Quản lý và quy hoạch hoạt động hệ thống chợ Quận Cầu Giấy. - Pdf 12

LỜI NÓI ĐẦU
Với tổng số gần 8.300 chợ vào thời điểm hiện tại, có thể nói bình
quân mỗi xã, phường ở nước ta đã "gánh" một đầu chợ. Bức tranh chợ Việt
Nam khá đa dạng, tạo thêm một kênh giao thông cả ở hai thị trường nội và
ngoại địa. Vậy nhưng, hệ thống chợ Việt Nam dường như vẫn thiếu bàn tay
một "tổng đạo diễn". Dù đã khá lớn về số lượng, song hệ thống chợ Việt
Nam hiện còn nhiều bất cập từ cơ sở vật chất, quy mô, mật độ phân bổ đến
phương thức buôn bán, hiệu quả, quản lý… Chính vì vậy, Bộ Thương mại
(nay là Bộ Công Thương) đã xây dựng một chương trình phát triển chợ đến
năm 2020, trong đó quan trọng nhất là các chợ, siêu thị, trung tâm bán
buôn, bán lẻ và trung tâm thương mại, đặc biệt ưu tiên phát triển chợ đầu
mối nông sản tập trung bán buôn phát luồng. Đây sẽ là tiền đề từng bước
phát triển các sàn giao dịch hàng hoá, chợ đấu giá, trung tâm mua bán…
Đối với khu vực nội thành, chợ hiện nay vẫn có vai trò quan trọng
đối với các loại hàng hóa như thực phẩm tươi sống, trái cây, đồ gia vị và
nhiều loại hàng hóa khác. Mặc dù mạng lưới siêu thị, cửa hàng bán lẻ xuất
hiện nhiều nhưng chưa thể thay thế được vai trò của chợ đối với những mặt
hàng này. Mặt khác, tổng mức hàng hóa bán ra ở các chợ nội thành vẫn
chiếm tỷ trọng lớn, góp phần quan trọng vào việc tiêu thụ hàng hóa sản
xuất ra cũng như đóng góp cho ngân sách, giải quyết công ăn việc làm, hạn
chế phát sinh các chợ tự phát. Hơn nữa, siêu thị chưa tỏ ra thích hợp với
một bộ phận lớn dân cư có thu nhập thấp, hàng ngày phải đi chợ mua thực
phẩm. Chợ ở các khu vực nội thành còn là nơi hấp dẫn khách du lịch trong
và ngoài nước đến tham quan, mua sắm. Như vậy, chợ còn là nơi góp phần
tạo nên bản sắc văn hóa truyền thống của thành phố.
Tuy nhiên hoạt động của hệ thống chợ hiện nay còn nhiều bất
cập. Tình trạng mất Vệ sinh anh toàn thực phẩm còn phổ biến, một số chợ
được xây dựng và quy hoạch chưa được hợp lý. Trong những năm gần đây,
số lượng chợ tự phát mọc lên nhiều gây mất trật tự, tắc nghẽn giao thông,

Quá trình nghiên cứu và tìm hiểu lý thuyết về quản lý và quy

trường mỗi vùng, nhất là vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng biên
giới và tập trung nhiều nhất ở các vùng đô thị các thành phố lớn.
Khái niệm về chợ truyền thống, chợ tự phát :
Theo ngành thương mại dùng ước lệ gọi chợ truyền thống và chợ
tự phát (không truyền thống)
- Chợ truyền thống là chợ được xây dựng từ nhiều chục năm trước
đây, đa phần là theo quy hoạch phù hợp với dân số dân cư lúc bấy giờ.
- Chợ tự phát là chợ buôn bán chiếm lòng lề đường đa số mới phát
sinh trong khoảng từ ba bốn năm trở lại đây, nhiều nhất là từ 1999 tới nay.
Do từ 1996 tới nay dân số của thành phố tăng nhanh (tăng cơ học), nhưng
chủ yếu là do quản lý trật tự lòng lề đường của phường, quận còn buông
lỏng, thiếu cương quyết giải tỏa sắp xếp theo quy hoạch.
Khái niệm về chợ theo quy định của Nhà nước :
Theo Thông tư 15-TM/CSTTTN ngày 16/10/1996 của Bộ
Thương mại : “Chợ là mạng lưới thương nghiệp hình thành và phát triển
cùng với sự phát triển của nền kinh tế-xã hội”.
Theo Nghị định 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính phủ
về phát triển và quản lý chợ :
3
(1) Phạm vi chợ : là khu vực kinh doanh dành cho hoạt động chợ,
bao gồm diện tích để bố trí các điểm kinh doanh, khu vực dịch vụ (như :
bãi để xe, kho hàng, khu ăn uống, vui chơi giải trí và các dịch vụ khác) và
đường bao quanh chợ.
(2) Chợ đầu mối : là chợ có vai trò chủ yếu, thu hút, tập trung lượng
hàng hóa từ các nguồn, sản xuất, kinh doanh của khu vực kinh tế hoặc của
ngành hàng để tiếp tục phân phối tới các chợ và các kênh lưu thông khác.
(3) Chợ kiên cố : là chợ được xây dựng bảo đảm có thời gian sử
dụng trên 10 năm.
(4) Chợ bán kiên cố : là chợ được xây dựng đảm bảo có thời gian sử
dụng từ 5 năm đến 10 năm.

