Phát triển mạng lưới phân phối của Công ty TNHH ôtô Hoa Mai - Pdf 12

Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay trong xu thế phát triển của thị trường cạnh tranh ngày một gay
gắt và việc tồn tại phát triển là điều mà bất kì doanh nghiệp kinh doanh nào
cũng mong muốn khi ra nhập thị trường kinh doanh tự do như hiện nay. Mục
đích chính của các doanh nghiệp là thu được lợi nhuận và tạo dựng thương
hiệu cho doanh nghiệp trên thương trường. Để làm được điều đó việc lựa
chọn chiến lược marketing mix là một yếu tố doanh nghiệp luôn hướng tới
trong đó chú trọng tới yếu tố phân phối trên thị trường để tạo được lợi thế
cạnh tranh hiệu quả.
Công ty Hoa Mai là một công ty sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực ôtô
một ngành công nghiệp đang có sự biến động rất lớn trên thị trường bởi sự
cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Trong thời gian
hoạt động công ty đã có nhiều đóng góp tích cực cho nên công nghiệp ôtô còn
non trẻ của Việt Nam. Muốn tạo dựng được niềm tin cho khách hàng về sản
phẩm của doanh nghiệp thì yêu cầu mạng lưới phân phối của công ty phải đủ
mạnh, đủ hiệu quả để tạo được uy tín và niềm tin cho khách hàng trong thời
gian hiện tại và tương lai. Xét thấy mạng lưới phân phối của công ty còn có
nhiều bất cập do vậy đó là lý do em đã lựa chọn để tài “Phát triển mạng
lưới phân phối của Công ty TNHH ôtô Hoa Mai” để có thể đưa ra cho doanh
nghiệp một số biện pháp có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của mạng lưới
phân phối trên cơ sở những thực tế hoạt động của mạng lưới phân phối cũ của
doanh nghiệp.
Đề tài này đi vào nghiên cứu thực trạng phát triển mạng lưới phân phối
của công ty trong những năm vừa qua đồng thời đưa ra những biện pháp để
phát triển mạng lưới phân phối một cách khoa học, có chất lượng đảm bảo
doanh nghiệp có ưu thế trong cạnh tranh trên thị trường.
1
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Ngoài lời mở đầu và kết luận chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về phát triển mạng lưới phân phối của doanh

thiết kế và tiêu thụ. Nó là một cam kết của công ty với rất nhiều công ty độc
lập chuyên về phân phối, và đối với thị trường cụ thể mà họ phục vụ. Nó cũng
là một cam kết về một loạt các chính sách và thông lệ tạo lên cơ sở để xây
3
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
dựng rất nhiều những quan hệ lâu dài”. Như vậy kênh phân phối có sức ì rất
lớn nhưng lại có vai trò thực sự đối với các doanh nghiệp vì vậy việc phát
triển mạng lưới phân phối ôtô của công ty sản xuất kinh doanh ôtô sẽ tạo điều
kiện cho phát triển một số lĩnh vực sau:
1.2.1. Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ ôtô
Mạng lưới kinh doanh được ôtô đầu tư nâng cấp phát triển cả về chiều
rộng và chiều sâu – điều này làm cho doanh nghiệp có mặt ở khắp nơi trên
khu vực thị trường trọng điểm. Sự xuất hiện của doanh nghiệp trên thị trường
đó sẽ kích thích tâm lý của người tiêu dùng, cầu tăng cũng là khi thị trường
ôtô có sự tham gia ngày càng nhiều của nhà cung cấp ôtô trên thị trường.
Khách hàng ngày càng được thỏa mãn nhu cầu một cách tốt nhất do đó sản
phẩm sẽ được mua với khối lượng lớn hơn. Ôtô sản xuất ra càng được người
tiêu dùng chấp nhận thì lượng hàng mà nhà sản xuất tung ra trên thị trường
càng nhiều. Điều này đồng nghĩa với việc cỗ máy hoạt động của doanh nghiệp
ôtô càng được bôi trơn, lượng vốn quay vòng ngày một nhiều do lượng đầu ra
đang tăng một cách nhanh chóng. Hoạt động tiêu thụ của một doanh nghiệp
ôtô là sự kết hợp của nhiều khâu, nhiều bộ phận để hướng tới việc bán sản
phẩm ôtô trên thị trường. Khi hệ thống phân phối ôtô phát triển thì dòng lưu
chuyển của sản phẩm ôtô thuận tiện cho cả nhà cung cấp và người tiêu dùng
do vậy sự gia tăng của mức độ tiêu thụ là kết quả đã được hoạch định. Khả
năng phát triển thị trường và kiểm soát thị trường ngày một nâng cao, doanh
nghiệp ôtô sẽ biết được thời gian và địa điểm nào là tốt nhất để tung ra sản
phẩm. Đây chính là vai trò quan trọng của việc có một mạng lưới phân phối
ôtô chuyên nghiệp, rộng lớn…
1.2.2. Nâng cao uy tín thương hiệu cho doanh nghiệp

