ĐỀ TÀI : VỊ TRÍ ĐỊA LÝ CÁC ĐIỂM DU LICH TỪ
BẮC TỚI NAM
I,GIỚI THIỆU CHUNG
Việt Nam- địa chỉ tin cậy dành cho khách du lịch
1.Vị trí địa lý
- Tại sao Việt Nam lại thu hút hàng năm gần 4 triệu lượt du khách
nước ngoài. Một trong số các nguyên nhân có thể xác nhận đó là khí hậu
nhiệt đới gió mùa, đa dạng sinh học. Không thể không không kể đến
chiều dài miên man của bờ biển Việt Nam với biết bao bãi biển được ghi
nhận là có những vẻ đẹp nằm trong các bản xếp hạng thế giới. Phía Nam
của Việt Nam các bạn có thể thoải mái tắm quanh năm. Những cồn cát
trắng xoá và những bãi biển trong đến đáy ấm quanh năm là những lợi
thể không thể bỏ qua khi nhắc đến Việt Nam.
- Việt Nam còn thu hút bởi vô vàn di tích lịch sử, những tượng đài
tưởng nhớ công lao của biết bao vị anh hùng dân tộc. Qua đó cỏ thể
tường thuật lại toàn bộ quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc qua
gần 4000 năm.
- Những món ăn đậm chất Việt cũng là điều thu hút khách du lịch.
- Nhưng quan trọng nhất chính là con người, dân tộc Việt hiếu khách
và cần cù, đó chính là đặc trưng tiêu biểu khiến nhiều khách du lịch ấn
tượng.
2 . Chính trị
- Không thể phủ nhận được việc Việt Nam có một nền chính trị ổn
định là điều thu hút đặc biệt đối với du khách. Khi khách du lịch đến
một cuốc gia không nội chiến, không đấu tranh sắc tộc, không biểu tình
giữa các đảng phái thì quả thật Việt Nam đã ghi điểm rất lớn. Việc ổn
định về chính trị cũng khiến không chỉ ngàng du lịch phát triển mà tất cả
các công tác đối nội, đối ngoại và thông thương giữa Việt Nam và các
nước trên thế giới ngày càng phát triển hơn.
II.Việt Nam trong con mắt những du khách nước
ngoài
- Theo chương trình du lịch
- Theo cách thức di chuyển: đi bộ hay đi bằng phương tiện …
4. Những cảm nhận của khách du lịch về Việt Nam.
Ở đây có tập hợp 1 số lượng ý kiến của các khách du lịch, chủ yếu từ
Nga và các nước CNG. Đa số đều có sự hài lòng cũng như chưa thật sự
hài lòng về các mặt khác nhau. Với 1 số người họ không thích thăm
miền Bắc, chẳng hạn như chị Anastasia từ Uckraina nhận xét thì miền
Bắc như một làng quê, chẳng có gì đáng xem, nhưng chị lại đánh giá cao
các điểm du lịch miền Nam. Với anh Nikolai thì đến từ Nga thì đánh giá
cao khách sạn nơi mình ở, mặc dù chỉ 3* nhưng rất tiện nghi và phù hợp.
Đa số các ý kiến nghiêng về khen các điểm du lịch ở phía nam nước ta,
đặc biệt những bãi biển, khách sạn và phong cách phục vụ.
Kết luận
Việt Nam là đất nước nhiều tiềm năng, đặc biệt là tiềm năng du lịch.
Được đánh giá cao trên các trang web đánh giá về du lịch, nhiều địa
danh được đánh giá rất cao. Bên cạnh những ưu điểm về mặt tự nhiên,
chúng ta không khỏi thấy rằng vẫn còn có những điểm yếu rõ nét, trong
đó chính là sự chưa chuyên nghiệp trong tất cả các khâu, còn có những
hiện tượng xấu do ý thức công cộng của người dân còn chưa tốt, hay
chính những hướng dẫn viên thiếu năng lực, thiếu trình độ thực tế, khiến
nhiều khách du lịch đến Việt Nam chỉ 1 lần và không quay lại lần thứ 2.