- Loại 2 : là chợ có trên 200 điểm kinh doanh(*), được đầu tư xây
dựng kiên cố hoặc bán kiên cố theo quy hoạch ; được đặt ở trung tâm giao
1
Theo Nghị định 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính phủ về phát triển và quản lý chợ
(*)
Điểm kinh doanh ≥ 3m
2
4
lưu kinh tế của khu vực và được tổ chức họp thường xuyên hay
không thường xuyên ; có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt
động chợ và tổ chức các dịch vụ tối thiểu tại chợ : trông giữ xe, bốc xếp
hàng hóa, kho bảo quản hàng hóa, dịch vụ đo lường.
- Loại 3 : là các chợ dưới 200 điểm kinh doanh(*) hoặc các chợ
chưa được đầu tư xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố ; chủ yếu phục vụ nhu
cầu mua bán hàng hóa của nhân dân trong xã, phường và địa điểm phụ cận.
2.2- Phân loại chợ theo chức năng kinh doanh :
Chợ bán buôn : Các chợ này có doanh số bán buôn chiếm tỷ trọng
cao trên 60-70%, đồng thời vẫn có bán lẻ nhưng tỷ trọng nhỏ. Thướng tập
trung bán buôn ở các chợ cấp vùng và cấp thành phố.
Chợ chuyên doanh : là chợ chuyên kinh doanh một mặt hàng chính
yếu, mặt hàng này thường chiếm doanh số trên 60% đồng tời có bán một số
mặt hàng khác, các loại hàng khác có doanh số dưới 40% tổng doanh thu.
Nhiều chợ chỉ chuyên doanh một hoặc một nhóm mặt hàng nhất định, như
chợ hoa tươi, chợ vật liệu xây dựng, chợ cá biển, chợ rau quả, chợ cây
cảnh, chợ tôm, chợ giống, chợ bò sữa,…
Chợ bán lẻ : là chợ bán chủ yếu cho doanhngười tiêu dùng trực tiếp
hàng ngày.
Chợ phiên : thời gian họp chợ diễn ra vào một thời gian nhất định
trong ngày, như buổi sáng, buổi chiều, buổi tối.
3. Vai trò của chợ đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.

trường tập trung, được hình thành sau thị trường phi tập trung nhưng càng
có ý nghĩa trong đời sống kinh tế - xã hội của mọi quốc gia.
Thị trường tập trung là thị trường hoạt động có tổ chức, hình
thành với tính chất tự giác của con doanhngười, nó đã tồn tại và phát triển
cùng với các hình thái kinh tế xã hội khác nhau của văn minh nhân loại.
Thị trường tập trung, nói nôm na, chính là các chợ trong dân gian từ xưa
đến nay và đã phát triển qua nhiều thời kỳ. Mặc dù ngày nay hình thái chợ
tập trung đã mang nhiều tính chất hiện đại như siêu thị nhưng một số nơi
vẫn tồn tại các hình thái chợ cổ điển. Từ thời Trung cổ, các chợ này được
nhóm họp theo từng thời điểm nhất định do những doanhngười tham gia tự
đặt ra, doanhngười ta gọi là đi chợ phiên. Các phiên chợ nhóm họp theo
tuần trăng, hay một ngày nào đó trong tuần, hoặc bao năm họp một lần,…
với những hàng hóa mua bán chuyên biệt cho một loại hàng, hoặc một số
loại hàng nhất định (chợ tơ lụa, chợ muối, chợ gỗ,…), hoặc tạp phẩm - rất
nhiều mặt hàng lương thực thực phẩm; cho đến đồ gốm mỹ nghệ kim
khí, .... Sau này, khi mà khoa học kỹ thuật tiến bộ hơn, dân số gia tăng, nhu
cầu cung ứng những sản phẩm thiết yếu của đời sống cũng gia tăng và
ngày càng đa dạng thì sự nhóm họp chợ cũng trở nên thường xuyên hơn,
những chợ phiên này dần dần có nhu cầu nhóm họp tăng lên và có cơ cấu
tổ chức cũng như quản lý hoàn chỉnh chặt chẽ hơn.
Các chợ tập trung là nơi diễn ra sự đáp ứng cung cầu hàng hóa ở
một mức giá tốt nhất với cơ chế ra giá và thỏa thuận giá cũng đã phát triển
có nhiều hình thức khác nhau, ví dụ như ở các chợ buôn nô lệ - một dạng
chợ đấu giá hàng hóa - giúp hoàn thiện phương cách đấu giá từ đây. Cùng
với đó là các phương thức thanh toán cũng ngày một phong phú và đa dạng
hơn phù hợp với sự phát triển các ngành liên quan trong giao dịch thương
mại, biểu hiện cho những trình độ văn minh nhất định của địa phương đó.
Ban đầu chỉ là phương thức đơn giản là “tiền trao, cháo múc”. Về sau, vì
nhiều lý do khác nhau, như khi khối lượng thương mại cần giao dịch gia
6