nhiều lần chuyển quyền sở hữu hàng hóa.
5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
2. Nội dung của việc phát triển mạng lưới phân phối ở doanh nghiệp kinh
doanh ôtô
2.1. Đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh ôtô
Với mỗi doanh nghiệp sản xuất thì sản phẩm của mình sản xuất có đặc
thù riêng do đó có sự đầu tư phát triển, sự hiểu biết riêng. Với doanh nghiệp
kinh doanh ôtô do đây là sản phẩm đòi hỏi nhiều công nghệ vì vậy đặc điểm
của nó cũng khác so với những sản phẩm công nghiệp khác.
2.1.1. Đặc điểm về mặt hàng kinh doanh
Ôtô là mặt hàng thuộc lĩnh vực sản phẩm công nghiệp với sự đầu tư và
đặc điểm tỷ mỉ chi tiết. Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, thực ra họ chưa
phải là nhà sản xuất ôtô mà chỉ là nhà lắp ráp ôtô. Ôtô không chỉ đơn thuần
mua về để sử dụng mà nó còn là phương tiện để làm gia tăng lợi nhuận cho
người sử dụng, nó như là một phương tiện hỗ trợ cho việc kinh doanh các mặt
hàng khác. Thông thường một chiếc xe ôtô có từ 20.000 đến 30.000 chi tiết và
cần tới hàng nghìn nhà cung cấp linh kiện do vậy cần tới hàng nghìn nhà cung
cấp linh kiện. Theo tính toán của các nhà quản lý cho biết, để tránh khỏi lắp
ráp đơn giản, thì một doanh nghiệp ôtô cần tối thiểu 20 nhà cung cấp với
nhiều loại linh kiện khác nhau. Một chiếc ôtô được lắp ráp thành công phải sử
dụng rất nhiều linh kiện và đòi hỏi đội ngũ cán bộ công nhân viên có tay nghề
kĩ thuật cao, cơ sở hạ tầng và công nghệ sản xuất lắp ráp phải hiện đại.
2.1.2. Đặc điểm về thị trường kinh doanh
Trong bối cảnh hội nhập WTO các Doanh Nghiệp sản xuất và lắp ráp ôtô
Việt Nam đang đứng trước những cơ hội và thách thức lớn. Do ngành công
nghiệp ôtô Việt Nam hiện nay chỉ là ngành công nghiệp non trẻ, kĩ thuật giản
đơn và thị trường chỉ là thị trương nội địa mà chưa thể cạnh tranh trên thị
trường thế giới. Với các loại xe khác nhau thì thị trường hoạt động cũng khác
6

