BÀI TÌM HIỂU.
Câu 1: Rào cản kỹ thuật mà hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam thường gặp phải khi
nhập khẩu vào các thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản.
Theo các tài liệu của Tổ chức Thương mại thế giới (Diễn đàn về thương mại và phát triển
của Liên hợp quốc - UNCTAD - từ năm 1994), thì có thể hiểu hệ thống các rào cản trong
thương mại gồm hai loại: rào cản thuế quan và rào cản phi thuế quan.
Rào cản thuế quan là loại rào cản phổ biến nhất và mang tính chất truyền thống trong
thương mại quốc tế, được xác định và phân loại trên cơ sở các mức thuế áp dụng đối với
hàng hoá nhập khẩu và xuất khẩu như thuế phi tối huệ quốc, thuế tối huệ quốc, thuế quan
ưu đãi phổ cập, thuế quan áp dụng đối với khu vực thương mại tự do, thuế quan ưu đãi
chuyên ngành Hiện nay, do loại hàng rào thuế quan có bản chất mâu thuẫn với tiến
trình tự do hoá thương mại, nên loại rào cản này có xu hướng ngày càng bị hạn chế trong
quan hệ thương mại.
Rào cản phi thuế quan bao gồm nhiều loại khác nhau, ví dụ: các biện pháp cấm; hạn
ngạch về số lượng hoặc giá trị được phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu trong một thời kỳ
nhất định; giấy phép xuất - nhập khẩu; thủ tục hải quan; hàng rào kỹ thuật trong thương
mại (TBT); các biện pháp vệ sinh động - thực vật (SPS); các quy định về thương mại
dịch vụ, về sở hữu trí tuệ, bảo vệ môi trường; các quy định chuyên ngành về điều kiện
sản xuất, thử nghiệm, lưu thông và phân phối các sản phẩm; các rào cản về văn hoá; các
rào cản địa phương…
Trong đó, Theo Hiệp định về các rào cản kỹ thuật đối với thương mại (còn được gọi là
Hiệp định TBT) của WTO phân biệt 03 loại Rào cản kỹ thuật sau đây:
• Quy chuẩn kỹ thuật (technical regulations) là những yêu cầu kỹ thuật bắt
buộc áp dụng (các doanh nghiệp bắt buộc phải tuân thủ).
• Tiêu chuẩn kỹ thuật (technical standards) là các yêu cầu kỹ thuật được chấp
thuận bởi một tổ chức đã được công nhận nhưng không có giá trị áp dụng bắt
buộc; và
• Quy trình đánh giá sự phù hợp (conformity assessment procedure) của một
loại hàng hoá với các quy định/tiêu chuẩn kỹ thuật.
- Các nội dung thường được nêu trong quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn kỹ thuật:
• Các đặc tính của sản phẩm (bao gồm cả đặc tính về chất lượng); hoặc
2011. Đối với thị trường EU, việc xuất khẩu gặp khó khăn do 5 loại rau, quả tươi là húng
quế, ớt, cần tây, mướp đắng và ngò gai vi phạm các yêu cầu về an toàn vệ sinh thực
phẩm và kiểm dịch thực vật.
Theo kết quả khảo sát và phân tích của dự án điều tra vệ sinh an toàn thực phẩm trong
nông sản thực phẩm của Cục Quản lý chất lượng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn vừa công bố mới đây, 38% mẫu rau được phân tích có dư lượng thuốc bảo vệ thực
vật, 28,5% vượt quá hàm lượng Nitrat cho phép, 100% vượt ngưỡng coliform cho phép,
46,8% quá mức E.coli cho phép. Điều này cho thấy nông dân nước ta sử dụng quá nhiều
thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất. Trong khi đó, EU là thị trường khó tính, yêu cầu
cao về chất lượng, toàn bộ lô hàng sẽ bị trả lại khi họ phát hiện ra 1 mẫu có dư lượng
thuốc. Tuy nhiên, các sản phẩm rau quả của nước ta lại chưa đáp ứng được đầy đủ về vấn
đề an toàn thực phẩm và kiểm dịch thực vật. Thông tin thị trường còn hạn chế, nhất là các
quy định cụ thể đối với từng chủng loại mặt hàng nên khó khăn trong công tác dự tính,
dự báo. Sản phẩm rau quả áp dụng quy trình tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt (GAP)
còn ít. Quy mô sản xuất còn manh mún, thiếu đồng bộ về mục tiêu phát triển rau quả.