doanhngười dân trong vùng và nơi cung cấp hàng hóa cho các tỉnh thành
trong cả nước. Ở những thành phố lớn như: thành phố Hồ Chí Minh, Hà
Nội, Đà Nẵng… có nhiều chợ bán buôn, chuyên doanh, chuyên cung cấp
hàng hóa từ hàng tiêu dùng, thực phẩm chế biến, hàng may mặc, hàng điện
tử đến vật tư nguyên liệu phục vụ sản xuất cho các tỉnh, thành trong cả
nước. Hàng hóa tập trung về các chợ bán buôn từ rất nhiều nguồn khác
nhau : hàng sản xuất từ các doanh bán trong nước, hàng nhập khẩu, hàng
mua trôi nổi trên thị trường do thân nhân ở nước ngoài gởi về hay do thủy
thủ tàu viễn dương mua về,… Nếu không có mạng lưới các chợ bán buôn
của thành phố, hàng hóa ở các tỉnh chắc chắn sẽ không đáp ứng đủ nhu cầu
doanhngười tiêu dùng cả về số lượng lẫn chất lượng.
7
Tuy nhiên, cần phải thấy được vai trò nòng cốt của các chợ tập
trung là nó phục vụ cho ai, ai sẽ đến đây sử dụng các phương tiện này và ai
sẽ điều hành các hoạt động này. Đó chính là các thành viên tham gia thị
trường. Thị trường hàng hóa tập trung đầu tiên ra đời để phục vụ nhu cầu
tiêu thụ nông sản của nhà nông, giúp cho họ tránh được các rủi ro từ những
đặc tính của hàng hóa nông sản. Sau dần, nó trở thành một công cụ cho
những nhà kinh doanh và đầu cơ hàng hoá. Thành phần này của thị trường
đến giai đoạn sau lại trở thành nhân tố tiền đề để thiết lập nên những sàn
giao dịch khác, tạo thành một chuỗi của những sàn giao dịch tập trung trên
thế giới. Họ là những nhà buôn chuyến, những nhà thu mua hàng, những
doanhngười tập trung nguồn hàng lại để chờ và định một mức giá cao nhất
bán ra. Việc thu mua hàng và tập trung hàng không chỉ là hàng hóa vật chất
có thực, mà họ sẽ mua là làm giá bán trước (mua kỳ hạn hay giao sau, bán
kỳ hạn hoặc giao sau) khi có hàng hóa vật chất thực trong tay. Thể thức
kinh doanh này là một cơ chế giúp bình ổn giá nông sản cực kỳ hữu hiệu.
Nó không để xảy ra tình trạng khủng hoảng các mặt hàng được niêm yết
với những mức giá có thể gây lũng đoạn – tổn hại đến thị trường nói
chung. Mặt khác, với phương thức làm giá là đấu giá công khai theo các

mức giá chung, để được “lót tay” hay “thối lại” bằng hình thức hoa hồng
công khai và bán công khai – đó là một dạng tham nhũng vẫn chưa được
lật mặt trong nền kinh tế nước nhà.
Đây tưởng chừng là một nghịch lý của cơ chế hoạt động chơ tập
trung hay hình thái thị trường chăng. Nói một cách khác, các thành viên
tham gia thị trường tập trung là chưa sẵn sàng với điều kiện của nền kinh tế
Việt Nam hiện nay. Như vậy, bằng cách nào để thị trường hàng hóa tập
trung trở nên hữu hiệu đối với nền kinh tế, thực sự là một cơ chế đắc dụng
để phòng chống rủi ro, đó chính là khi nhà nước chấm dứt bù gía và bù lỗ
cho các doanh bánnghiệp nhà nước kinh doanh cùng ngành, tạo sự một sân
chơi thực sự công bằng. Mặt khác, sàn giao dịch tập trung không phải là
một định chế nhà nước, nó phải được tạo lập từ nhu cầu thiết thực của các
hiệp hội và nghiệp đoàn kinh doanh trong ngành hàng. Họ sẽ tự tố chức sân
chơi đó cùng nhau, họ sẽ là những sáng lập viên và là lực lượng tham gia
nòng cốt. Nhà nước sẽ chỉ đóng vai trò giám sát và thúc đẩy hoạt động đó
ngày càng hiệu quả bằng hàng rào luật pháp hỗ trợ cho sàn giao dịch, thông
qua những chế tài về tính minh bạch trong thanh toán và những ràng buộc
đảm bảo về tư cách các thành viên tham gia thị trường. Tất cả những yếu tố
này làm tốt, chúng ta sẽ có một sàn giao dịch hiệu quả, qua thời gian sẽ tự
nâng tầm hoạt động của mình lên với qui mô ngày một lớn hơn, để đạt
được một mục tiêu sau cùng là không chỉ giải quyết những vấn đề nan giải
về giá trong lĩnh vực nông sản mà còn là một đòn bẩy tăng cường giao
thương thương mại với thế giới. Vai trò của chợ đối với nhu cầu mua sắm
của ngườidoanh dân, chợ là nơi cung cấp hàng hóa chủ yếu, từ hàng thực
phẩm tươi sống, thực phẩm chế biến đến hàng may mặc, hàng kim khí điện
máy, hàng tiêu dùng, đến mỹ phẩm, hàng nữ trang.… Do là nơi cung cấp
hàng hóa chủ yếu, ngoài các chợ chuyên doanh phục vụ bán buôn, hầu hết
các chợ trên địa bàn từng địa phương đều kinh doanh tổng hợp với nhiều
mặt hàng khác nhau. Có thể nói rằng, trong giai đoạn này, phần lớn hoạt
động mua sắm đều diễn ra ở các chợ.