trường mới được mở ra với cả cơ hội và nguy cơ đang đợi doanh nghiệp ở
phía trước. Nhưng không phải vì những nguy cơ đang tồn tại mà doanh nghiệp
bỏ dở thị trường bởi lẽ đó cũng là một phương pháp làm doanh nghiệp mất đi
cơ hội đưa doanh nghiệp ôtô phát triển vượt đối thủ cạnh tranh.
2.2.2. Tăng doanh số bán sản phẩm
Mạng lưới phân phối ôtô càng phát triển thì làm cho sản phẩm ôtô càng
có cơ hội đáp ứng được những yêu cầu của người mua, nghĩa là thực hiện một
phần công việc của nhà sản xuất. Khi đó giá trị lợi ích của khách hàng được
thỏa mãn một cách tối ưu nhất, chính điều này sẽ tác dụng vào dòng lưu
chuyển hàng hóa của doanh nghiệp làm cho cỗ máy lưu thông được bôi trơn.
Doanh số bán ra của doanh nghiệp ôtô sẽ ngày một tăng lên cùng với sự phát
triển của hệ thống phân phối ôtô chuyên nghiệp. Thị trường càng được mở
rộng thị lượng sản phẩm ôtô được tiêu thụ ngày càng nhiều bởi quy mô thị
trường lớn lên khả năng sản phẩm ôtô đến tay người tiêu dùng thuận tiện.
Doanh số bán sản phẩm tăng lên là điều mà các doanh nghiệp mong muốn khi
đầu tư vào việc phát triển mạng lưới phân phối. Doanh số tăng đồng nghĩa với
uy tín và lợi nhuận của doanh nghiệp kinh doanh ôtô cũng tăng lên rõ rệt. Đây
là mục tiêu cuối cùng mà các doanh nghiệp sản xuất ôtô muốn hướng tới và
tìm mọi cách để đạt được điều đó nều muốn tồn tại, phát triển trong môi
trường cạnh tranh gay gắt như ngày nay.
2.3. Các kênh phân phối ở doanh nghiệp kinh doanh ôtô
2.3.1. Phân phối trực tiếp
Kênh phân phối trực tiếp là kênh đơn giản và rõ ràng nhất là kênh người
sản xuất bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng – kênh này còn gọi là kênh
ngắn, kênh trực tiếp hay kênh zero.
8
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Sơ đồ 1.1: Kênh phân phối giản đơn
Theo kênh này các công ty sẽ sử dụng lực lượng bán hàng của doanh
nghiệp và chịu trách nhiệm về tất cả các chức năng của kênh phân phối.

nhiều chức năng kênh khác nhau bao gồm các các khâu như: bán, lưu kho,
phân phối và tín dụng. Theo đó nhà PPCN trong kênh này giống như nhà bán
buôn hàng hóa, là nơi tập trung hàng của nhà sản xuất để đưa tới tận tay người
tiêu dùng. Trong kênh này nhà PPCN có vai trò to lớn trong việc tiêu thụ hàng
hoá hay đây chính là nơi nhà sản xuất tiếp xúc với thị trường tiêu thụ.
Kênh phân phối B có thêm người trung gian thứ hai đó là đại lý hoạt
động như một lực lượng bán hàng độc lập của nhà sản xuất và là người giới
thiệu nhà sản xuất tới người sử dụng công nghiệp (SDCN). Đại lý này hoạt
Nhà sản
xuất
Nhà
PPCN
Người
SDCN
Nhà sản
xuất
Đại lý
Người
SDCN
Nhà sản
xuất
Đại lý
Nhà
PPCN
Người
SDCN
10
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
động tách biệt với nhà sản xuất nhưng đây lại chính là người sẽ đem lại cho
nhà sản xuất khách hàng tiềm năng, lợi nhuận cho doanh nghiệp.

