Tìm hiểu về phân tích kỹ thuật và ứng dụng một số chỉ báo cơ bản với thị trường Việt Nam (2) - Pdf 23

LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của thị trường tài chính,của nền kinh
tế. Nền kinh tế càng phát triển,càng khẳng định vai trò không thể thiếu của thị trường
chứng khoán trong tiến trình phát triển của cả đất nước,không chỉ với các doanh nghiệp mà
còn cả các cá nhân trong nền kinh tế.Thị trường chứng khoán là nơi tập trung và phân phối
các nguồn vốn tiết kiệm, huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế,cung cấp môi trường đầu tư
cho công chúng, đồng thời nó cũng là nơi đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp và tạo
môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách quản lý kinh tế vĩ mô. Để thực hiện
thành công những mục tiêu đã đề ra và tối đa hoá lợi ích khi tham gia thị trường,mỗi chủ
thể tham gia đều có những chiến lược đầu tư dựa trên các phân tích riêng.Phân tích kỹ
thuật là một trong nhiều cách phân tích khác nhau để lựa chọn một danh mục đầu tư hợp
lý.Phân tích kỹ thuật là phương pháp mà chỉ dựa chủ yếu vào giá và khối lượng để dự đoán
xu thế trong tương lai.Với những ưu thế của mình, phân tích kỹ thuật đã được sử dụng khá
phổ biến và đem lại thành công cho nhiều nhà đầu tư trên thế giới.Với Việt Nam,thị trường
chứng khoán vừa mới bước những bước những bước đi đầu tiên,việc sử dụng các công cụ
phân tích trong quá trình đưa ra quyết định đầu tư còn rất hạn chế vì nhiều lý do.Tuy
nhiên,cùng với sự lớn mạnh nhanh chóng về qui mô, nó cũng đòi hỏi phải có một sự đánh
giá chính xác hơn về giá trị của các hàng hóa tham gia thị trường để phát huy hơn nữa vai
trò của thị trường, đảm bảo một thị trường hiệu quả đối với các chủ thể tham gia.Vì lý do
đó chúng em đã chọn đề tài ”Tìm hiểu về phân tích kỹ thuật và ứng dụng một số chỉ
báo cơ bản với thị trường Việt Nam”.
Bài viết có hai chương:-Chương 1: Lý thuyết chung về phân tích kỹ thuật
-Chương 2: Một số chỉ báo cơ bản và ứng dụng phân tích cổ phiếu
ở thị trường Việt Nam.
1
CHƯƠNG I
LÝ THUYẾT CHUNG VỀ PHÂN TÍCH KỸ THUẬT
1.1.LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CỦA PHÂN TÍCH KỸ THUẬT.
Thực tế, người Nhật là người đầu tiên dùng phân tích kỹ thuật trong phân tích các giao
dịch lúa gạo vào những năm 1800. Phân tích kỹ thuật thực sự bắt đầu mở rộng sau những
phát hiện của các nhà phân tích, điển hình là Charles H.Dow, chủ bút đầu tiên của tờ báo

dự đoán xu thế trong tương lai của toàn bộ thị trường cũng như của từng chứng khoán
2
riêng lẻ. Các nhà phân tích kỹ thuật đã đưa ra 1 vài giả định hỗ trợ cho dự đoán xu thế biến
động của thị trường :
Giả định 1: Giá trị thị trường của bất kỳ một loại hàng hoá hay dịch vụ nào đều hoàn
toàn đươc xác định bởi sự tương tác của cung - cầu.
Giả định 2: Cung - cầu được xác định bởi 1 số nhân tố. Những nhân tố này bao hàm cả
các nhân tố được sử dụng trong phân tích cơ bản, cũng như các quan điểm, những trạng
thái và những phỏng đoán. Thị trường phản ánh tất cả những nhân tố này 1 cách tự động và
liên tục .
Giả định 3: Ngoại trừ 1 số giao động nhỏ, giá của các chứng khoán và thị trường nói
chung có biểu hiện biến động theo các xu thế, các xu thế này diễn ra trong những khoảng
thời gian xác định.
Giả định 4: Các xu thế trội thay đổi tương ứng với những sự dịch chuyển theo quan hệ
cung - cầu . Những sự dịch chuyển này bất kể do nguyên nhân nào gây ra, thì sớm hay
muộn cũng đều được phát hiện dựa vào các phản ứng của chính thị trường.
Về một số phương diện, những giả định này gây nhiều tranh cãi. Các nhà phân tích
cơ bản hàng đầu và những người theo lý thuyết thị trường hiệu quả đặt câu hỏi về giá trị
của những giả định này .
Hai giả định đầu tiên dường như được chấp nhận bởi các nhà phân tích kỹ thuật và
các nhà phân tích khác. Giá chứng khoán được xác định dựa trên quan hệ cung -cầu, và
quan hệ này phụ thuộc vào nhiều yếu tố tác động. Thị trường liên tục phản ánh những nhân
tố này. Nhưng các nhà phân tích kỹ thuật cho rằng sự ảnh hưởng của các nhân tố phi logic
(trạng thái tâm lý, phỏng đoán,….) sẽ kéo dài trong 1 khoảng thời gian nhất định.Trong khi
đó các nhà phân tích thị trường khác lại cho rằng các nhân tố phi logic chỉ ảnh hưởng trong
ngắn hạn, còn các nhân tố logic mới tác động trong dài hạn.
Với giả định 3, các nhà phân tích kỹ thuật kỳ vọng giá chứng khoán biến động theo các
xu thế diễn ra theo những khoảng thời gian dài bởi vì những thông tin cập nhật có thể tác
động đến quan hệ cung - cầu không xuất hiện trên thị trường tại 1 thời điểm, mà trong 1
khoảng thời gian. Các nhà phân tích kỹ thuật không kỳ vọng giá sự điều chỉnh giá diễn ra