Việc bố trí các nhà máy chế biến rau quả chưa thực sự hợp lý.
ở nhóm sản phẩm nông - thủy sản XK vào thị trường EU, các biện pháp phi thuế có ý
nghĩa quan trọng trong khu vực nông nghiệp bao gồm các yêu cầu về vệ sinh, kiểm dịch
(SPS), đóng gói, bao gì, khả năng truy soát nguồn gốc và thủ tục hải quan nghiêm ngặt.
Tiêu chuẩn do EU áp đặt được xếp vào hàng các tiêu chuẩn cao nhất trên thế giới và khó
đạt được nhất.
- Theo Vụ thị trường châu Âu, ngoài việc yêu cầu những mặt hàng gỗ phải thực hiện luật
nghề rừng (FLEGT), hải sản phải theo quy định IUU thì phía EU cũng đưa ra những yêu
cầu về kỹ thuật, vệ sinh và chất lượng sản phẩm rất cao nên không phải doanh nghiệp nào
cũng đáp ứng được.
- Bà Nguyễn Thị Thu Sắc, Phó chủ tịch Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam
(Vasep), cho biết hiện EU đã công nhận Cục quản lý chất lượng nông lâm thủy sản
(Nafiqad) đủ tiêu chuẩn kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm để xuất vào EU. Tuy nhiên,
nếu không may một lô hàng thủy sản nào đó bị phía EU kiểm tra nhưng không đạt tiêu
chuẩn của họ thì ngay lập tức hàng bị trả về.
nhiều nước xem xét. Hiện nay một số lượng đáng kể các sản phẩm thuỷ sản của Việt
Nam đã bị trả lại ngay từ khi được nhập tại các cảng của Mỹ bởi vì chúng không phù hợp
với các quy định của Mỹ về yếu tố môi trường, an toàn thực phẩm v.v… đã gây ra nhiều
thiệt hại cho các nhà sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam.
- Một trong những trở ngại khiến xuất khẩu của Việt Nam khó vào Hoa Kỳ đó là các rào
cản pháp luật và kỹ thuật đối với thương mại. Theo đánh giá chung, Hoa Kỳ được cho là
quốc gia có hệ thống luật pháp phức tạp và nhiều rào cản kỹ thuật đối với thương mại.
Trong những năm gần đây, doanh nghiệp Việt Nam thường gặp khó khăn về tiêu chuẩn
lao động và môi trường khi xuất khẩu hàng hóa sang Hoa Kỳ; các vụ kiện chống bán phá
giá và chống trợ giá; hàng rào kỹ thuật và an toàn thực phẩm. Bên cạnh thành công trong
xuất khẩu vào Hòa Kỳ thời gian qua, còn bộc lộ những hạn chế nhất định. Trong đó nổi
lên việc các doanh nghiệp Việt Nam chưa tiếp cận toàn diện, hiểu biết cặn kẽ những quy
định về an toàn thực phẩm, dược phẩm khi xuất khẩu vào thị trường này. Để tăng xuất
khẩu vào thị trường Hòa Kỳ, việc nhanh chóng khắc phục những bất cập nói trên là yêu
cầu trước mắt và cũng là vấn đề xuyên suốt trong quá trình phát triển xuất khẩu của Việt
Nam.