Các luật về thuế, về bảo vệ môi trường sinh thái, ô nhiễm.
Các chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển thương mại của
Nhà nước, của địa phương.
Sự điều tiết và khuynh hướng can thiệp của Chính phủ vào đời
sống kinh tế xã hội.
Các quy định của Chính phủ về cạnh tranh, chống độc quyền, về
việc cho khách hàng vay tiêu dùng, về việc cho thuê mướn và khuyến
mại…
Các quy định về bảo vệ quyền lợi của công ty, bảo vệ quyền lợi
của người tiêu dùng, bảo vệ công chúng…
Trên thực tế, các yếu tố chính trị và pháp luật ổn định, rõ ràng,
minh bạch có thể tạo ra lợi thuận lợi cho kinh doanh. Sự thay đổi và sự
biến động đều có thể tạo ra những thay đổi liên tục, nhanh chóng, không
10
thể dự báo trước được. Ví dụ: Thay đổi về biểu thuế xuất nhập khẩu có thể
tạo ra cơ hội cho ngành kinh doanh này, tạo ra nguy cơ cho ngành kinh
doanh khác.
2. Yếu tố kinh tế.
Các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến kết quả và
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thương mại. Các yếu tố kinh tế bao
gồm một phạm vi rất rộng từ các yếu tố tác động đến sức mua của khách
hàng, đến nhu cầu tiêu dùng hàng hoá và các yếu tố có liên quan đến sử
dụng nguồn lực của kinh doanh. Các yếu tố kinh tế có thể và phải được
tính đến là: Tốc độ tăng trưởng của GDP; lãi suất tiền vay, tiền gửi ngân
hàng; tỷ lệ lạm phát; tỷ giá hối đoái; mức độ thất nghiệp; cán cân thanh
toán; chính sách tài chính, tín dụng; kiểm soát về giá cả, tiền lương tối
thiểu; các giai đoạn trong chu kỳ kinh doanh, cơ cấu kinh tế, tiềm năng
phát triển và gia tăng đầu tư; thu nhập bình quân của dân cư… Các yếu tố
kinh tế là “ máy đo nhiệt độ của nền kinh tế”. Nó quy định các phương
thức và cách thức các doanh nghiệp thương mại sử dụng các nguồn lực của

Yếu tố khoa học – công nghệ là yếu tố mang đầy kịch tính nhất, có
ảnh hưởng quan trọng và trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp. Trong thời đại khoa học công nghệ mới phát sinh sẽ huỷ diệt các
công nghệ trước đó không nhiều thì ít. Đây là yếu tố huỷ diệt mang tính
sáng tạo của công nghệ mới. Việc chế tạo ra các sản phẩm mới, chất lượng
cao, giá thành hạ, theo đời sản phẩm có ảnh hưởng lớn đến hoạt động tiêu
thụ sản phẩm và bán hàng. Trong doanh nghiệp thương mại, việc cung ứng
những sản phẩm mới, tiên tiến, phù hợp với xu thế và chiều hướng tiêu
dùng ngày càng là một đòi hỏi cấp thiết. Mặt khác, việc ứng dụng những
tiến bộ mới của khoa học – công nghệ trong hoạt động thương mại cũng
làm thay đổi nhanh chóng phương thức và cung cách phục vụ, khách hàng
như giao nhận, thanh toán, mua bán, đặt hàng, kiểm tra, kiểm kê…
4. Yếu tố văn hóa – xã hội.
Yếu tố văn hoá – xã hội là yếu tố ảnh hưởng sâu sắc và rộng rãi
nhất đến nhu cầu, hành vi của con người, trong cả hai lĩnh vực sản xuất và
lĩnh vực tiêu dùng cá nhân. Các giá trị văn hoá cơ bản có tính bền vững
cao, được lưu truyền từ đời này sang đời khác và được củng cố bằng các
quy chế xã hội như luật pháp, đạo đức, tôn giáo, chính quyền, hệ thống thứ
bậc tôn ti trật tự trong xã hội, tổ chức tôn giáo, nghề nghiệp, địa phương,
gia đình và ở cả hệ thống kinh doanh sản xuất dịch vụ. Các yếu tố văn hoá
– xã hội thường tiến triển chậm nên đôi khi thường khó nhận biết, chỉ có
những giá trị văn hoá thứ phát, ngoại lai dễ bị thay đổi khi điều kiện xã hội
biến đổi. Yếu tố văn hoá – xã hội bao gồm các yếu tố sau:
Đạo đức, quan niệm về thiện, ác, tốt, xấu, vinh dự, thấp hèn.
Dân số, xu hướng vận động của dân số, phong cách sống, tỷ lệ
tăng dân số.
Các hộ gia đình, xu hướng vận động.
Sự di chuyển của dân cư.
Thu nhập của các tầng lớp dân cư, xu hướng vận động; Phân bổ
thu nhập giữa các nhóm người và các vùng địa lý.

