giúp thị trường hoạt động hiệu quả
hơn.
- Trung gian về vốn
- Trung gian về rủi ro
- Trung gian thanh toán
8
- Trung gian đầu tư
CTCK hoạt động trong môi trường xung đột lợi ích: Xung đột lợi ích xảy
ra khi lợi ích của đối tượng này đi ngược lại lợi ích của đối tượng có liên
quan. Các CTCK hoạt động trong môi trường luôn luôn tồn tại xung đột lợi

kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm bên cạnh kinh doanh tiền tệ
cũng như các dịch vụ tài chính khác.
Mô hình này có ưu điểm là ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinh
doanh, nhờ đó giảm thiểu được rủi ro cho hoạt động kinh doanh chung và có
khả năng chịu đựng các biến động của TTCK. Mặt khác, ngân hàng sẽ tận
dụng được các thế mạnh về nguồn nhân lực, nguồn tài chính và mạng lưới
hoạt động để kinh doanh chứng khoán.
Tuy vậy, các công ty hoạt động theo mô hình này có nhược điểm vốn có
của nó là xung đột lợi ích. Các ngân hàng vốn bảo thủ, họ sẽ thích cho vay
hơn là bảo lãnh, tư vấn... Do đó sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà đầu tư.
- Mô hình chuyên doanh chứng khoán
Theo mô hình này, hoạt động chuyên doanh chứng khoán sẽ do các công
ty độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận; các ngân
hàng không được tham gia kinh doanh chứng khoán
10
Mô hình này có ưu điểm là hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng, tạo
điều kiện cho các CTCK đi vào chuyên môn hóa sâu trong lĩnh vực
kinhdoanhchứng khoán để thúc đẩy thị trường phát triển. Mô hình này được
áp dụng ở nhiều nước, đáng chú ý là Mỹ, Nhật, Canada, Hàn Quốc.
Gần đây, các công ty lại có xu hướng quay trở lại mô hình đa năng toàn
phần xuất phát từ nhu cầu của nhà đầu tư cần tiện lợi, nhanh chóng và năng
lực quản lý của Nhà nước ngày càng hiệu quả.
Tại Việt Nam, các CTCK được tổ chức theo mô hình CTCK đa năng một
phần ( CTCK ngân hàng công thương trực thuộc ngân hàng công thương,
CTCK ngân hàng ngoại thương trực thuộc ngân hàng Ngoại thương…) và
CTCK chuyên doanh.
1.1.2. Nguyên tắc hoạt động của công ty chứng khoán
CTCK hoạt động theo 2 nhóm nguyên tắc cơ bản là nhóm nguyên tắc
mang tính đạo đức và nhóm nguyên tắc mang tính tài chính.
1.1.2.1. Nhóm nguyên tắc đạo đức

các trung gian mua bán. Các CTCK sẽ thực hiện vai trò trung gian cho cả
nhà đầu tư và phát hành. Khi đó CTCK đã tạo ra cơ chế huy động vốn cho
nền kinh tế thông qua TTCK.
12
1.1.3.2. Đối với nhà đầu tư
Thông qua các hoạt động như môi giới, tư vấn đầu tư và quản lý danh
mục đầu tư, CTCK có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch, từ đó
giúp nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư. Đối với hàng hoá thông thường,
mua bán qua trung gian sẽ làm tăng chi phí cho người mua và người bán.
Tuy nhiên, trên TTCK sự biến động thường xuyên của giá cả chứng khoán
cũng như mức độ rủi ro cao sẽ làm cho những nhà đầu tư tốn kém chi phí,
công sức và thời gian tìm hiểu thông tin trước khi quyết định đầu tư. Nhưng
thông qua các CTCK, với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ
giúp các nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách hiệu quả.
1.1.3.3. Đối với thị trường chứng khoán
Đối với TTCK, CTCK thể hiện các vai trò chính sau:
- Góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường. Giá cả chứng khoán là do
thị trường quyết định. Tuy nhiên, để đưa ra mức giá cuối cùng, người mua và
người bán phải thông qua các CTCK vì họ không được tham gia trực tiếp vào
quá trình mua bán. Các CTCK là những thành viên của thị trường, do vậy họ
cũng góp phần tạo lập giá cả thị trường thông qua đấu giá. Trên thị trường sơ
cấp, các CTCK cùng với các nhà phát hành đưa ra mức giá đầu tiên. Chính vì
vậy, giá cả của mỗi loại chứng khoán giao dịch đều có sự tham gia định giá
của các CTCK. Các CTCK còn thể hiện vai trò lớn hơn khi tham gia điều tiết
thị trường. Để bảo vệ những khoản đầu tư của khách hàng và bảo vệ lợi ích
của chính mình, nhiều CTCK đã dành một tỷ lệ nhất định các giao dịch để
thực hiện vai trò bình ổn thị trường.
- Góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính. Trên thị
trường cấp 1, do thực hiện các hoạt động như bảo lãnh phát hành, chứng
13

cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại Sở giao
dịch chứng khoán hoặc thị trường OTC mà chính khách hàng phải chịu trách
nhiệm đối với các giao dịch của mình.
- Môi giới tại sở giao dịch chứng khoán
Trên Sở giao dịch chứng khoán có 3 loại môi giới
Thứ nhất: Môi giới lập giá
Đây là những nhà môi giới có nhiệm vụ duy trì sự liên tục của thị trường
cho loại chứng khoán mình phụ trách. Môi giới lập giá có vai trò:
+ Vai trò đại lý của các nhà môi giới: Môi giới lập giá thực hiện lệnh cho
các nhà môi giới đối với loại chứng khoán mà họ phụ trách.
+ Vai trò là nhà đấu giá: Trong toàn bộ phiên giao dịch, nhà môi giới lập
giá sẽ đưa ra một mức giá chào mua, chào bán tốt nhất, trên cơ sở đó đến
đầu mỗi phiên giao dịch, họ thiết lập một mức giá giao dịch hợp lý đối với
từng loại chứng khóan trên cơ sở cùng cầu về loại chứng khoán đó. Hoạt
động này nhằm bảo vệ trật tự thị trường đối với từng loại chứng khoán mà
họ phụ trách, đồng thời hạn chế sự dao động về giá cả của chứng khoán đó.
+ Vai trò là nhà kinh doanh: Họ thực hiện các giao dịch tại một mức giá
nằm trong khoảng giá chào mua cao nhất và giá chào bán thấp nhất. Họ là
người chịu trách nhiệm giảm thiểu sự chênh lệch giữa lệnh mua và lệnh bán.
1
Luật chứng khoán 2006
15
Việc mua bán này được thực hiện theo hướng của thị trường cho đến khi sự
chênh lệch được cân bằng trở lại.
Thứ hai: Môi giới thông thường(môi giới thừa hành): Đây là những nhân
viên của một công ty chứng khoán thành viên của một Sở giao dịch, làm
việc hưởng lương của một công ty chứng khoán và được bố trí để thực hiện
các lệnh mua bán cho các công ty chứng khoán hay cho khách hàng của
công ty trên sàn giao dịch. Họ được gọi chung là môi giới trên sàn.
Thứ ba: Môi giới độc lập (môi giới 2 đô la): chính là các môi giới làm