- Theo ông David Lennarz, Nguyên chuyên gia kỹ thuật Cơ quan quản lý an toàn thực
phẩm và dược phẩm Mỹ (FDA), Phó chủ tịch công ty Registrar Corp: các quy định của
FDA khá phức tạp rắc rối nếu ghi nhãn không đúng chỗ, xuống dòng không đúng hay dãn
chữ không đúng cũng có thể bị giữ hàng hóa. Quy cách ghi nhãn, hết sức quan trọng, là
một nguyên nhân hàng đầu khiến nhiều hàng hóa không vào được Hoa Kỳ. Hàng năm,
qua thực tiễn của công ty Registrar Corp cho thấy, rất nhiều doanh nghiệp đã mắc lỗi về
ghi nhãn dẫn đến hàng hóa không xuất khẩu vào được Hoa Kỳ. Điển hình là việc cố gắng
tránh sự cố về nhãn, các doanh nghiệp đã sao chép nhãn của người khác hoặc chỉ tuân
theo một phần của luật. Theo ông David Lennarz để xuất khẩu vào Hoa Kỳ ngoài năng
lực của doanh nghiệp cũng như có những mặt hàng chất lượng, trước tiên các doanh
nghiệp cần nắm được những quy định thực phẩm then chốt của FDA, cụ thể là về Luật
chống khủng bố sinh học; việc đăng ký, đại diện tại Hoa Kỳ, thông báo trước; ghi nhãn,
định dạng, ngôn ngữ; hệ thống phân tích và kiểm soát nguồn nguy hại (HACCP) và tiêu
chuẩn thực hành sản xuất tốt (GMPs)
ngưỡng cho phép đã giảm mạnh. Nếu như năm 2012 vi phạm về ATVSTP của VN tại thị
trường Nhật có 75 vụ, đến tháng 10-2013 chỉ còn 25 vụ. Đây là cố gắng rất lớn của doanh
nghiệp VN, giúp con tôm của VN và thủy hải sản nói chung có mức tăng trưởng khá.
Một tín hiệu vui nữa là cơ quan chức năng của Nhật Bản có thông báo đang xem xét và
sẽ nâng mức dư lượng Ethoxyquin trong tôm nhập khẩu từ VN từ 0,01ppm lên 0,2 ppm.
Nếu không có gì thay đổi, quy định mới này sẽ được áp dụng từ tháng 4-2014, cánh cửa
về rào cản sẽ được mở, khả năng đẩy mạnh con tôm vào thị trường Nhật năm mới sẽ
nhiều hơn bởi chỉ tiêu dư lượng chất này trong tôm vẫn đang là rào cản chính đối với tôm
VN.
- Nhật Bản là nhà nhập khẩu hàng dệt may lớn thứ ba thế giới với trị giá nhập khẩu được
duy trì khá ổn định qua các năm. Trong năm 2009, tuy kinh tế thế giới rơi vào suy thoái
nhưng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng dệt may của Nhật vẫn đạt 31,07 tỷ USD, giảm nhẹ
1,9% so với năm 2008 và tăng 2,2% trong năm 2010, đạt 31,76 tỷ USD. Dự báo trong
năm 2011, trị giá nhập khẩu hàng dệt may của nước này đạt 32,17 tỷ USD, tăng 1,3% so
với năm ngoái. Việt Nam trở thành nhà cung cấp hàng dệt may lớn thứ 2 vào Nhật nhưng
thực tế thì kim ngạch xuất khẩu chưa tương xứng với tiềm năng từ thị trường này. Kim
ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Nhật trong năm 2011 dự báo đạt 1,5 tỷ
USD, tăng 30% so năm 2010. Việt Nam hiện là đối tác lớn nhất của Nhật Bản trong khối
ASEAN với lượng hàng dệt may xuất khẩu chiếm 34,4% trong khối.
Hiệp định Đối tác kinh tế với Việt Nam – EPA là hàng dệt may Việt Nam xuất sang Nhật
Bản phải đạt tiêu chí xuất xứ “hai công đoạn”. Hàng dệt may xuất sang Nhật phải được
sản xuất từ nguyên phụ liệu trong nước, hoặc của Nhật hoặc của các nước ASEAN. Hiện
nay, Nhận Bản đã đạt được tiêu chí xuất xứ “hai công đoạn” đối với mặt hàng dệt may
trong EPA ở cả 6 nước ASEAN (Singapore, Malaysia, Philippines, Brunei, Indonesia,
Thái Lan) và các nước này đều đã được hạ thuế suất thuế xuất khẩu xuống 0%, VN
không thể cạnh tranh được với các nước này.