Trong bài nghiên cứu của tôi không thể phản ánh đầy đủ hiện trạng của
nền du lịch Việt Nam với khách nước ngoài, đặc biệt là khách du lịch
đến từ khu vực CNG, nhưng tôi nghĩ qua bài làm của tôi mọi người có
thể tìm cho mình nhiều thông tin bổ ích và cùng với công cuộc phát triển
của đất nước, sự mở rộng giao lưu kinh tế, văn hoá, cũng như cùng với
nền kinh tế thị trường, tiếng Nga sẽ ngày càng được phổ biến và vẻ đẹp
của Việt Nam sẽ tiếp tục được trải dài trải dài qua nhiều nước trên thế
giới.
III Tình hình phát triển du lịch Việt Nam
− Ngành du lịch Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du
lịch như: tình hình chính trị xã hội ổn định; kinh tế tăng trưởng; chính
sách ngoại giao rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa và là đối tác tin
cậy của nhiều quốc gia trên thế giới; vị thế của đất nước trên trường
quốc tế không ngừng được nâng cao; tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân
văn phong phú, đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc; khung pháp lý và các
chuẩn mực về du lịch từng bước được hình thành; lực lượng lao động trẻ
dồi dào; cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội được cải thiện; đời sống, thu nhập
và điều kiện làm việc của nhân dân được nâng cao, nhu cầu giao lưu văn
hóa ngày càng tăng…
− Cùng với những thuận lợi trên, ngành du lịch Việt Nam vẫn còn phải đối
mặt với nhiều khó khăn, thách thức như: thị trường thế giới nhiều biến
động trong khi năng lực cạnh tranh của ngành du lịch còn yếu; nhận
thức, kiến thức quản lý và phát triển du lịch chưa đáp ứng được yêu cầu;
cơ chế, chính sách quản lý còn bất cập; quy hoạch phát triển du lịch bị
tác động mạnh bởi các quy hoạch chuyên ngành; tài nguyên có nguy cơ
bị tàn phá, suy thoái nhanh và môi trường du lịch bị xâm hại; kết cấu hạ
tầng yếu kém, lạc hậu, thiếu đồng bộ; sản phẩm, dịch vụ du lịch chưa
đặc sắc, trùng lặp và thiếu quy chuẩn; thiếu nguồn nhân lực chuyên
nghiệp và đội ngũ chuyên gia đầu ngành, lực lượng quản lý tinh thông
và lao động trình độ cao; thời tiết khắc nghiệt; mức sống dân cư phần
đông còn thấp…
V, Quan điểm phát triển du lịch Việt Nam đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030
− Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, chiếm tỷ trọng ngày
càng cao trong cơ cấu GDP, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội.
− Phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, có trọng tâm,
trọng điểm; chú trọng phát triển theo chiều sâu, đảm bảo chất lượng và
hiệu quả, khẳng định thương hiệu và khả năng cạnh tranh.
− Phát triển đồng thời cả du lịch nội địa và du lịch quốc tế; chú trọng du
và các khu du lịch; triển khai các chương trình, đề án ưu tiên; hình thành
và áp dụng các tiêu chuẩn, nhãn du lịch xanh, du lịch sinh thái, du lịch
có trách nhiệm.
+ Giai đoạn 2016 – 2020: tổ chức đánh giá kế hoạch hành động
giai đoạn 2011 – 2015; điều chỉnh và tiếp tục triển khai nội dung nhiệm
vụ của giai đoạn trước và khởi động thực hiện các chương trình, đề án
mới trong giai đoạn 2016 – 2020.
+ Các đơn vị chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện: Ban Chỉ đạo
nhà nước về du lịch; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; các bộ, cơ quan
ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương; Hiệp hội du lịch và các hội nghề nghiệp; doanh
nghiệp du lịch và tổ chức, đơn vị liên quan.
Như vậy, để đạt được những mục tiêu và kế hoạch đã đề ra trong Chiến
lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030,
ngành du lịch Việt Nam cần có sự vào cuộc, chung tay góp sức của tất
cả các cấp, các ngành liên quan nhằm đưa du lịch trở thành ngành kinh
tế mũi nhọn, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước
2.Mục tiêu xã hội:
Tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo,
cụ thể năm 2015 có 2,2 triệu lao động trong lĩnh vực du lịch (trong đó có
620 nghìn lao động trực tiếp), năm 2020 là trên 3 triệu lao động (trong
đó có 870 nghìn lao động trực tiếp). Phát triển du lịch còn nhằm bảo tồn
và phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam; phát triển thể chất, nâng cao
dân trí và đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân; tăng cường đoàn kết,
hữu nghị, tinh thần tự tôn dân tộc.
