ọc
NGOẠI
THƯƠNG
rỂ
NGOẠI
THƯƠNG
ỉ
KÍNH TẾ
ĐỐI
NGOẠI
HỂN CẤC NGÀNH CÔNG
SẾN
LƯỢC
PHÁT
TRIỂN
J
A
VIỆT
NAM
inh viên ĩ
PHẠM
THỊ XUÂN ĐUNG
:
NHẬT
2
: K41F
-
KTNT
ương,
dẫn ỉ
ThS.
VIỆT
NAM
Họ và tên
sinh
viên
Lớp
Khoa
Giáo viên hướng dỄn
THU
VIÊM!
Z00fe
ị
PHẠM
THỊ XUÂN
DUNG
NHẬT
2
K41F-
KTNT
ThS.
NGUYỄN
THỊ HẢI
YẾN
HÀ
NỘI,
li
-
2006
MỤC LỤC
Lời
nghiệp
phụ
trợ
3
1.2.
Khái
niệm
về công
nghiệp
phụ
trợ
4
1.3.
Những đặc
điểm
chính 7
li.
Vai
trò của công
nghiệp
phụ
trợ
trong
chiến
lược phát
triển
công
nghiệp
ở
Việt
doanh
nghiệp
vừa và nhỏ 12
2. Tranh
thủ
được
nguồn
ngoại lục
từ
nước ngoài 13
2. Ì.
Tạo môi trường
thuận
lợi
đế
thu
hút các nhà đầu tư
trực
tiếp
nước
ngoài 13
2.2.
CNPT
giúp
chuyển
giao
công
nghệ
từ
các
tài
chính 17
4.
Các
quan
hệ
liên
kết
khu
vục
và toàn
cầu,
ảnh
hưởng
của
các
tập
đoàn xuyên
quốc
gia
18
5.
Cơ
chế
chính
sách
của
nhà nước
liên
quan
20
li.
Thực
trạng
phát
triển
một số ngành cóng
nghiệp
phụ
trợ
ở
Việt
Nam
23
1.
CNPT
ngành ótô
23
1.1.
Giới thiệu
chung
23
1.2.
Chính sách phát
triển
CNPT
trong
lĩnh
vực ôtô
25
máy 35
2.3.
Thực
trạng
phát
triển
CNPT
trong
ngành công
nghiệp
xe
máy ở
Việt
Nam 40
3.
CNPT
ngành
điện
-
điện
tử
43
3.1.
Giới thiệu
chung
43
3.2.
Chính sách phát
triển
CNPT
5.
CNPT
ngành giày dép
52
Chương
3:
Định hướng
chiến
lược
và
giải
pháp phát
triển
CNPT
Việt
Nam
55
ì.
Quan
điểm,
định hướng phát
triển
CNPT
Việt
Nam 55
1.
Quan
điểm
phát
triển
mó 58
1.1.
Xây
dựng
một
qui
hoạch
tổng
thế
cho
ngành cõng
nghiệp phụ
trợ Việt
Nam
58
Ì .2.
Soạn
thảo
các chính sách phát
triển
công
nghiệp phụ
trợ
phù hợp
61
Ì .3.
Tiếp
tục cải
cách
khối
ngoài
73
Ì .7.
Xây
dựng
cơ
chế
quản
lý chất
lượng
hàng hóa
74
2.
Các
giải
pháp
mang
tầm
doanhjighịêp
75
2.
Ì.
Xây
dụng
mối
quan
hệ
với
các
doanh
niệm
cụ
thể
về ngành này.
Hiện
nay
ở nước
ta
công
nghiệp
phụ
trợ
đang được
thai
nghén và phát
triển.
Nhưng
hầu
hết
các
doanh
nghiệp
chưa
nhận
thức hết
được tẩm
quan
trọng
của ngành
công
Mặt
khác,
do
chưa có đầy đủ khái
niệm
mang
tính pháp lý
đối
với
các ngành công
nghiệp
phụ
trợ
nên
việc
thực
thi
một cách có
hiệu
quự các
biện
pháp thúc đẩy các
ngành này vẫn còn hạn
chế.