Hành trình để được hưởng ưu đãi từ EPA của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam lại
không đơn giản, bởi ngành phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu, nhất là
khi trên 80% nguồn nguyên phụ liệu được nhập khẩu này lại không được nhập từ Nhật và
ASEAN.
kháng sinh hạn chế sử dụng trong thực phẩm, mức cho phép hàm lượng tổng
Enro/Cipro trên hầu hết các thị trường nhập khẩu như: Mỹ, EU, Canada, là
50(ng/g). Riêng thị trường Nhật Bản đòi hỏi khắt khe hơn, Nhật nâng mức
cho phép của nhóm này lên 10(ng/g) cao gấp 05 lần mức chung của các nước
khác. Năm 2010, Nhật đã cảnh báo 28/678 lô hàng tôm nhập vào Nhật có
mức kháng sinh Quinolone vượt mức cho phép, chỉ tính riêng 6 tháng đầu
năm 2011 Nhật đã cảnh báo 81/286 lô hàng tôm nhập khẩu vào nước này.
Tuy nhiên, đều nằm dưới ngưỡng 50(ng/g). Đây là tình hình vô cùng tồi tệ
cho mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào thị trường Nhật Bản. Vị
thế con tôm Việt Nam đã mất dần tính chủ lực sau hai sự việc trên. Nhật có
những quy định rất khắt khe không chỉ về chất lượng vệ sinh an toàn thực
phẩm mà còn các quy định về bảo vệ môi trường sinh thái, đây là một trong
những rào cản kỹ thuật làm hạn chế khả năng xuất khẩu thủy sản của Việt
Nam.
- Mặt hàng gạo Việt Nam cũng gặp nhiều khó khăn khi đẩy mạnh xuất khẩu vào Nhật Bản.
Ông Nguyễn Văn Tiến - Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu An Giang
(ANGIMEX) - đơn vị dẫn đầu xuất khẩu gạo sang Nhật trong năm 2012 của Việt Nam,
cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2013, đơn vị này hầu như không thực hiện được việc
xuất khẩu gạo vào thị trường Nhật. Cũng theo ông Tiến, để được xuất khẩu gạo vào thị
trường Nhật, các doanh nghiệp phải vượt qua hơn 500 chỉ tiêu kiểm tra của cơ quan kiểm
soát chất lượng nước này.
- Hàng năm, Nhật Bản đều có kế hoạch hướng dẫn và giám sát thực phẩm nhập khẩu. Năm
nay, các biện pháp an toàn thực phẩm của Nhật Bản càng được thắt chặt. Đối với nông
sản nhập khẩu, Nhật Bản đang tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, giám sát các vi
sinh vật gây bệnh như Enterohemorrhagic, Escherichia coli, Salmonella (các loại vi
khuẩn gây bệnh đường ruột).
Đối với các đối tác xuất khẩu, Nhật Bản yêu cầu đẩy mạnh các biện pháp an toàn từ khâu
nuôi trồng, sản xuất, chế biến… Trường hợp cần thiết sẽ tiến hành kiểm tra thực địa.
Về thiết bị, cơ sở sản xuất, trình độ quản lý của cơ sở chế biến hàng xuất khẩu vào Nhật
Bản, nước này cũng có quy định phải đối chiếu với tiêu chuẩn quản lý vệ sinh của họ.
tranh vào tình trạng phá sản để giành vị trí độc quyền tại nước NK.
- Bán phá giá không độc quyền: biểu hiện các loại hình thức:
• Bán phá giá bền vững ( chính sách phân biệt về giá cả ) là xu hướng bán sản
phẩm trên thị trường thế giới với giá thấp hơn giá nội địa nhằm cực đại lợi
nhuận của nhà sản xuất – xuất khẩu.
• Bán phá giá không thường xuyên ( phá giá chu kì ) : là bán giá XK thấp để
tránh rủi ro của thị trường thế giới và giải quyết vấn đề khó khăn về tài chính
mà công ty đang cần giải quyết gấp. Đây là hình thức phá giá mà nhiều
doanh nghiệp sử dụng nhằm giải quyết hậu quả của việc sản xuất quá dư thừa
loại hàng hóa đó.
Ngoài ra, trên thực tế còn có 2 hình thức BPG khác:
• Bán phá giá đảo ngược ( BPG mở rộng thị trường ): là định giá đối với thị
trường nước ngoài cao hơn so với trong nước. Đây là việc nhà sản xuất bán
hàng hóa với giá cao ở trong nước nhằm hỗ trợ cho giá thấp ở thị trường XK.