3, Mục tiêu môi trường:
Phát triển du lịch “xanh”, gắn hoạt động du lịch với gìn giữ và phát
huy các giá trị tài nguyên và bảo vệ môi trường; khẳng định môi trường
du lịch là yếu tố hấp dẫn du lịch, đảm bảo chất lượng và giá trị thụ
tạo bến xe, bến tàu, cầu cảng đảm bảo yêu cầu chất lượng phục vụ khách
du lịch; phát triển hệ thống dịch vụ công cộng, tiện nghi, hiện đại; đảo
bảm hệ thống viễn thông, thông tin liên lạc đạt tiêu chuẩn quốc tế và tới
các khu, điểm du lịch; đầu tư, nâng cấp phát triển hệ thống hạ tầng xã
hội về văn hóa, y tế, giáo dục…; phát triển hệ thống khu, điểm du lịch,
cơ sở lưu trú du lịch, nhà hàng, cơ sở dịch vụ thông tin, tư vấn du lịch,
cơ sở dịch vụ đặt giữ chỗ, đại lý, hướng dẫn, phương tiện và cơ sở dịch
vụ phục vụ vận chuyển khách du lịch, cơ sở phục vụ tham quan, nghỉ
dưỡng, vui chơi giải trí, thể thao, hội nghị và các mục đích khác…
3, Nhóm giải pháp về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực:
- Phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo chuyên ngành du lịch, tăng cường
đào tạo đại học, trên đại học và đào tạo quản lý về du lịch, kỹ năng nghề
du lịch; rà soát mạng lưới cơ sở đào tạo về du lịch; xây dựng và tổ chức
thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển nhân lực du lịch
phù hợp với nhu cầu phát triển du lịch từng thời kỳ, từng vùng, miền
trong cả nước; xây dựng chuẩn trường đào tạo du lịch, hoàn thiện các
chương trình đào tạo và khung đào tạo; nâng cao tỷ lệ đào tạo, tập trung
phát triển nguồn nhân lực bậc cao; tăng cường liên kết, hợp tác quốc tế
về đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch.
4, Nhóm giải pháp về phát triển thị trường, xúc tiến quảng bá, xây
dựng thương hiệu du lịch:
Phân đoạn thị trường theo mục đích du lịch và khả năng thanh toán
để tập trung thu hút; ưu tiên thu hút phân đoạn khách du lịch có khả
năng chi trả cao, có mục đích du lịch thuần túy, lưu trú dài ngày; chuyên
nghiệp hóa, tập trung quy mô lớn cho hoạt động xúc tiến, quảng bá trên
cơ sở kết quả các nghiên cứu thị trường và gắn chặt với chiến lược sản
phẩm-thị trường; xây dựng phát triển thương hiệu du lịch Việt Nam trên
cơ sở phát triển các thương hiệu du lịch vùng, điểm đến, thương hiệu sản
phẩm du lịch, doanh nghiệp du lịch, các địa danh nổi tiếng…
Định hướng phát triển thị trường:
- Tăng cường năng lực cơ quan quản lý nhà nước về du lịch từ trung
ương đến địa phương; xây dựng năng lực tập trung cho cơ quan xúc tiến
du lịch quốc gia; phát huy và đổi mới về thực chất vai trò của Ban chỉ
đạo Nhà nước về du lịch, hiệp hội nghề nghiệp; quy hoạch tổng thể phát
triển du lịch cả nước, các vùng và địa phương; nghiên cứu hình thành
các tổ chức phát triển du lịch vùng theo nguyên tắc tự nguyện; thúc đẩy
việc hình thành các tổng công ty du lịch có khả năng vươn ra quốc tế;
tăng cường xây dựng hệ thống tiêu chuẩn ngành trong các lĩnh vực hoạt
động du lịch; hình thành hệ thống kiểm soát chất lượng trong ngành du
lịch; Nhà nước và tổ chức nghề nghiệp thống nhất quản lý, bảo hộ, tôn
vinh hệ thống chứng chỉ về chất lượng du lịch; tăng cường kiểm tra,
giám sát về chất lượng hoạt động du lịch; hỗ trợ và đầu tư từ ngân sách
cho các lĩnh vực then chốt tạo tiền đề cho phát triển du lịch; huy động
các nguồn lực tài chính từ các thành phần kinh tế trong và ngoài nước;
khai thác tối ưu nguồn lực về tài nguyên du lịch; phát huy các nguồn lực
tri thức khoa học công nghệ, lao động sáng tạo của các thành phần xã
hội; phát huy sức mạnh đoàn kết, tinh thần tự tôn dân tộc; tăng cường
nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ trong lĩnh vực du lịch; thực
hiện nghiêm túc quy định về quyền sở hữu trí tuệ và bản quyền; nâng
cao nhận thức xã hội về du lịch…
VIII , Một số điểm du lịch tiêu biểu của nước ra
Đô thị cổ Hội An - Di sản văn hoá thế giới
1. Giới thiệu chung
− Đô thị cổ Hội An nằm cách thành phố Đà Nẵng 30km về phía Đông
Nam, cách thành phố Tam Kỳ 60km về phía Đông Bắc.