nguyờn liu tỏi sinh v nguyờn liu khụng th tỏi sinh c.
S gia tng chi phớ nng lng.
ễ nhim mụi trng v chi phớ x lý ụ nhim bo v mụi
trng sinh thỏi bn vng, bo v cnh quan, thng cnh.
S thay i vai trũ ca Nh nc trong bo v mụi trng, ti
nguyờn thiờn nhiờn t nc.
III/ Khỏi nim v cụng tỏc bỏn hng v v trớ ca cụng tỏc bỏn hng.
1. Khỏi nim cụng tỏc bỏn hng
Trong cơ chế thị trờng mọi hoạt động kinh doanh đều phải có mua
và bán để tạo ra lợi nhuận . Lợi nhuận tạo ra do mua đợc giá thấp và bán
giá cao .Đối với kinh doanh thơng mại , hoạt động bán hàng tốt có thể làm
tăng tiền bán ra , còn hoạt động mua hàng tốt có thể làm giảm tiền mua vào
và nh vậy kinh doanh mang lại hiệu quả và có lãi .
13
Theo sự phát triển kinh tế của loài ngời nghề bán hàng đã xuát hiện
từ lâu . Xã hội càng phát triển ,nhu cầu mua bán trao đổi hàng hoá càng gia
tăng , công việc bán hàng càng trở nên đa dạng và phức tạp .
Trong kinh doanh bán hàng là khâu cuối cùng quan trọng nhất .
Hành động bán hàng đợc thực hiện khi ngi bỏn đa vào thị trờng một
khối lợng vật t hàng hoá và đợc thị trờng chấp nhận . Sau khi bán hàng đợc
thực hiện tức là sau khi ngời mua chấp nhận trả tiền hoặc ngi bỏn đã thu
đợc tiền thì ngi bỏn đã thu đợc vốn để tiếp tục cho quá trình kinh doanh
tiếp theo ,đồng thời thoả mãn phần nào nhu cầu tiêu dùng của xã hội . Vì
vậy bán hàng là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng trong hoạt động kinh doanh
của ngi bỏn , qua chỉ tiêu này thì ngi bỏn mới có cơ sở để định hớng
kinh doanh , mua sắm dự trữ cho quá trình kinh doanh tiếp theo
Bán hàng là tất yếu của việc thực hiện quá trình lu thông của hàng
hoá . Bản thân công tác bán hàng đem lại nguồn thu chủ yếu để một ngi
bỏn tiếp tục hoạt động , có bán đợc hàng , ngi bỏn mới có thể tái sản
xuất và mở rộng qui mô và là mục đích của ngi bỏn trong quá trình tiến

việc lu thông hàng hoá và toàn bộ hoạt động kinh doanh của ngi bỏn ,
bán hàng là hoạt động cuối cùng kết thúc quá trình lu thông . Hoạt động
kinh doanh của kinh doanh thơng mại gồm nhiều khâu khác nhau , trong
tổng thể đó thì khâu mua vào là khởi điểm và bán ra, mỗi khâu có vị trí độc
lập và tầm quan trọng riêng , tuy nhiên chúng có mối liên hệ hữu cơ chế ớc
và thúc đẩy lẫn nhau . Song bán hàng là khâu có tầm chi phối lơn nhất , bán
là mục đích trực tiếp của mua . Nó qui định phơng hớng nội dung và phơng
pháp hoạt động của các khâu khác .
Đối với nhng ngi bỏn , hiệu quả của hoạt động kinh doanh đợc
thể hiện bởi tốc độ quay vòng của vốn , nếu vòng quay của vốn nhanh thì
khả năng đem lại lợi nhuận cao .Mà để có vốn tiếp tục cho quá trình kinh
doanh sau nghĩa là hoạt động bán hàng phải đợc thực hiện .Mặt khác trong
nền kinh tế thị trờng hoạt động bán hàng phản ánh tình hình kinh doạnh
của ngi bỏn lỗ hay lãi , lỗ thì lỗ bao nhiêu và lãi thì lãi bao nhiêu ,hoạt
động bán hàng là thớc đo để đánh giá sự cố gắng và chất lợng hoạt động
kinh doanh của ngi bỏn . Hoạt động bán hàng có vị trí hết sức quan trọng
đối với bất kì một xớ nghip, cụng ty, nh mỏy hay mụt ngũi kinh doanh
no. Mỗi một ngi bỏn trong cơ chế thị trờng muốn tồn tại và phát triển
thì phải xác định đợc vị trí của hoạt động tiêu thụ trong toàn bộ các hoạt
động của mình để trên cơ sở đó vạch ra hớng đi đúng đắn , có cơ sở khoa
học để đảm bảo cho sự thành công của đơn vị mình .
Với sự chuyển đổi cơ chế mới , công tác bán hàng có một vai trò hết
sức quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của ngi bỏn. Bán vật t hàng
hoá là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá. Thông
qua bán hàng, hàng hoá đợc chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền
tệ và vòng chu chuyển vốn của đơn vị kinh ngi đợc hoàn thành. Bán
hàng hoá thể hiện mục tiêu của nhng ngi bỏn với mục đích hớng tới
khách hàng. Bán hàng tạo ra nhu cầu về vật t hàng hoá một cách có hệ
thống và tìm cách tăng ý thức về nhu cầu đó. Đây là một nghệ thuật lớn
trong kinh doanh và đòi hỏi ngi bỏn phải có tầm hiểu biết nhanh nhạy