Hơn nữa
việc
phát
triển
công
nghiệp
kinh tế
còn nhỏ
bé,
việc
giựi
bài toán
quan
hệ
giữa
phát
triển
công
nghiệp
phụ
trợ
và khu vực hạ
nguồn
lại
càng
phức tạp
gấp
bội.
Vì vậy cần có
những
chiến
lược và chính sách để phát
triển
công
nghiệp
phụ
triển
công
nghiệp
phụ
trợ trong chiến
lược phát
triển
công
nghiệp
Việt
Nam, vì công
nghiệp
phụ
trợ
có
vai
trò đặc
biệt
quan
trọng trong
phát
triển
công
nghiệp
của mỗi
quốc
gia.
Vì đây là một đề
tài
mới và
của
bài khóa
luận
là:
Trên cơ sở
những
lý
luận
chung
về công
nghiệp
phụ
trợ
người
viết
cố
gắng
đưa
ra
một cách
hiểu
khái quát và
thống nhất
về ngành công
nghiệp
phụ
trợ.
Từ đó vận
dụng
vào
Nam để phân tích
những
giải
pháp
trong chiến
lược phát
triển
còng
nghiệp
của
Việt
Nam, đổng
thời
đề
ra
một số
giải
pháp nhằm phát
triển
công
nghiệp
phụ
trợ
trong
thời
gian
tới.
Đối
tượng
nghiên cứu
sản xuất
trong
nước và các
doanh
nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài
hoằt
động
trong
lĩnh
vực cõng
nghiệp
phụ
trợ
ở
Việt
Nam,
tập
trung
vào các năm
từ 2001
đến nay.
Kết cấu của
bài khóa
luận
gồm 3 chương:
Chương
Ì:
Khái quát
chung
Việt
Nam
2
Khoa
luận
tốt
nghiệp
Chương Ì
Khái quát
chung về
ngành công
nghiệp
phụ
trợ
ì.
Khái
niệm
về ngành công
nghiệp
phụ
trợ:
1.
Khái
niệm:
1.1.
Sự
ra đời
của ngành công
nghiệp
phụ
lập
và riêng
biệt
bắt
đầu
tại
Nhật
Bản vào
thời
kỳ phát
triển
kinh
tế "thọn
kỳ".
Đây là
thời
kỳ mà nền
kinh
tế
Nhật
Bản chủ yếu là nền
kinh
tế gia
công
xuất
khọu.
Nhật
Bản
phải
nhập khọu
giải
pháp
hiệu
quả. Trong
giai
đoạn
đầu, Nhật
chú
trọng
đầu tư vào máy
móc
thiết
bị,
dây
chuyền
sản
xuất,
mua
lại
các
bằng
phát
minh
sáng
chế,
từ
nước
ngoài ở khâu sản
xuất
để
trọng
ngay từ
khâu
cung
ứng nguyên
vật liệu
đầu vào
bằng
cách xây
dựng
một cơ
cấu
kinh
tế
"hai
tầng".
Trong
đó,
Nhật
đã thành
lập
các
doanh
nghiệp
"vệ
tinh"
vừa và nhỏ
trong
nước có khả
năng
doanh
nghiệp
vệ
tinh
như
vậy
đã
ra đời.
3
Khoa
luận
tốt
nghiệp
1.2.
Khái niệm
vé
công
nghiệp
phụ
trợ:
Thuật
ngữ "công
nghiệp
phụ
trợ"
hay "công
nghiệp
hỗ
trợ"
(Supporting
Vì
thế
khóa
luận xin
phép được trích dân
một
số
khái
niệm
được sử
dụng
trên
thế
giới
sau
đó
lạy
một khái
niệm
mà
bàn thân
người
viết
cho
là
hợp lý
nhạt
để phân tích cho các
phần sau.
Ví dụ
những
vật
dụng
cần
thiết
như nguyên
liệu
thô.
phụ tùng và hàng hoa tư
bản,
cho
công
nghiệp
lắp
ráp (gồm
ôtô. điện. điện
tử).