Từ cuối thế kỷ 16, Hội An từng là trung tâm mậu dịch quốc tế trên hành
trình thương mại Đông - Tây, là một thương cảng phồn thịnh nhất của
xứ Đàng Trong - Việt Nam trong triều đại các chúa Nguyễn bởi thương
thuyền từ Nhật Bản, Trung Hoa, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan
thường đến đây để trao đổi, mua bán hàng hoá.
mềm và được chạm trổ nhiều hoạ tiết tinh xảo. Trên cửa chính của
Chùa Cầu có chạm nổi 3 chữ Hán là Lai Viễn Kiều (có nghĩa là cầu của
những người bạn từ xa đến) - tên do chúa Nguyễn Phúc Chu đặt trong
một lần viếng thăm Hội An vào năm 1719. Trên sườn cầu có một ngôi
miếu nhỏ thờ thần Bắc Đế Trấn Vũ - thần chuyên trấn trị phong ba, lũ
lụt theo tín ngưỡng của người Trung Hoa. Ở hai đầu cầu có đặt hai
nhóm tượng khỉ và chó bằng gỗ ngồi chầu. Lai lịch của Chùa Cầu gắn
liền với truyền thuyết về con Cù - một loại thuỷ quái có đầu nằm ở Ấn
Độ, mình ở Việt Nam và phần đuôi ở tận Nhật Bản và mỗi lần Cù cựa
quậy là gây ra lũ lụt, động đất ở những nơi này. Vì vậy, ngoài việc xây
cầu để phục vụ giao thông, người xưa còn có hàm ý trấn yểm loài thuỷ
quái, giữ cho cuộc sống yên bình.
Chùa Cầu là tài sản vô giá và đã chính thức được chọn là biểu tượng
của Hội An.
b, Nhà cổ Quân Thắng (77 đường Trần Phú, Hội An)
− Là một trong những nhà cổ được đánh giá là đẹp nhất Hội An
hiện nay. Ngôi nhà có niên đại hơn 150 năm, mang phong cách
kiến trúc vùng Hoa Hạ - Trung Hoa. Qua năm tháng, ngôi nhà
vẫn được bảo tồn khá nguyên trạng về kiểu dáng kiến trúc và các
bài trí nội thất, giúp ta hình dung được phần nào lối sống của các
thế hệ chủ nhân, những người thuộc tầng lớp thương gia ở
thương cảng Hội An trước đây. Được biết, toàn bộ phần kiến
trúc và điêu khắc gỗ rất sinh động, tinh tế của ngôi nhà này đều
do các nghệ nhân làng mộc Kim Bồng - Hội An thực hiện
− Đây là một điểm tham quan chính trong hành trình khám phá di
sản văn hoá thế giới Hội An của du khách.
c, Nhà cổ Tấn Ký (10 đường Nguyễn Thái Học, Hội An)
- Được xây dựng cách đây gần 200 năm, nhà cổ Tấn Ký có kiểu
kiến trúc hình ống - đặc trưng của loại nhà phố Hội An, với nội thất
chia làm nhiều gian, mỗi gian có chức năng riêng. Mặt tiền nhà là nơi
rất nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham gia.
- Hội quán Phúc Kiến đã được cấp bằng di tích lịch sử - văn hoá
quốc gia ngày 17 tháng 2 năm 1990.
f, Hội quán Triều Châu (157 đường Nguyễn Duy Hiệu, Hội An)
- Hội quán được Hoa Kiều bang Triều Châu xây dựng vào năm 1845
để thờ Phục Ba tướng quân Mã Viện - vị thần giỏi chế ngự sóng gió
giúp cho việc đi lại buôn bán trên biển được thuận buồm xuôi gió, đắc
lợi.