là sự kết hợp giữa các thành viên trong cùng một mạng lưới thành một thể
thống nhất để tạo dựng một mạng lưới phân phối chuyên nghiệp phù hợp với
nhu cầu ngày càng phát triển của thị trường. Đó là sự phát triển một số hình
thức:
2.4.2.1. Phát triển lực lượng bán hàng của doanh nghiệp
Lực lượng bán hàng của doanh nghiệp là một nhân tố quyết định việc
phát triển mạng lưới phân phối với quy mô như thế nào để đáp ứng tốt nhất
yêu cầu của thị trường, tạo uy tín và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nguồn
lực của doanh nghiệp sẽ quyết định việc doanh nghiệp thực hiện chức năng
phân phối nào và phải nhường cho các thành viên kênh khác những chức năng
nào. Chính điều này tạo nên sức mạnh vô hình của doanh nghiệp trong quá
trình hoạt động của mình. Ngày nay khách hàng rất khắt khe và có nhiều
người cung ứng hơn để lựa chọn do đó họ kì vọng nhân viên bán hàng có hiểu
biết sâu sắc về sản phẩm, có thể góp ý để cải tiến nhận thức của khách hàng,
và làm việc có hiệu suất đáng tin cậy hơn. Và đội ngũ bán hàng đôi khi lại là
người giữ chân khách hàng, tạo ra khách hàng tiềm năng cho các doanh
nghiệp kinh doanh. Để đào tạo đội ngũ bán hàng của doanh nghiệp cần quan
tâm tới vấn đề đào tạo đội ngũ bán hàng chuyên nghiệp đòi hỏi có sự đầu tư
lớn cho việc huấn luyện. Các khóa huấn luyện của doanh nghiệp cho nhân
viên bán hàng trực tiếp cũng như nhân viên bán hàng qua đại lý phải đạt được
mục đích cụ thể:
12
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
- Các nhân viên bán hàng phải hiểu biết về sản phẩm của công ty do đó
trong thời gian huấn luyện học viên sẽ được giới thiệu quá trình sản xuất ra
sản phẩm và chức năng cũng như cách sử dụng của sản phẩm đó
- Các đại diện bán hàng cần hiểu biết về đặc điểm của đối thủ cạnh tranh
và đặc điểm của khách hàng trên thị trường công ty đang hoạt động. Họ sẽ
được trang bị kiến thức về nhu cầu, động lực, thói quen mua sắm của khách
hàng. Tìm hiểu về chính sách, chiến lược của công ty cũng như các đối thủ

để doanh nghiệp có thể quảng cáo sản phẩm của mình. Với hình thức khuyến
mãi thì các doanh nghiệp kinh doanh tặng kèm sản phẩm với sản phẩm chính
mà doanh nghiệp mình bán ra. Đây cũng là biện pháp làm tăng sức mua của
khách hàng với sản phẩm cốt lõi của doanh nghiệp.
3. Các nhân tố ảnh hưởng tới việc phát triển mạng lưới phân phối ở doanh
nghiệp kinh doanh ôtô
3.1. Các nhân tố khách quan
3.1.1. Nhu cầu của khách hàng
Với nền kinh tế phát triển ngày càng nhanh như hiện nay thì nhu cầu
của người tiêu dùng về phương tiện ôtô ngày một gia tăng. Cuối năm 2006
đầu 2007 nhu cầu ôtô bắt đầu tăng được lý giải là do thị trường chứng khoán
bùng nổ, nhiều cá nhân trúng lớn đổ tiền mua xe, làm cho thị trường ôtô khởi
sắc. Kết thúc 2007, thị trường ôtô Việt Nam lập kỷ lục mới với hơn 100.000
xe đã được tiêu thụ. Trong đó các DN trong nước tiêu thụ 80.392 xe và nhập
khẩu 28.000 xe. Mặc dù có mức tiêu thụ xe tăng kỷ lục, nhưng chưa thấm vào
đâu so với nhu cầu vẫn đang tăng cao. Trong những tháng cuối năm, cả xe sản
xuất trong nước lẫn xe nhập khẩu, cả xe con lẫn xe tải đều bán rất chạy và
nhiều mẫu xe đang trong tình trạng cháy hàng. Nhận định về thị trường ôtô
năm 2008 nhiều nhà sản xuất cho rằng nửa đầu năm 2008 vẫn sẽ rất sôi động.
14
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Đầu năm 2008 đầu tư và xuất khẩu tăng sẽ tác động tích cực tới thị trường ôtô
Việt Nam và sức mua cũng vẫn tăng lên. Chính nhu cầu này của thị trường ôtô
mà các doanh nghiệp kinh doanh ôtô đang có cơ hội phát triển, đẩy nhanh tốc
độ sản sản xuất. Dù sao, các nhà sản xuất ôtô cũng đang kỳ vọng vào tương
lai của thị trường Việt Nam, bởi họ đánh giá đây là thị trường khá tiềm năng
do tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao, ổn định, tỷ lệ người có xe hơi còn rất thấp.
3.1.2. Đối thủ cạnh tranh
Với doanh nghiệp kinh doanh ôtô trên thị trường Việt Nam như hiện nay
thì đối thủ cạnh tranh chính là ôtô nhập khẩu vào thị trường. Sau khi Việt