Bao gồm các
ngành công
nghiệp
sản
xuạt
hàng hoa
trung
gian
và hàng hoa tư bàn cho các ngành công
nghiệp lắp
ráp". Trong
định
nghĩa
ráp, nhạn
mạnh
vào
3
ngành công
nghiệp lắp
ráp chính
là: ôtô. điện.
điện
tử.
Bời vì
trong
sản
xuạt theo
kiểu
lắp
ráp.
các ngành
CNPT
thường có sự
trùng
lắp với
nhau
nên có thê cùng
sử dụng chung
các nsành
CNPT.
Phụ lùn".
linh
kiện
hai,
khái
niệm
CNPT
được
Ấn Độ
sử
dụng
như một
thuật
ngữ
chính sách, được định
nghĩa
là một
hoạt
động
kinh
doanh
công
nghiệp
tham
gia
hoặc
dự
định
tham
gia
vào
việc
chế
(Luật
Công
nghiệp, 1951).
Vồi
ý
nghĩa
là một nhóm
trong
công
nghiệp
quy
mô nhỏ
do
vậy không
có
chính sách,
chiến
lược riêng cho
việc
phát
triển
ngành còng
nghiệp
này.
Như
vậy
ngành
CNPT
trong
khái
niệm
của
Bộ
Công
nghiệp
và thương mại
quốc
tế
Nhật
Bản
nêu
ra
là
CNPT
chỉ
đơn
thuần
là một
hoạt
động
kinh
doanh
công
nghiệp
chứ
không
phải
là một ngành công
nghiệp
do
(Supporting Industry)
là khái
niệm
đế
chỉ toàn
bộ những
sản phẩm công
nghiệp
có
vai
trò hỗ
trợ
cho
việc
sản
xuất
các thành
phẩm chính; cụ
thế
là
những
linh
kiện,
phụ
liệu,
phụ tùng, sản phẩm bao bì,
nguyên
liệu
để sơn
nhuộm, và
thể
phân tích một cách
cụ
thể
khái
niệm
ngành công
nghiệp
phụ
trợ
như
sau:
Trưồc
hết
các
sản phẩm của ngành
CNPT là các
sản phẩm công
nghiệp
-
nghĩa
là
đã có hàm
lượng
lao
động
kết
tinh
trong
các sản phẩm đầu
khác
cũng
cần
phải
phân
biệt
giữa
ngành
CNPT và các
ngành công
nghiệp
chính.
Các
ngành công
nghiệp
chính
là các
ngành
tạo
ra
các
thành
phẩm
cuối
cùng.
Đồng
thời
nó
cũng
phải đạt
lực
cỗa nền
kinh
tế
quốc
gia.
Còn
ngành
CNPT
chỉ
sản
xuất ra
các
sản
phẩm sơ
chế
hoặc
các
sản
phẩm
trung
gian,
có
vai
trò hỗ
trợ
và
bổ
sung
cho
như đầu
máy
xe,
thân
xe,
bánh xe, thường không được
coi
là
sản
phẩm
cỗa
ngành
CNPT
vì
chỗ
yếu
do các công
ty
có
qui
mô
lớn
sản
xuất.
Trong
ngành này, sản phẩm cỗa ngành
CNPT
là
những
linh
ngành công
nghiệp
bổ
trợ
không chỉ
tạo ra
các sản phẩm
trung
gian
hay các sản phẩm sơ
chế
mà nó
còn
có
thể tạo ra
các thành phẩm
đế bổ
sung
cho các ngành công
nghiệp
khác.
Ta
có
thể lấy
ngành công
nghiệp
thép
làm ví
dụ.