khoán cho chính mình. Nghiệp vụ tự doanh hoạt động song hành với nghiệp
vụ môi giới, vừa phục vụ lệnh giao dịch cho khách hàng đồng thời cũng
phục vụ cho chính mình. Vì vậy, trong quá trình hoạt động có thể dẫn đến
xung đột lợi ích giữa thực hiện giao dịch cho khách hàng và cho bản thân
công ty. Do đó, luật pháp của các nước đều yêu cầu tách biệt rõ ràng giữa
các nghiệp vụ môi giới và tự doanh, CTCK phải ưu tiên thực hiện lệnh của
khách hàng trước khi thực hiện lệnh của mình.
Theo mục đích đầu tư, có các loại hình tự doanh chứng khoán
17
Thứ nhất: Hoạt động đầu tư nắm quyền kiểm soát
Mục đích của đầu tư ở đây là thao túng và nắm quyền kiểm soát các tổ
chức phát hành do vậy CTCK chấp nhận một chi phí lớn để nắm được quyền
kiểm soát và trong tương lai dễ dàng điều tiết và thu được những nguồn lợi
cao như mong muốn.
Thứ hai: Hoạt động đầu tư phòng vệ
CTCK thực hiện đầu tư phòng vệ nhằm tự bảo vệ trước sự biến động của
giá chứng khoán. Để có thể thực hiện được mục đích của mình, CTCK phải
sử dụng đến các công cụ phòng vệ như option, future, swap,...Các công cụ
này sẽ cho phép CTCK bảo vệ mình trước những sự biến động theo chiều
hướng không thuận lợi của giá chứng khoán.
Thứ ba: Hoạt động đầu tư ngân quỹ
Tiền mặt trong ngân quỹ là loại tài sản không sinh lời. CTCK phải có dự
trữ tiền mặt và các chứng khoán thanh khoản để đảm bảo khả năng thanh
toán. Mua bán chứng khoán với mục đích đầu tư vào ngân quỹ giúp CTCK
vừa đảm bảo được tính thanh khỏan, vừa đảm bảo được khả năng sinh lời.
Thứ tư: Hoạt động đầu tư thu lợi nhuận
+ Hoạt động đầu tư giảm giá
Đầu tư giảm giá là hoạt động đầu tư trong đó CTCK tìm cách gìm giá
chứng khoán xuống để có thể mua vào một lượng tối đa. Hoạt động đầu tư
theo hình thức đầu tư xuống giá trong luật pháp nhiều nước là không cho

chức phát hành hoặc hỗ trợ tổ chức phát hành trong việc phân phối chứng
khoán ra công chúng.
CTCK có thể đứng ra làm đại lý, bảo lãnh phát hành cho các trái phiếu
(trái phiếu chính phủ, trái phiếu của chính quyền địa phương, trái phiếu
doanh nghiệp), cố phiếu và tham gia đấu giá cổ phiếu các doanh nghiệp cổ
phần hóa. CTCK phải đảm bảo đủ yêu cầu về vốn pháp định khi thực hiện
nghiệp vụ này.
1.1.4.4. Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán
Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc công ty chứng khoán cung cấp cho
nhà đầu tư kết quả phân tích, công bố báo cáo phân tích và khuyến nghị liên
quan đến chứng khoán.
Các hoạt động tư vấn của CTCK có thể kể đến ở đây là tư vấn đầu tư
chứng khoán, tư vấn tài chính doanh nghiệp.
Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán được phân loại theo các tiêu chí
sau:
- Theo hình thức của hoạt động tư vấn: bao gồm tư vấn trực tiếp (gặp gỡ
khách hàng trực tiếp hoặc thông qua thư từ, điện thoại) và tư vấn gián tiếp
(thông qua các ấn phẩm, sách báo…) để tư vấn cho khách hàng
- Theo mức độ uỷ quyền của tư vấn: bao gồm tư vấn gợi ý (gợi ý cho
khách hàng về cách thức đầu tư cho hợp lý, quyết định đầu tư là của khách
hàng và tư vấn uỷ quyền (vừa tư vấn vừa quyết định theo sự phân cấp, uỷ
quyền thực hiện của khách hàng)
20
- Theo đối tượng của hoạt động tư vấn: bao gồm tư vấn cho người phát
hành và tư vấn đầu tư cho khách hàng đầu tư trên TTCK về giá, thời gian
mua bán, định hướng lựa chọn các loại chứng khoán…
Tư vấn tài chính doanh nghiệp: Các doanh nghiệp muốn đạt mục tiêu tối
đa hoá giá trị vốn chủ sở hữu thì điều quan trọng là phải xác định được cơ
cấu vốn tối ưu. Do sự chuyên môn hoá trong nền kinh tế phát triển, họ tìm
đến các CTCK để có thể nhận được những tư vấn trong việc xác định cơ cấu