các năm tiếp theo. Tuy nhiên nền kinh tế Việt Nam không tranh khỏi những
yếu kém của một nền kinh tế non trẻ đang giai đoạn phát triển như: Năng suất,
chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm và của cả nền kinh tế tuy đã có
bước tiến bộ nhưng vẫn còn thấp; Bội chi ngân sách nhà nước tuy vẫn trong
giới hạn cho phép, nhưng tỷ lệ này còn khá cao và đã kéo dài trong nhiều
năm, chưa có chiều hướng.
3.1.4. Môi trường luật pháp
Nhà nước áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu cao đối với ôtô nguyên chiếc
và thuế suất thấp đối với bộ linh kiện là nhằm mục đích bảo hộ, tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp trong nước phát triển. Theo tính toán, ôtô sản xuất trong
nước hiện vẫn được bảo hộ về thuế khoảng 100-230% so với xe nhập
khẩu; riêng với loại ôtô trên 24 chỗ ngồi và xe tải có mức bảo hộ là 100%.
Thuế tiêu thụ đặc biệt 26% với ôtô như hiện nay cũng là mức thấp nhất so với
các nước lân cận (khoảng 30-40%). Tuy vậy, việc bảo hộ này chưa mang lại
hiệu quả cho ngành ôtô. Đến nay, ngành công nghiệp sản xuất phụ tùng xe ôtô
hầu như vẫn chưa có, và tỷ lệ nội địa hóa đạt không tới 10%, dù các DN ôtô
16
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
đã cam kết sẽ đạt tỷ lệ nội địa hóa từ 30-40% sau mười năm đầu tư vào Việt
Nam. Do vậy, Nhà nước gia hạn thời gian áp dụng biện pháp ưu đãi, bảo hộ
đến hết 2006 theo lộ trình giảm dần: 2004: 70%, 2005: 50%, 2006:30% và
năm 2007 sẽ bãi bỏ hoàn toàn. Bên cạnh đó, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ôtô
cũng sẽ dần tăng lên.
Với doanh nghiệp lắp ráp thì QĐ 115 (quyết đinh số 115/2004 QĐ –
BCN của Bộ Công Nghiệp) quy định tiêu chuẩn với các doanh nghiệp lắp ráp
ôtô trên thị trường Việt Nam. Với quyết định này của Bộ Công Nghiệp đã làm
giảm thiểu các doanh nghiệp muốn tham gia vào thị trường lắp ráp ôtô và
cũng đòi hỏi các doanh nghiệp đã và đang thực hiện chức năng sản xuất ôtô
phải đầu tư cơ sở hạ tầng nâng cao năng lực sản xuất nếu muốn tồn tại và phát
triển được.