- Hội quán có giá trị đặc biệt về kết cấu kiến trúc với bộ khung gỗ
trạm gỗ chạm trổ tinh xảo cùng những hoạ tiết, hương án trang trí bằng
gỗ và những tác phẩm đắp nổi bằng sành sứ tuyệt đẹp.
g , Hội quán Quảng Đông (17 đường Trần Phú, Hội An)
- Hội quán được Hoa Kiều bang Quảng Đông xây dựng vào năm
1885. Thoạt đầu để thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu và Đức Khổng Tử, sau
năm 1911 chuyển sang thờ Quan Công và Tiền Hiền của bang.
- Với nghệ thuật sử dụng hài hào các chất liệu gỗ, đá trong kết cấu
chịu lực và hoạ tiết trang trí đã đem lại cho hội quán vẻ đẹp đường bệ,
riêng có. Hàng năm, vào ngày Nguyên Tiêu (15 tháng Giêng Âm lịch),
vía Quan Công (24 tháng 6 Âm lịch) tại đây diễn ra lễ hội rất linh đình,
thu hút nhiều người tham gia.
h, Hội quán Ngũ Bang (64 đường Trần Phú, Hội An)
- Hội quán Ngũ Bang còn có tên là hội quán Dương Thương hay
Trung Hoa hội quán. Hội quán do các thương khách người Hoa gốc
Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng Đông, Hải Nam, Gia Ứng xây dựng vào
năm 1741. Đây là nơi thờ Thiên Hậu Ngũ Bang và sinh hoạt đồng
hương để giúp nhau làm ăn buôn bán. Hội quán Ngũ Bang mang đậm
phong cách kiến trúc Trung Hoa.
i, Chùa Ông (24 đường Trần Phú, Hội An)
- Chùa Ông được xây dựng năm 1653, đã qua 6 lần trùng tu vào các
năm: 1753, 1783, 1827, 1864, 1904, 1906. Chùa Ông có kiến trúc uy
+ Taxi Faifo tại Hội An. Điện thoại: 0510.3919191
- Xe buýt công cộng: Tại Quảng Nam hiện có nhiều tuyến xe buýt công
cộng nên khá thuận tiện cho du khách trong việc di chuyển. Những
tuyến xe buýt thông dụng nhất:
+ Tuyến Hội An - Đà Nẵng và ngược lại: với chiều dài 30 km, hành
trình 40 phút, mỗi ngày có nhiều chuyến xe phục vụ từ 5g30 đến 18g00
(mỗi 30 phút có 1 chuyến).
+ Tuyến Tam Kỳ - Đà Nẵng và ngược lại: với chiều dài 70 km, hành
trình 120 phút, mỗi ngày có nhiều chuyến xe phục vụ từ 5g30 đến 17g30
(mỗi 30 phút có 1 chuyến).
+ Tuyến Nam Phước - Đà Nẵng và ngược lại: với chiều dài 40 km,
hành trình 50 phút, mỗi ngày có nhiều chuyến xe phục vụ từ 5g30 đến
18g00.
- Open Tour: Hội An là một trong những điểm dừng chân của các
chuyến xe Open tour đến từ Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Nha
Trang, Đà Lạt Hàng ngày có nhiều chuyến xe xuất phát tại Hội An đi
đến các nơi trên do đó rất thuận lợi cho du khách trong việc di chuyển
bằng loại phương tiện này.
+ Địa chỉ một số đại lý hãng xe Open tour tại Hội An:
An Phú:Địa chỉ: 722 Hai Bà Trưng, thành phố Hội An
Sinh Cafe Địa chỉ: 587 Hai Bà Trưng, thành phố Hội An
Hạnh Cafe: Địa chỉ: 02 Thái Phiên, thành phố Hội An
Camel:Địa chỉ: 50 Phan Chu Trinh, thành phố Hội An
- Phương tiện xe xích lô: đây là phương tiện rất thuận tiện cho du khách
khi đi tham quan phố cổ Hội An và các điểm du lịch lân cận trong phạm
vi gần
-Phương tiện xe môtô, xe đạp: du khách có thể thuê xe môtô, xe đạp
ngay tại khách sạn nơi lưu trú hoặc các điểm dịch vụ cho thuê xe trên
các đường phố tại Hội An với mức giá khá rẻ để làm cuộc hành trình
ngắn đến các điểm tham quan quanh Hội An và cả khu di tích Mỹ Sơn
d. Đường thủy
- Tại Quảng Nam, mạng lưới giao thông đường thuỷ đến các điểm du
lịch khá thuận tiện.