Các
có
liên
quan
như: sản
phẩm cỗa ngành công
nghiệp khai
khoáng, ngành công
nghiệp
năng
lượng
như ngành
điện,
ngành
than,
Nghĩa
là
CNPT
chỉ
được
coi
như một bộ
phận
cỗa
các ngành công
nghiệp
bổ
trợ
nói
chung
mà
xuất,
công
nghiệp chế tạo
hàng tiêu
dùng,
mà
dựa trên
mức
độ
phức
tạp
cùa ba công
đoạn
sản
xuất
chính
từ chế tạo vật
liệu,
gia
công phụ
6
Khoa
luận
tốt
nghiệp
tùng
linh
kiện,
tới
lấp
không sử
dụng
kỹ
thuật
tích hợp
phức
tạp
từ
nhiều lĩnh
vực chuyên ngành khác
nhau
như
các
ngành
lấp
ráp (máy móc,
ôtô, ).
sản phẩm cộa
CNPT
vừa
có
thể
được dùng
trong
nước
hoặc
xuất
khẩu.
Với đặc
điểm
nghiệp
phụ
trợ:
Nhà lắD ráp
í
Ngành công
nghiệp
phụ
trợ
1
Linh
phụ
kiện
Cao
su
Nhựa
Điện
Ốc vít
Lò xo
Ép
Cán
Đúc Dấp Máy
Cán Xử lý
—3—
Vật
liệu
Ép
Nguyên
liệu
thô
chủ yếu được dùng
bởi
các nhà
hoạch định chính sách.
•
Phạm
vi của
CNPT
phụ
thuộc
vào mục
đích chính sách,
và sẽ
quyết
định
những
ngành công
nghiệp
có
trong
định
nghĩa
về
CNPT.
Phạm
vi
chính:
Những ngành công
nghiệp
cung
nghiệp
cung
cấp toàn
bộ
hàng
hoa
đầu
vào
gồm phụ
tùng, linh kiện,
công
cụ,
máy móc và
nguyên
liệu.
Sản
phổm
cuối
cùng
Lắp
ráp
Lắp
ráp chưa hoàn
chỉnh
Hàng
hóa
trung gian
Phụ
tùng
Linh kiện
chức
năng
của
ngành
CNPT,
theo
Giáo
sư
Ichikavva
Kyoshiro
(chuyên
gia
tư
vấn
đầu tư cấp cao của
Văn
phòng
JETRO
tại
Việt
Nam) có
thế chia
sản
phẩm
của
ngành
CNPT
ra
làm
2
ỉ
PHỤ TÙNG,
LINH
KIỆN
(PARTS)
Lốp
cao su
Sán
phẩm
nhựa
Điên
tủ
Đinh,
ốc
vít, lò
xo
Kim
chi,
khuy,
Nhóm các
sản
phẩm
trung gian
thông qua quy trình
sản
xuất:
NGUYÊN
LIỆU
THỒ
QUY
Vai trò của
CNPT
trong
chiến
lược
phát
triển
công
nghiệp
1.
Phát huy
nguồn
nội lực
quốc
gia
1.1.
Tạo
nền
móng
vững chắc
cho
các
ngành công nghiệp
chế tạo
Đây là
vai
trò
rất
đặc trưng của ngành
CNPT.
là các ngành công
nghiệp
chế
tạo
sẽ
phải
phụ
thuộc
vào
nhừp
khẩu.
Nếu một
quốc
gia
phải
phụ
thuộc
vào
linh
kiện
nhừp
khẩu từ
nước ngoài thì
ngành công
nghiệp
chế
tạo
của
quốc
gia
có
thể
khẳng
định
rằng,
ngành
CNPT
đóng
vai
trò là nền móng
vững
chắc
để
tạo
đà cho các ngành công
nghiệp
chế
tạo
phát
triển,
nâng cao
nội
lực
cho
nền công
nghiệp
của
quốc
gia,
tạo
suất lao
động,
trình
độ
công
nghệ,
sản
phẩm,
qui
mô
tài
chính,
kinh
nghiệm quản
lý,
phương
thức thanh
toán,
Có
thể
thấy
rằng,
việc
phát
triển
ngành
CNPT
không phái là tiêu chí
trực
tiếp
cho các ngành công
nghiệp
chính.