Họat động làm đại lý có 03 đặc điểm cơ bản:
- Bên đại lý là đơn vị: nhận hàng hóa của bên giao đại lý để bán, nhận ủy
quyền của bên giao đại lý để cung ứng dịch vụ thuộc quyền kinh doanh của
bên giao đại lý, hoặc nhận tiền của bên giao đại lý để mua hàng cho bên giao
đại lý.
- Bên giao đại lý là chủ sở hữu đối với hàng hóa hoặc tiền giao cho bên
đại lý.
- Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên đại lý được nhận thù lao làm
đại lý do bên giao đại lý chi trả thông qua một trong các hình thức sau:
hưởng hoa hồng, hưởng chênh lệch giá, hoặc một khoản tiền cụ thể được
quy định trong hợp đồng làm đại lý.
22
- Mối quan hệ giữa các hoạt động của CTCK
CTCK là một tổ chức tài chính trung gian, CTCK đóng vai trò quan trọng
trong việc tạo lập hàng hóa thông qua hoạt động tư vấn phát hành, tư vấn cổ
phần hóa, đại lý, bảo lãnh phát hành. Với sự hỗ trợ của CTCK về mặt
chuyên môn nghiệp vụ, các doanh nghiệp sẽ có thể có được đợt phát hành
đạt kết quả cao. Từ đó chứng khoán của doanh nghiệp sẽ được lưu thông
trên TTCK, tạo tính thanh khoản cho chứng khoán và tạo sự đa dạng về hàng
hóa cho nhà đầu tư có thể lựa chọn. Do các doanh nghiệp có nhu cầu sử
dụng các dịch vụ của CTCK không chỉ tập trung ở nơi CTCK đặt trụ sở mà
còn ở các khu vực địa lý khác. Điều đó đòi hỏi CTCK phải có mạng lưới để
dễ dàng, nhanh chóng tiếp cận với đối tượng khách hàng là các doanh
nghiệp này.
Môi giới chứng khoán là nghiệp vụ trong đó CTCK đứng ra làm trung
gian giao dịch thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng. Nhà đầu tư
có thể là tổ chức hoặc cá nhân. Để có thể tiếp cận được nhà đầu tư và đặc
biệt là nhà đầu tư cá nhân đòi hỏi CTCK phải tạo được một mạng lưới hoạt
động rộng nhằm tiếp cận được với nhóm khách hàng này.
Như vậy, do đối tượng khách hàng là cả nhà đầu tư và tổ chức phát hành,

Điều 14. Đại lý nhận lệnh
1

1. Trong quá trình hoạt động, công ty chứng khoán được lập các đại lý
nhận lệnh tại nơi công ty không có trụ sở chính hoặc chưa có chi nhánh và
phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về hoạt động của đại lý nhận lệnh.
2. Đại lý nhận lệnh được tiến hành nhận, sơ kiểm và chuyển lệnh về trụ sở
chính/chi nhánh công ty chứng khoán theo hợp đồng với công ty chứng
khoán. Đại lý nhận lệnh không được mở tài khoản giao dịch, lưu ký chứng
khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán trực tiếp cho khách hàng.
3. Đại lý nhận lệnh của công ty chứng khoán phải đáp ứng các yêu cầu
sau:
a. Đại lý nhận lệnh của công ty chứng khoán phải là pháp nhân;
b. Có thiết bị công bố thông tin về giao dịch cho khách hàng;
c. Nhân viên nhận lệnh và nhân viên sơ kiểm lệnh của đại lý phải có các
chứng chỉ chuyên môn về chứng khoán quy định tại khoản 1.a và 1.c Điều 31
của Quy chế này.
4. Tối đa là 5 ngày làm việc trước khi đại lý nhận lệnh bắt đầu hoạt động,
công ty chứng khoán phải gửi thông báo (theo Phụ lục số 8 kèm theo Quy chế
này) địa điểm lập, danh sách những người có thẩm quyền sơ kiểm lệnh kèm
theo lý lịch, danh sách các nhân viên nhận lệnh và hợp đồng lập đại lý nhận
lệnh tới UBCKNN.
5. Trong vòng 7 ngày làm việc kể từ ngày đóng cửa đại lý nhận lệnh, công
ty chứng khoán phải gửi thông báo (theo Phụ lục số 8 kèm theo Quy chế này)
kèm theo bản thanh lý hợp đồng lập đại lý nhận lệnh tới UBCKNN.
1
Quyết định số 55/2004/QĐ-BTC ngày 17/06/2004
25

Trích đoạn Tăng giá trị phí giao dịch mà đại lý được hưởng Áp dụng tiến bộ công nghệ trong hoạt động Cung cấp kiến thức chứng khoán cho nhà đầu tư Hướng đến thị trường nước ngoà
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status