- Từ Hội An đến đảo Cù Lao Chàm, du khách có thể đi tàu cao tốc xuất
phát tại cảng Cửa Đại với hành trình khoảng 20 phút hoặc đi thuyền gỗ
xuất phát tại bến Bạch Đằng nằm ngay trong khu phố cổ với hành trình
khoảng 2 giờ đồng hồ.
- Từ Hội An muốn đi đến làng mộc Kim Bồng, làng gốm Thanh Hà,
làng dệt chiếu Bàn Thạch, khu du lịch sinh thái Thuận Tình, di tích
Rừng Dừa Bảy Mẫu hoặc khu di tích Mỹ Sơn và các điểm du lịch dọc
tuyến sông Thu Bồn, sông Trường Giang bằng đường thuỷ, du khách
nên chọn thuê những chiếc thuyền nhỏ với sức chứa khoảng 20 người
trở lại vì loại phương tiện này sẽ dễ dàng hoạt động trong những tuyến
sông khô cạn vào mùa hè
Một số công ty, xí nghiệp vận tải thủy ở hội an :
- Công ty Cổ phần Thương mại - Đầu tư Cù Lao Chàm
Địa chỉ: Đường Cửa Đại, thành phố Hội An
Điện thoại: 0510.3927373
- HTX Vận tải Thuỷ bộ Hội An
Địa chỉ: 03 Hoàng Diệu, thành phố Hội An
Điện thoại: 0510.3861240
- Xí nghiệp vận tải Sông Hội
Địa chỉ: Phường Cửa Đại, thành phố Hội An
Điện thoại: 0510.3861332
- Công ty TNHH Thương mại Du lịch Lê Nguyễn
Địa chỉ: 10 Hải Thượng Lãn Ông, thành phố Hội An
Điện thoại: 0510.3916218
- Văn phòng hướng dẫn tham quan Hội An
Địa chỉ: 05 Hoàng Diệu, thành phố Hội An
Điện thoại: 0510.3861159
tây nam vịnh Hạ Long. Đây là hình ảnh cổ xưa nhất của địa hình có tuổi
kiến tạo địa chất từ 250 - 280 triệu năm, là kết quả của quá trình vận
động nâng lên, hạ xuống nhiều lần từ lục địa thành trũng biển. Quá trình
Caxto bào mòn, phong hoá gần như hoàn toàn tạo ra một Hạ Long độc
nhất vô nhị trên thế giới. Trong một diện tích không lớn, hàng ngàn đảo
đá với muôn hình, dáng vẻ khác nhau như những viên ngọc bích long
lanh được đính lên chiếc khăn voan xanh biếc của nàng thiếu nữ. Vùng
tập trung dày đặc các đảo đá có phong cảnh ngoạn mục và nhiều hang
động đẹp nổi tiếng là vùng trung tâm Di sản Thiên nhiên vịnh Hạ Long,
bao gồm vịnh Hạ Long và một phần vịnh Bái Tử Long
.Địa hình
− Vịnh Hạ Long có tổng diện tích 1553 km2 gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ,
trong đó 989 đảo có tên và 980 đảo chưa có tên. Đảo của vịnh Hạ Long
có hai dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch, tập trung ở hai vùng chính
là vùng phía đông nam (thuộc vịnh Bái Tử Long) và vùng phía tây nam
(thuộc vùng vịnh Hạ Long) có tuổi kiến tạo địa chất từ 250 - 280 triệu
năm. Vùng tập trung dày đặc các đảo đá có phong cảnh ngoạn mục và
nhiều hang động đẹp nổi tiếng là vùng trung tâm Di sản thiên nhiên vịnh
Hạ Long, bao gồm vịnh Hạ Long và một phần vịnh Bái Tử Long.
− Vùng Di sản thiên nhiên được thế giới công nhận có diện tích 434 km2
bao gồm 775 đảo, như một hình tam giác với 3 đỉnh là đảo Đầu Gỗ (phía
tây), hồ ba đầm (phía nam), đảo cống tây (phía đông) vùng kế bên là khu
vực đệm và di tích danh thắng quốc gia được Bộ Văn hoá Thông tin xếp
hạng năm 1962.