Lợi
thế
thứ
nhất
là
các
doanh
nghiệp
trong
ngành
CNPT
sẽ
tạo
được
nguồn cung
đẩu vào ổn
định,
do đó
đảm
bảo được khả năng
giao
hàng cho các
doanh
nghiệp
trong
ngành công
nghiệp
bị
gián
đoạn.
Mặt khác, ngành
CNPT
phát
triển
sẽ kích thích các nhà sản
xuất
đầu
tư
nhiều
hơn vào
máy
móc,
dây
chuyển
thiết
bị,
vì họ có
thể
yên tâm về
tính đệng bộ và
kịp
thời
trong
sản
xuất.
Lợi
thế thứ hai
tố
đầu vào, thông qua
đó
nâng cao năng
lực cạnh
tranh
cho sản phẩm
cuối
cùng
phục
vụ
người
tiêu dùng. Ví dụ công
nghiệp
da giày của
Italia
nổi
tiếng
thế
giới
một
phần là
nhờ
mối
liên hệ
chặt
chẽ
và thường xuyên
giữa
các
Italia
được thông
tin
thường xuyên và cập
nhật
về xu
hướng
mốt
mới
đối với
các
kiểu
giày,
màu
da,
loại
da,
các
kỹ
thuật
chế
biến
da tiên
tiến,
giúp họ
lập
kế
hoạch
hoạt
động thích hợp
giảm
chi phí,
hạ giá thành
sản
phẩm, nâng cao giá
trị
gia
tăng
cho sản
phẩm
cuối
cùng.
Như đã trình bày
ở
trên,
nếu
CNPT
không phát
triển
sẽ
buộc
các
doanh
nghiệp
sản
xuất
thành phẩm
phải
nhập khẩu
nguyên
tăng
chi
phí đẩu vào dẫn đến
việc
khó
cạnh
tranh
được
với
những quốc
gia
có
ngành
CNPT
phát
triển.
Do
đó,
chủ động được
nguện
nguyên
liệu,
phát
triển
được
các ngành công
nghiệp
ở
thượng
nguện
năng
cạnh
tranh của
doanh
nghiệp
mình.
Cuối
cùng sự phát
triển
ngành
CNPT
sẽ thúc đẩy
tốc
độ
đổi
mới
trong
các ngành công
nghiệp
chính.
Bởi lẽ
sự tác động
giữa
ngành
CNPT
và ngành
công
nghiệp
chính
là sự
dùng,
để
đổi
mới
cải
tiến
chất
lượng
đờu
ra,
nhằm
thoa
mãn
yêu
cờu
của khách hàng
và
nâng cao
lợi
nhuận
của mình.
Đồng
thời,
điều
này
cũng
trở
thành cơ
hội
cho ngành
Thúc đẩy sụ
phát triển
của các doanh nghiệp vừa và
nhỏ
Đối với
các
nền
kinh tế
đang phát
triển,
việc
đưa
ra
các
chính sách
khuyến
khích phát
triển
các
doanh
nghiệp
vừa
và
nhỏ được
coi
là một
trong
những
giải
pháp
mắt có
thể tận
dụng
được
tối
đa và
hiệu
quả
mọi
nguồn
lực
về
vốn,
nhân
lực, trong
nước.
Mặt
khác,
đối với bất
cứ
quốc
gia
nào thì các công
ty
vừa và nhỏ
cũng
đóng
vai
trò cùa
chiếc
Để
tái
sinh
nền
kinh tế sau chiến tranh,
Nhật
Bản đã duy
trì
một
cơ
cấu
kinh tế "hai
tờng"
trong
đó
các
doanh
nghiệp
vừa
và nhỏ đóng
vai
trò
là
nguồn
cung
cấp
và
gia
công các
linh
cờu
như
Toyota
Motors,
Nissan
Motors,
Mitsubishi
Motors,
Sony,
Sharp,
là
rất
nhiều
nhóm
các
doanh
12
Khoa
luận
tốt
nghiệp
nghiệp
vừa
và
nhỏ đóng
vai
trò là
doanh
nghiệp
vệ
và nhỏ sản
xuất.