nước hay nhập khẩu nước ngoài mới bắt buộc phải tuân thủ theo các tiêu
chuẩn Việt Nam tương đương với tiêu chuẩ EURO 2 đối với từng loại xe.
Theo quy định của Nhà nước thì mức tiêu chuẩn khí thải là giới hạn tối đa của
khí thải xe cơ giới được phép thải ra môi trường. Mức "Euro 2" là một trong
các mức của bộ Tiêu chuẩn khí thải châu Âu quy định giới hạn tối đa cho
phép của khí thi áp dụng đối với các loại xe cơ giới sản xuất, lắp ráp và xe
nhập khẩu xe mới do Liên minh châu Âu quy định, và được quy định trong
các Tiêu chuẩn Việt Nam tương ứng. Với các loại xe đã và đang lưu hành thì
không áp dụng Euro 2 mà áp dụng tiêu chuẩn khác (TCVN 6438) có mức giới
hạn khí thải và phương pháp đo khí thải khác với tiêu chuẩn châu Âu, được
kiểm tra định kỳ tại các trạm đăng kiểm trên cả nước.
3.2. Các nhân tố chủ quan
3.2.1. Lực lượng bán hàng của doanh nghiệp
Các doanh nghiệp đã đầu tư cho hoạt động của lĩnh vực kinh doanh đặc
biệt là các nhân viên trong dich vụ bán sản phẩm. Đã có sự đầu tư về nghiên
cứu thị trường, tìm kiếm khách hàng tiềm năng và bán ôtô cho nhà sản xuất.
18
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Đội ngũ bán hàng của các doanh nghiệp đã được đào tạo bài bản và quy trình
bán hàng nhưng đôi khi quy trình bán hàng còn nhiều rắc rối. Đây là một trở
ngại cho sản phẩm của doanh nghiệp được người tiêu dùng biết đến dẫn tới việc
tiêu thụ mặt hàng này. Tuy vậy có thể khắc phục được khó khăn này giúp cho
doanh nghiệp mở rộng thị trường kinh doanh dẫn đến chiếm lĩnh thị trường.
3.2.2. Cở sở hạ tầng của doanh nghiệp
Đây chính là điều kiện để một doanh nghiệp có thể tiến hành sản xuất
kinh doanh để thu được lợi nhuận. Với các doanh nghiệp sản xuất ôtô ở Việt
Nam đây chính là điều kiện về nhà xưởng, máy móc trang thiết bị, nhân công,
vốn…để có thể đưa vào hoạt động kinh doanh. Cơ sở hạ tầng càng cao thì
càng thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh bởi có một nền tảng vững
chắc là một yếu tố tạo dựng lên một thương hiệu mạnh trên thị trường cạnh

3.2.3. Chất lượng sản phẩm kinh doanh
Chất lượng của sản phẩm ôtô là tổng hợp các tính chất, đặc trưng của sản
phẩm tạo nên giá trị sử dụng của nó đem lại cho khách hàng sự thỏa mãn tốt
nhất. Nói một cách cụ thể đó là những thông số kĩ thuật tạo lên một chiếc ôtô,
những tính năng, không gian tạo cho nó có giá trị sử dụng thuận tiện. Chất
lượng ở đây không chỉ đơn thuần là giá trị sử dụng mà còn bao hàm cả giá cả
và dịch vụ làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng mà doanh nghiệp có thể đáp
ứng được. Hiện nay ngành công nghiệp ôtô Việt Nam đang trong tình trạng
công nghệ lắp ráp của doanh nghiệp ôtô trong nước thấp, tỷ lệ nội địa hóa thấp
do đó sản phẩm sản xuất ra tuy không cao nhưng cũng đã đáp ứng được một
phần nhu cầu của người tiêu dùng. Chất lượng sản phẩm các loại xe đã được
áp dụng các công nghệ mới, tiêu chuẩn hoạt động ISO do vậy chất lượng ngày
càng được nâng cao nhưng vẫn còn một số bất cập. Có một thực tế là giá
thành sản xuất xe trong nước cao hơn 1,5- 2 lần giá xe ở các nước trong khu
vực và gấp 2,5 lần so với xe sản xuất ở chính hãng. Nguyên nhân chủ yếu là
do chi phí đầu vào quá cao, tỷ lệ nội địa hóa thấp.
20
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI PHÂN
PHỐI Ở CÔNG TY TNHH ÔTÔ HOA MAI
1. Tổng quan về công ty TNHH ôtô Hoa Mai
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty
Tên giao dịch: công ty TNHH ôtô Hoa Mai
Tên giao dịch quốc tế: Hoa Mai automobile assembly & manufacturing
co.,LTM
Trang wed: www. otohoamai.com
Công ty TNHH ôtô Hoa Mai được thành lập theo quyết định số 001507/
UBQĐ ngày 16/10/1993 ( trước đó là xí nghiệp cơ khí Hoa Mai).
Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh lần đầu số 040162 ngày