3) Môi trường và khí hậu
Vịnh Hạ Long là vùng biển đảo có khí hậu phân hóa 2 mùa rõ
rệt: mùa hạ nóng ẩm với nhiệt độ khoảng 27-29 °C và mùa đông khô
lạnh với nhiệt độ 16-18 °C, nhiệt độ trung bình năm dao động trong
khoảng 15-25 °C. Lượng mưa trên vịnh Hạ Long vào khoảng từ
2.000mm–2.200mm . Hệ thủy triều tại vịnh Hạ Long rất đặc trưng với
lịch khác. Dự kiến đến năm 2010, Quảng Ninh sẽ là một trong những
điểm du lịch lớn nhất cả nước.
Năm 1996, vịnh Hạ Long đón 236 lượt khách, thì năm 2003 vịnh Hạ
Long đón tới 1.306.919 lượt khách. Năm 2005, lượng khách đến vùng
Vịnh ước đạt 1,5 đến 1,8 triệu.
6)Tiềm năng thủy hải sản
Vùng biển Quảng Ninh nói chung và vùng biển vịnh Hạ Long nói
riêng chứa đựng nhiều hệ sinh thái có giá trị đa dạng sinh học, trữ lượng
hải sản lớn. Vùng Vịnh thích hợp cho việc nuôi trồng và đánh bắt hải
sản do có các điều kiện thuận lợi: khí hậu tốt, diện tích bãi triều lớn,
nước trong, ngư trường ven bờ và ngoài khơi có trữ lượng hải sản cao và
đa dạng với cá song, cá giò, sò, tôm,bào ngư, trai ngọc các loại.
7)Tiềm năng cảng biển và giao thông thủy
Bên đặc điểm là vịnh kín ít chịu tác động của sóng gió, vịnh Hạ
Long cũng có hệ thống luồng lạch tự nhiên dày đặc và cửa sông ít bị bồi
lắng. Điều kiện thuận lợi này cho phép xây dựng hệ thống giao thông
cảng biển lớn bên cạnh cảng nước sâu Cái Lân (Hạ Long) và Cửa
Ông (Cẩm Phả). Ngoài ra, Quảng Ninh còn có một hệ thống cảng phụ
trợ như: Mũi Chùa, Vạn Gia, Nam Cầu Trắng. Mục tiêu đến năm 2010
sẽ xây dựng hoàn chỉnh cảng Cái Lân với 7 cầu cảng, công suất hơn 14
triệu tấn cho phép tiếp nhận tàu trọng tải trên 5 vạn tấn.
8) Đa dạng sinh học
Vịnh Hạ Long là nơi tập trung đa dạng sinh học với 2 hệ sinh
thái điển hình là "hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới"
và "hệ sinh thái biển và ven bờ". Trong mỗi hệ lớn nói trên lại có nhiều
dạng sinh thái.
a) Hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới
Hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở vịnh Hạ Long
rất đặc trưng, phong phú với tổng số loài thực vật sống trên các đảo
khoảng trên 1.000 loài. Một số quần xã các loài thực vật khác nhau bao
vỏ, 55 loài giun nhiều tơ, 57 loài cua.
• Dạng sinh thái hang động và tùng, áng: dạng sinh thái này tại vịnh
Hạ Long rất tiêu biểu và hiếm nơi có được. Đặc biệt khu vực Tùng
Ngón là nơi cư trú của 65 loài san hô, 40 loài động vật đáy, 18 loài
rong biển. Tại đây cũng có 4 loài sinh vật quý hiếm được ghi
trong sách đỏ Việt Nam.
• Dạng sinh thái đáy mềm: đây là dạng sinh thái của quần xã cỏ
biển với 5 loài, là nơi sống của 140 loài rong biển, 3 loài giun nhiều
tơ, 29 loài nhuyễn thể, 9 loài giáp xác.
• Dạng sinh thái bãi triều không có rừng ngập mặn: sinh vật sống
trên vùng triều đặc trưng là động vật nhuyễn thể hai mảnh vỏ và giun
biển có giá trị dinh dưỡng cao như sá sùng, hải sâm, sò, ngao v.v
Hệ sinh thái biển:
• Thực vật phù du: ở vịnh Hạ Long có 185 loài.
• Động vật phù du: vùng Hạ Long-Cát Bà có 140 loài động vật phù
du sinh sống.