Vì
vậy,
việc
đưa
ra
các chính sách
khuyến
khích phát
triển
ngành
CNPT
cũng
sẽ
tạo
điều
kiện
thuận
lợi
cho các
doanh
nghiệp vừa
và nhỏ
trong
quá trình
tiến
hành
hoạt
động
trong
nước.
2.
Tranh
thủ
được
nguồn
lực từ
nước ngoài
2.1.
Tạo môi
trường thuận
lợi
để
thu hút các
nhà đầu tư
trực tiếp
nước
ngoài
Theo
các chuyên
gia
kinh tế,
một
quẵc
gia
dù có ưu
thế
về
lao
nào
cũng
luôn
đặt ra
câu
hỏi:
"Chúng tôi sẽ
có môi
quan
hệ hợp tác
nào,
có
các
doanh
nghiệp
vệ
tinh
nào
khi
quyết
định đặt
dự án
đầu
tư ở
đây?".
Một
khi
các
doanh
nghiệp
cho các nhà đầu tư
khi
quyết
định
tiến
hành sản
xuất
kinh
doanh
tại
quẵc
gia đó.
Bản thân các
tập
đoàn và các công
ty lớn
về
lắp
ráp
hiện
cũng
chỉ giữ
lại
trong
quy trình của mình các khâu nghiên
cứu,
phát
triển
sản phẩm
và
Quẵc không
chỉ tạo ra
một
hành
lang
pháp lý
ổn
định
mà
còn
xây
dựng
những
yếu
tẵ thuận
lợi
về
đào
tạo lao
động,
phát
triển
CNPT,
để
các nhà đầu tư yên
tâm
khi
đầu
tư
13
Quốc
đã
sản
xuất
được
mũi, chỉ,
da,
nói
chung
tới
80%
hàm
lượng nguyên phụ
liệu
trong
sản phẩm.
Trong
khi
đó
ngành công
nghiệp
da giày của
Việt
Nam
phải
nhập
khẩu
từ
60 đến 80% nguyên phụ
liệu.
tiếp
nước ngoài
(FDI) thì
CNPT
phải
đi tiên
phong,
tồo
nền
tảng
cơ
sở
hồ
tầng
để
cung
ứng các
sản
phẩm đầu vào
cần
thiết
cho các ngành công
nghiệp lắp
ráp.
Căn cứ
theo
quá trình các
doanh
nghiệp
đầu tư
những
doanh
nghiệp tổn
tồi
trước
khi
có đầu tư
trực
tiếp
nước
ngoài
FDI,
chuyên
sản xuất
để
cung
ứng cho các công
ty lắp ráp,
sản
xuất
sản
phẩm
tồi
thị
trường
nội địa. Khi
có
FDI,
một bộ
phận
nhiên hình thành
mà
các công
ty
CNPT
nội
địa
phải tỏ ra
có
tiềm
năng
cung
cấp
linh
kiện,
phụ
kiện
với chất
lượng và giá thành
cồnh
tranh
được
với
hàng
nhập.
Loồi
2:
là
nhũng
doanh
từ
các
doanh
nghiệp FDI.
Loồi
3: là
những
doanh
nghiệp xuất hiện
sau
khi
các
doanh
nghiệp
có
vốn
đầu tư
trực
tiếp
nước ngoài
đã
tiến
hành
hoồt
động sản
xuất
kinh
doanh.
Sau
một
nước ngoài sẽ đến đầu
tư.
Do
sự
tham
gia
của các công
ty
nước ngoài
này
mà
các
doanh
nghiệp
sản
xuất
CNPT
trong
nước sẽ
có cơ
hội
học
hỏi
về
kỹ
thuật,
công
nghệ cũng
như
kinh
với
hàng
nhập.
Bên
cờnh đó,
Chính
phủ cũng
cần
có
những
chiến
lược,
chính sách
để
thúc đẩy các
doanh
nghiệp
loời
2
ra
đời.