• Bán phá giá qua lại: tạo ra sự chênh lệch về giá ( khi hàng hóa trong và ngoài
nước không có sự khác biệt về giá ), từ đó thương mại quốc tế sẽ xảy ra.
Các biện pháp chống bán phá giá:
- Biện pháo chống BPG là các biện pháp mà nước NK có thể sử dụng để chống lại hiện
tượng BPG của hàng NK ( sau khi có kết luận cuối cùng khẳng định có việc BPG gây
thiệt hại đáng kể ). Trong đa số các trường hợp, biện pháp chống BPG là áp đặt thuế
chống BPG với sản phẩm NK ( thuế phần trăm giá trị sản phẩm hoặc thuế cố định trên
đơn vị sản phẩm ). Còn có thể là các hạn ngạch NK hoặc kết hợp giữa hạn ngạch NK và
thuế chống BPG.
- Các biện pháp chống BPG đối với hàng NK được quy định trong luật BPG.
- Ở Việt Nam, theo điều 4 Pháp lệnh chống BPG của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội số
20/2004/PL-UBTVQH11 ngày 29 tháng 4 năm 2004 có quy định:
Điều 4 : Các biện pháp chống bán phá giá:
1. Áp dụng thuế chống bán phá giá.
2. Cam kết về các biện pháp loại trừ bán phá giá của tổ chức, cá nhân sản
xuất, xuất khẩu hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá
• Ngày 26 tháng 7 năm 2013, Ủy ban chống bán phá giá Australia thông báo
chính thức khởi xướng điều tra, áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với
mặt hàng máy biến thế nhập khẩu của Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc,
Indonesia, Thái Lan và Việt Nam 29/07/2013.
Đây là vụ điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá đầu tiên từ thị trường
Australia nhằm vào mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam.
Một số thông tin về vụ việc:
- Hàng hóa bị điều tra: Máy biến thế gồm các mã HS: 850422 và 850423
- Giai đoạn điều tra: dự kiến từ 1/7/2012 - 31/6/2013
Kết luận sơ bộ:
Ngày 20/11/2013, Ủy ban Chống bán phá giá Australia đã công bố kết luận sơ
bộ khẳng định có bán phá giá. Theo đó, Ủy ban Chống bán phá giá Australia
sơ bộ kết luận rằng các nhà sản xuất/xuất khẩu của Việt Nam bán phá giá với
biên độ 3.4%. So với mức thuế sơ bộ đối với các nước/vùng lãnh thổ bị điều tra
khác như Indonesia, Hàn Quốc, Đài Loan (từ 5.3%-20%) thì mức thuế của Việt
Nam là thấp hơn. Ngoài 4 doanh nghiệp của Trung Quốc sơ bộ được kết luận
là có mức thuế suất không đáng kể, các doanh nghiệp khác của Trung Quốc bị
áp mức thuế từ 2,6%-35%.
Trong thời gian thực hiện quyết định sơ bộ, thuế chống bán phá giá tạm thời sẽ
được áp cho sản phẩm bị điều tra kể từ ngày 27 tháng 11 năm 2013, nhằm đảm
bảo ngăn chặn những thiệt hại đáng kể đối với ngành sản xuất trong nước của
Australia, trong khi vụ việc điều tra vẫn đang tiếp tục được tiến hành.
• Ngày 18/10/2012, Bộ Kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ đã ra quyết định chính thức khởi
xướng điều tra chống bán phá giá đối với sản phẩm sợi nhập khẩu từ Việt
Nam, Malaysia, Ai Cập, Pakistan và Thái Lan.
Thông tin chi tiết liên quan tới vụ việc này như sau:
1. Sản phẩm bị điều tra: Sợi xơ Staple (Yarn of Man Made or Synthetic or
Artificial Staple Fibre)
2. Sản phẩm thuộc mã HS: 55.08, 55.09, 55.10, 55.11 (ngoại trừ các sản phẩm
thuộc mã HS: 5509.52, 5509.61, 5509.91 and 5510.20)