chất lượng trực tiếp của sản phẩm cũng như khâu dịch vụ với khách hàng.
Ngày càng mở rộng thị trường về ôtô tải, xây dụng Hoa Mai trở thành công ty
có thị phần lớn trên cả nước. Hoa mai người bạn trên mọi nẻo đường
1.3. Lĩnh vực hoạt động của công ty
- Sản xuất chi tiết, lắp ráp phương tiện ôtô vận tải theo hồ sơ thiết kế đã
được các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Sản phẩm chủ yếu là các loại vận
tải đường bộ
- Lắp ráp, đóng mới cá phương tiện vận tải đường bộ cụ thể là các loại
xe tải ben tự đổ các loại gồm: 1 tấn, 2 tấn, 3 tấn, 4,5 tấn, 4,65 tấn, 5 tấn.
Những loại xe này được được lắp ráp dạng IKD sử dụng phổ biến trên cả
nước.
- Ngoài ra công ty còn mở thêm dịch vụ nông lâm ngư ngiệp và kinh
doanh khách sạn. Hai dịch vụ này chỉ là những lĩnh vực kinh doanh phụ
không phải là ngành doanh thu chính của công ty những nó cũng góp phần
tăng thêm thượng hiệu Hoa Mai cho doanh nghiệp
1.4. Cơ cấu tổ chức của công ty
22

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty TNHH ôtô Hoa Mai
Giám đốc
PGĐ kĩ thuật- vật tư PGĐ kinh doanh/qrm
Nhà máy lắp ráp ô

Siêu thị máy nông
dụng
Dịch vụ khách sạn Kiốt xăng dầu
Quản đốc P.Kế toán P.HC- VP
P.KH- KT
P.KCS,
k. định/QA

nhíp
tổ máy
cắt
tổ hoàn
thiện CB
tổ cắt hơi
Tổ bảo hành
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
1. Giám đốc công ty : Ông Phạm Quốc Vũ
- Là người đại diện của công ty trước pháp luật
- Quản lý về tài chính, lao động, quản lý bộ máy tổ chức, quản lý hoạt
động của toàn công ty
-Đề ra các chính sách chiến lược, có trách nhiệm đảm bảo và duy trì
nguồn lực trong công ty để thực hiện có hiệu quả hoạt động kinh doanh
-Xem xét, kiểm tra, phê duyệt ban hành các hoạt động của hệ thống quản
lý chất lượng
- Là người đưa ra các quyết định cuối cùng về toàn bộ hoạt động của
công ty
2. Phó giám đốc kĩ thuật: Ông Phạm Văn Chúc
-Chịu trách nhiệm về toàn bộ công tác kĩ thuật, cung cấp vật tư, xuất
nhập khẩu hàng hoá
-Trực tiếp kiểm soát công tác điều hành sản xuất tại nhà máy theo tiến độ
của công tác kinh doanh
-Phụ trách công tác bảo đảm an toàn lao động và vấn đề vệ sinh công
nghiệp của toàn thể nhà máy
3. Phó giám đốc kinh doanh: Ông Phạm Quốc Thư
-Phụ trách toàn bộ công tác tiếp thị, bán sản phẩm và quản lý đại lý.
- Giải quyết các khâu khiếu nại của khách hàng liên quan đến sản phẩm
của công ty cung cấp
- Phụ trách đại diện của lãnh đạo về chất lượng của sản phẩm

25

Trích đoạn Khỏi quỏt thực trạng sản xuất kinh doanh của cụng ty ụtụ HoaMai Thực trạng phỏt triển mạng lưới phõn phối của cụng ty ụtụ HoaMai Đỏnh giỏ về thực trạng mạng lưới phõn phối của cụng ty ụtụ Hoa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status