Do đó, lợi nhuận chỉ có thể thực hiện khi hàng hoá đợc bán ra. Có thể nói
rằng, bán hàng là khâu trực tiếp mang lại lợi nhuận cho ngi bỏn .
Thứ hai : Bán hàng để tạo điều kiện nâng cao vị trí của ngi bỏn
trên thị trờng , thông qua hoạt động bán hàng ngi bỏn có điều kiện giới
thiệu hàng hoá với khách hàng , có cơ hội để phục vụ khách hàng, tạo uy
tín cho ngi bỏn và niềm tin của khách hàng vào sản phẩm. Mặt khác,
bán hàng tốt giúp ngi bỏn thu hút lôi kéo đợc nhiều khách hàng , tăng uy
tín cho ngi bỏn .
16
Thứ ba: Bán hàng giúp ngi bỏn đứng vững và phát triển trong
cạnh tranh . Cạnh tranh trong cơ chế thị trờng là tất yếu khách quan và cần
thiết , cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội cạnh tranh ngày càng
văn minh tinh vi và khốc liệt hơn. Ngi bỏn nào không cạnh tranh đợc
trên thị trờng sẽ bị đào thải và rút khỏi thị trờng. Do vậy, các biện pháp
nhằm để thích ứng với quá trình cạnh tranh luôn là vấn đề thôi thúc, nan
giải cần đợc giải quyết của bất kì ngi bỏn nào .Muốn vậy, đối với ngi
bỏn thơng mại biện pháp tập trung chủ yếu vào khâu bán hàng . Bán hàng
đợc coi là vũ khí cạnh tranh trên thị trờng của ngi bỏn này đối với ngi
bỏn khác .
Thứ t : Bán hàng đảm bảo tính an toàn trong kinh doanh cho ngi
bỏn . Kinh doanh trong cơ chế thị trờng đòi hỏi ngi bỏn phải không
ngừng đổi mới và phát triển công tác thông tin . Bán hàng là phục vụ ngời
mua của ngời bán . Trong quá trình bán hàng , ngời bán tiếp xúc trực tiếp
với ngời mua , nắm bắt đợc nhu cầu của họ nên bán hàng là khâu mà ngi
bỏn có nhiều khả năng thu đợc nhiều thông tin nhất . Nó làm trung gian
liên lạc thông tin giữa nhng ngi bỏn sản xuất kinh doanh,với các đối t-
ợng khách hàng khác nhau
1.2.3. Nhiệm vụ và yêu cầu của bán hàng
Nhiệm vụ duy nhất của nhng ngi bỏn là chủ động, sáng tạo bảo
đảm việc thu mua hàng khai thác mọi tiềm năng vật t hàng hoá của nền

Trong nn kinh t th trng, Nh nc úng vai trũ doanhngi
nh hng, dn dt s phỏt trin kinh t, m bo thng nht cỏc li ớch
c bn trong ton xó hi. Nh nc, mt mt l thit ch quyn lc chớnh
tr ca mt hoc mt nhúm giai cp trong xó hi i vi giai cp khỏc,
ng thi cũn l quyn lc cụng i diờn cho li ớch chung ca cng ng
xó hi nhm duy trỡ v phỏt trin xó hi theo cỏc mc tiờu xỏc nh.
Phỏt trin nn kinh t th trng nc ta luụn l bc phỏt trin tt
yu, hp quy lut. Kinh t th trng cú nhng u im song cng cú
nhng khuyt tt nht nh. khc phc nhng hu qu do kinh t th
trng gõy ra, Nh nc gi vai trũ cc k quan trng. Kinh t hc hin
i khng inh thnh cụng ca mi quc gia khi chuyn sang kinh t th
trng ch yu ph thuc vo s kt hp gia kh nng iu tit ca th
trng ( bn tay vụ hỡnh). Vai trũ ca Nh nc c thc hin thụng qua
chc nng kinh t ca nú.
18
Một là, đảm bảo sự ổn định chính trị, xã hội vầ thiết lập khuôn
khổ luật pháp để tạo ra những điều kiện cần thiết cho hoạt động kinh tế.
Nhà nước tạo ra hành lang luật pháp cho hoạt động kinh tế bằng cách đặt
ra những điều luật cơ bản về quyền sở hữu tài sản và sự hoạt động của thị
trường, đặt ra những quy định chi tiết cho hoạt động của các doanh
bánnghiệp. Khuôn khổ luật pháp mà Nhà nước thiết lập có tác dụng sâu
sắc tới các hành vi kinh tế của con doanhngười và cả bản thân Chính phủ
cũng phải tuân theo.
Hai là, điều tiết kinh tế để đảm bảo cho nền kinh tế thị trường
phát triển ổn định. Thông qua chính sách tài chính và chính sách tiền tệ,
Nhà nước duy trì ổn định nền kinh tế, hướng nền kinh tế đến trạng thái
toàn dụng nhân công và tỷ lệ lạm phát hợp lý.
Ba là, đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động có hiệu quả. Một trong
những nguyên nhân làm nền kinh tế hoạt động có kém hiệu quả là những
hiệu ứng ngoại lai tiêu cực. Các doanh bánnghiệp là vì lợi ích tối đa của