Đồng
thời
cũng
phải tờo
điều
kiện
môi trường để các công
ty
nhỏ
ra
các chính sách cụ
thể
và
dài hờn
để
phát
triển
các
doanh
nghiệp
loời
Ì và
loời
2,
cũng
như Chính phủ không
tờo
môi trường
kinh
doanh
ổn định
cho
các
doanh
nghiệp
nước ngoài khác
(doanh
nghiệp
loời
thu
hút đầu tư nước ngoài.
2.2.
CNPT
giúp
chuyển
giao
công nghệ
từ các
doanh
nghiệp
FDI
Việc
chuyển
giao
công
nghệ
cùa các
doanh
nghiệp
FDI cho các
doanh
nghiệp
trong
nước thường được
tiến
hành qua
3
kênh
(hay
tời
nước ngoài
(tức
doanh
nghiệp FDI).
Để
hoờt
động có
hiệu
quả
tời
nước
ngoài,
MNC
S
thường tích cực
chuyến
giao
công
nghệ
và năng
lực
kinh
doanh
cho
các công
ly
con
(bằng
cách đào
giao
công
nghệ
giữa
doanh
nghiệp
FDI
và
doanh
nghiệp
bản xứ
hoờt
động
trong
cùng ngành
15
Khoa
luận
tốt
nghiệp
Hình
thức
3: Chuyển
giao
hàng dọc
giữa
các
doanh
nghiệp
(vertical
ôtô,
xe
máy, )
cung
cấp cho
doanh
nghiệp FDI.
Khi đó, công
nghệ
được
chuyển
giao
từ
doanh
nghiệp
FDI
sang
doanh
nghiệp
bản xứ,
và đây là
hiệu
quả
lan
toa
(spill-over
effect)
lớn nhất,
quan
trọng nhất
lượng cao
để
phục
vụ cho quá trình
lắp ráp,
sản
xuất
nên
các
doanh
nghiệp
FDI thường
tiến
hành
chuyển
giao
công
nghệ
cho
các
doanh
nghiệp trong
nước
thuộc
loại
Ì và
loại
2.
Và
tới
phân tích các nhân
tố
ảnh hưởng là
rất
quan
trọng.
Sau đây là một số
nhân tố
ảnh
hưởng
đến sự
phát
triển
công
nghiệp
phụ
trợ.
1.
Thị trường của khu vực hạ
nguồn
2
Khả
năng
đảm
bảo sự tương thích
giữa
quy
mô
của các ngành phụ
trợ
mô
nhỏ,
sản
xuất
những
sản phẩm có
chủng
loại
đa
dạng
và
sản
lượng không
lớn
thì lượng
2
Khu vực hạ
nguồn:
Là khu vực có mối
quan
hệ
chặt
chẽ
với
CNPT. gồm
các ngành công
nghiệp:
dệt
may
giày dép.
sẽ vấp
phải
sự
từ
chối
của
chính khu vực hạ
nguồn
trong
nước và gập
khó khăn
khi
muốn
xuất
khẩu sản
phẩm phụ
trợ
ra
nước ngoài.
Khả
năng
đảm
bảo yêu câu về
chủng
loại,
chất
lượng
và
thời
gian
là
những
đơn
hàng
xuất
khẩu.
2.
Tiến
bộ
khoa học và công nghệ
Một
trong
những
vai
trò
rất
lớn
của
CNPT
là
tạo
nền móng
vững chắc
cho
các ngành công
nghiệp
chế
tạo,
góp
phần
tạo
nói
riêng
và các
ngành công
nghiệp
chính
nói
chung.
Tại
Việt
Nam, các nhà đầu tư nước ngoài luôn
than phiền
về
chất
lượng
các phụ
tùng,
linh
kiện
mà
các
doanh
nghiệp
phụ
trợ
Việt
Nam
cung
cấp nên
phụ tùng
đơn
giản
không
đảm
bảo
về
chất
lượng
để
cung
cấp cho các
doanh
nghiệp lắp
ráp
3.
Nguồn
lực
tài chính
Giải
quyết
quan
hệ
giữa
khu vực công
nghiệp
phụ
trợ
và
khu vực
độ
rủi
ro
trong
đầu tư
cao.