Thứ tư, quản lý tài sản công và kiểm kê, kiểm soát toàn bộ hoạt
động kinh tế, xã hội. Thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước về kinh
tế và chức năng sở hữu tài sản công của Nhà nước. Các bộ và các cấp
chính quyền không can thiệp vào chức năng quản trị kinh doanh và quyền
tự chủ của các doanh bánnghiệp.
Thứ năm, Khắc phục hạn chế các mặt tiêu cực của cơ chế thị
trường, phân phối thu nhập quốc dân một cách công bằng, thực hiện tăng
trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, với tiến bộ, công bằng
xã hội.
Nhà nước quản lý toàn diện kinh tế, văn hoá, xã hội. Trong đó
quản lý kinh tế là vấn đề quan trọng đặc biệt. Do đó chức năng quản lý
Nhà nước về kinh tế là chức năng quan trọng nhất của Nhà nước ta hiện
nay. Lãnh đạo và quản lý nền kinh tế phát triển theo mục tiêu công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và không bị tụt hậu so với khu vực và quốc tế là
mục tiêu xuyên suốt giai đoạn 2001 – 2020.
2. Vai trò quản lý của Nhà nước đối với Thương mại.
Vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước đã được khẳng định cả về
lý luận và thực tiễn. Trong lĩnh vực thương mại, vai trò quản lý của Nhà
nước được thể hiện trên các mặt sau đây:
Một là, Nhà nước tạo môi trường và điều kiện cho thương mại
phát triển. Nhà nước bảo đảm sự ổn định về mặt kinh tế, chính trị, xã hội
cho thương mại phát triển. Nhà nước thực thi cơ chế, chính sách để hạn
chế tình trạng thiếu cầu, giảm lạm phát, khuyến khich sản xuất và tiêu
dùng. Nhà nước tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng, bao gồm kết cấu hạ
tầng vật chất, tài chính, giáo dục, luật pháp… cho thương mại. Tạo lập
môi trường cạnh tranh bình đẳng, môi trường vĩ mô phù hợp với xu
hướng phát triển của thương mại trong cơ chế thị trường.
Hai là, Nhà nước định hướng cho sự phát triển của thương mại.
Sự định hướng này được thực hiện thông qua việc xây dựng và tổ chức
thực hiện các chiến lược kinh tế - xã hội, các chương trình mục tiêu, các

Thông qua thành phần kinh tế Nhà nước, Nhà nước nắm và điều
tiết một bộ phận lớn các hàng hoá - dịch vụ chủ yếu có ý nghĩa quan
trọng và then chốt của nền kinh tế quốc dân, bảo đảm đảm cho nền kinh
tế hoạt động nhịp nhàng và phát triển cân đối với nhịp độ cao.

3. Quản lý Nhà nước về thương mại.
a. Phân định các chức năng trong quản lý và kinh doanh.
Trong quá trình tổ chức nền kinh tế cần phải phân định được hai
chức năng: chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế và chức năng quản lý
kinh doanh. Hai chức năng này do hai loại tổ chức khác nhau thực hiện.
Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế do cơ quan hành chính
kinh tế thực hiện. Chức năng quản lý kinh doanh do các doanh bánnghiệp
thực hiện. Hai chức năng đó cũng như hai loại tổ chức trên đây vừa độc
lập với nhau vừa có quan hệ mật thiết, hỗ trợ, tác động qua lại lẫn nhau,
không nhận thức rõ vấn đề này sẽ dẫn tới những sai lầm nghiêm trọng.
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, chức năng quản lý Nhà
nước về kinh tế và chức năng quản lý kinh doanh không được phân biệt
một cách thật rõ ràng. Các cơ quan quản lý Nhà nước can thiệp sâu vào
các quyết định sản xuất kinh doanh, nhưng lại không chịu trách nhiệm về
sự can thiệp ấy. Hoạt động kinh doanh bị gò bó trong hệ thống các kế
hoạch và chỉ tiêu pháp lệnh mang tính bắt buộc. Các đơn vị kinh doanh
không có quyền tự chủ trong quyết định các vấn đề cơ bản của sản xuất
kinh doanh. Sự lẫn lộn giữa hai chức năng quản lý Nhà nước và chức
năng quản lý kinh doanh đã thủ tiêu động lực, tính năng động, sáng tạo
21
của đơn vị kinh tế, là một trong những nguyên nhân dẫn đến những khó
khăn, khủng hoản về kinh tế, là một trong những nguyên nhân dẫn đến
những khó khăn, khủng hoảng về kinh tế - xã hội trong những năm trước
đổi mới.
Sự phân biệt giữa chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế và

Doanh bánnghiệp phải nghiêm chỉnh chấp hành luật pháp, các quy định
của Nhà nước và làm đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước, với bạn hàng, hạch
toán và báo cáo trung thực theo chế độ do Nhà nước quy định. Doanh
bánnghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội với doanh lao động, ổn định và
không ngừng cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của doanh lao động,
thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội ở khu vực hoạt động của mình.
22
Nội dung chức năng quản lý Nhà nước về thương mại mang tính
thống nhất trong toàn quốc, tính ổn định tương đối. Nội dung chức năng
quản lý kinh doanh ở doanh bánnghiệp mang tính đặc thù và tính linh
hoạt cao. Sự phân công, phân cấp trong quản lý được xác định rõ ràng
theo cấp hành chính đối với chức năng quản lý Nhà nước. Điều này khác
với quản lý ở doanh bánnghiệp. Các cơ quan quản lý Nhà nước về thương
mại chỉ được làm những gì mà pháp luật đã quy định, còn các doanh
bánnghiệp được làm tất cả những gì luật pháp không cấm.
Hai chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế và chức năng quản
lý kinh doanh có mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau. Đó
là mối quan hệ giữa quản lý điều tiết vĩ mô với tổ chức hoạt động vi mô
của nền kinh tế. Các cơ quan quản lý hành chính kinh tế định hướng và
điều phối các hoạt động sản xuất kinh doanh theo mục tiêu chiến lược,
hạn chế các hậu quả xấu và sự phá sản của doanh bánnghiệp. Các doanh
bánnghiệp căn cứ vào định hướng và hành lang đã được tạo dựng để tổ
chức các hoạt động kinh doanh và qua đó tác động trở lại các cơ quan
quản lý nhằm điều chỉnh các chế tài cho thích ứng với thực tiễn kinh
doanh.
b. Nội dung quản lý nhà nước về thương mại.
Thương mại là đối tượng quản lý của Nhà nước xuất phát từ
những lý do sau đây:
- Thương mại là hoạt động mang tính liên ngành, là hoạt động có

- Hướng dẫn, thanh tra và kiểm tra thực hiện chính sách, quy
hoạch, kế hoạch phát triển thương mại và việc chấp hành pháp luật về
thương mại; xử lý vi phạm pháp luật về thương mại; tổ chức việc đấu
tranh chống buôn lậu, buôn bánbán hàng cấm, buôn bán hàng giả, đầu cơ
lũng đoạn thị trường, kinh doanh trái phép và các hành vi khác vi phạm
pháp luật về thương mại.
IVI/. Nội dung của quản lý Nhà nước về hệ thống chợ.
1. Tổ chức quản lý hệ thống chợ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế
xã hội của địa phương.
Vai trò của chợ đối với kích thích phát triển sản xuất, chợ là nơi
tiêu thụ hàng hóa chủ yếu của các cơ sở sản xuất công nghiệp, nông nghiệp
trên địa bàn trong và ngoài vùng. Các số liệu thống kê trong giai đoạn này
cho thấy, trên 90% lượng hàng hóa sản xuất ra được tiêu thụ thông qua các
mạng lưới thương mại-dịch vụ mà chủ yếu là các chợ, doanh thu bán lẻ
trên thị trường chủ yếu được thông qua mạng lưới chợ. Có thể nói, chợ
đóng một vai trò rất lớn tới sự phát triển kinh tế địa phương. Tuy nhiên nếu
không có sự kiểm soát của nhà nước sẽ dẫn tớí tình trạng lộn xộn, buôn
gian bán lận, mất an toàn vệ sinh thực phẩm…
Một thực trạng gần đây cho thấy các chợ tự phát mọc lên nhiều trên
địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng và trên cả nước nói chung. Ít ai có thể
phủ nhận tiện ích của chợ tự phát. Song, cái tiện của nó được chấp nhận
bởi chính thói quen có phần tuỳ tiện của người dân, đó là ở đâu cũng có thể
hình thành chợ và họp ở bất cứ đâu cũng có khách mua hàng, dĩ nhiên, đi
liền với nó sẽ là ẩn họa khôn lường.
Chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy những “quầy hàng” di động bởi
những đôi quang gánh của người bán hàng rong, những xe đạp thồ với đôi
sọt kềnh càng đa chủng loại hàng hoá sẵn sàng “ngả quán” bất cứ hang
cùng ngõ hẻm nào. Và đặc biệt, sáng sáng, trưa trưa, chiều chiều, thậm chí
đêm đêm, chúng ta còn chứng kiến la liệt quán “cắm” trên các vỉa hè, ngã
24

tự phát vẫn “mọc”. Đó là chưa kể, không ít chỗ, không ít lần, đoàn kiểm
tra đi đến đâu thì chợ tự phát “chuồn” đến đó, nhưng ngay lập tức nó lại
khẩn trương hình thành nhanh như để "xoá dấu chân" cơ quan "kiểm tra,
kiểm sóat".
Phải xử lý kiên quyết, quy hoạch chợ hợp lý, chúng ta phải thừa
nhận thực trạng chợ tự phát không những gây nên cảnh mất trật tự giao
thông, ô nhiễm vệ sinh môi trường, không chỉ đe doạ đến sức khoẻ, tính
mạng người tiêu dùng, mà còn gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động
của các chợ xây dựng theo quy hoạch trong cùng khu vực (có không ít
25

Trích đoạn Tỡnh hỡnh chung về vệ sinh mụi trườn g: Tỡnh hỡnh chung về vệ sinh thực phẩ m: Hiện trạng về an ninh trật tự ở cỏc chợ: Tỡnh hỡnh tắc nghẽn giao thụng trong và xung quanh chợ: Thực trạng về phũng chỏy, chữa chỏy ở cỏc chợ:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status