Từ
đó cho
thấy
việc
cân
đối
nguồn
lực
tài chính cho
đẩu
tư phát
triển
công
nghiệp
và chính sách huy động các
nguồn
lực
ấy có
vai
trò
hết
sệc
to
lớn
và toàn
cầu,
ảnh
hưởng
của
các
tập
đoàn
xuyên
quốc
gia
Với
xu
thế
toàn cầu hoa
hội
nhập
kinh tế
quốc
tế,
các
quan
hệ liên
kết
kinh tế
quốc
tế
ngày càng
mở
rộng,
toàn
cầu.
Mạng
lưới
phân
công
lao
động ngày càng
chặt
chẽ
khiến
cho khái
niệm
ngành công
nghiệp
của
một nước đang
mờ
dần
và
bị
thay thế bởi
khái
niệm
ngành công
nghiệp
của
khu vực hay cao hơn
là
châu
phụ
tùng,
linh
kiện
đến
lắp
ráp hoàn
chỉnh
tại
một nhà máy
của
mình.
Nếu
mở
bên
trong
một
chiếc
máy
tính,
với
nhãn
hiệu
dù
là
"Made
in
China"
(chế tạo
tại
quốc
gia phải
cân
nhắc
thận
trọng việc
quyết
định
mức độ đẩu tư vào
khu vực công
nghiệp
phụ
trợ trong
nước.
Khuynh
hướng
cần
tránh
là
đầu tư khép kín
theo
kiểu
khu vực hạ
nguồn
cần
gì
thì
đầu tư phát
triển
khu vực phụ
mặt chù
yếu:
Quan
điếm
của
nhà
nước
về sự
phát
triển
công
nghiệp
phụ
trợ trong
định
hướng
chiến
lược phát
triển
công
nghiệp.
Để có
những
chiến
lược phát
triển
CNPT
thì nhà nước
phải
có
làm
thế
nào
để xác
định
đúng các ngành này. Vì
thế vẫn
chưa có văn bản pháp lý nào đưa
ra
một
18
Khoa
luận
tốt
nghiệp
khái
niệm
CNPT
đầy
đủ
dẫn đến
việc
thực
thi
một cách
hiệu
quả
các
biện
pháp thúc đẩy các ngành này
khoa
học
và
công
nghệ
ở
khu vực
CNPT
là cụ
thể
hóa
những quan
điểm
định
hướng
của
Nhà
nước
để
thúc đẩy phát
triển
CNPT.
Quan
điểm,
định
hướng
có
rõ
ràng,
đúng đắn đến đâu nhưng
Tình hình chính sách phát
triển
công
nghiệp
phụ trợ ở
Việt
Nam
trong
thời
gian
qua
Đã
có
người
cho
rằng
ở
Việt
Nam
chưa có ngành
CNPT
hoặc
nếu có thì
chỉ
ở mức
độ sơ
khai.
Tuy
nhiên,
kết
JETRO
gịn
đây
về tình hình xây
dựng
và
phát
triển
CNPT ở
Việt
Nam cho
thấy
các
nhận
định
đó
đều không hoàn toàn xác
thực.
Ngành
CNPT
ở
Việt
Nam đã
và đang phát
triển
ở
Việt
Nam
hơn 10
năm
niên
90
Đây là
thời
kỳ
Việt
Nam
bất
địu
thực hiện
các quy định về
tý
lệ nội
địa
hoa. Thời
kỳ này
nghĩa
vụ tỳ
lệ nội
địa hoa chỉ quy định
đối với
các
doanh
nghiệp
địu tư nước ngoài
tại
Việt
Nam.
Trong
Phụ
Bắt
địu
từ
20%
trong
2 năm
địu
và sau
đó
sẽ tăng dịn lèn
trong
những
năm
tiếp
theo.
Còn
trong
Phụ
lục
2
Thông tư Hướng dẫn
hoạt
động địu tư
trực
tiếp
nước ngoài (Hướng dịn về địu
tư vào
lĩnh
vực
chế tạo