chính là lên giá hoặc ngược lại trong 1 thị trường gía xuống. Thường thì những phản ứng
như vậy kéo dài từ 3 tuần đến vài tháng.
Luồng vận động thứ 3, và thường là không quan trọng, chính là sự biến động của giá theo
ngày.
4
Đồ thị biểu diễn các luồng vận động chủ yếu
*/Luồng vận động chủ yếu
Luồng vận động này là nội dung trọng tâm của Lý thuyết Dow
• Nói chung luồng vận động chủ yếu là xu hướng chính có biên độ rộng, được biết đến
với tên gọi là thị trường bò hay thị trường gấu, có thể kéo dài trong khoảng thời gian vài
năm.
• Hoạt động đầu cơ muốn thành công phụ thuộc rất nhiều vào việc xác định đúng hướng
cuả luồng vận động này. Chưa có phương pháp nào dự báo được luồng vận động chủ yếu
này của thị trường diễn ra trong bao lâu.
• Thị trường bò là thị trường có xu hướng chủ yếu là đi lên có biên độ rộng, bị gián đoạn
bởi một xu hướng phụ có hướng ngược lại và trung bình thường kéo dài lâu hơn 2 năm.
Trong suốt quá trình này, giá cổ phiếu đi lên bởi nhu cầu mua của cả nhà đầu tư lẫn nhà
đầu cơ khi hoạt động kinh doanh phát triển và hoạt động đâu cơ trở nên sôi động .
• Thị trường gấu là thị trường có xu hướng chủ yếu là đi xuống có biên độ rộng, bị gián
đoạn bởi xu hướng phụ đáng kể có xu hướng ngược lại. Nguyên nhân là do những điều
kiện kinh doanh khó khăn và xu hướng này sẽ kéo dài cho đến khi giá cổ phiếu giảm đến
mức thấp nhất.
5
thị trường giá lên thị trường giá xuống
thời gian
Giá trung bình
*/Luồng vận động phụ
biến động giá phụ
Luồng vận động phụ là một sự phản ứng phụ của thị trường, đó là một sự đi lên đáng kể
trong một thị trường giá xuống và ngược lại: một sự đi xuống đáng kể trong một thị trường

thể được biểu diễn dưới dạng đồ thị như sau:
7
thị trường giá lên thị trường giá xuống
thị trường giá lên thị trường giá xuống
đầu cơ
Tăng thu
nhập
tự tin
hết hy
vọng
giảm thu nhập
buộc phải bán
Ba giai đoạn phát triển của thị trường giá lên
 Giai đoạn đầu tiên cho thấy việc người đầu tư lấy lại niềm tin vào tương lai của thị
trường;
 Giai đoạn thứ 2 là phản ứng của giá khi có thông tin làm ăn có lãi của các công
ty ,và:
8
 Giai đoạn thứ 3 là giai đoạn khi hoạt động đầu cơ vượt ra khỏi vòng kiểm soát và
lạm phát xảy ra –giai đoạn giá cổ phiếu tăng vì có sự kỳ vọng của các nhà đầu tư.
Ba giai đoạn phát triển cuả xu hướng thị trường giá xuống
 Giai đoạn đầu tiên cho thấy nhà đầu tư không có kỳ vọng vào thị trường do cổ
phiếu được mua với giá bị thổi phồng.
 Giai đoạn thứ 2 phản ánh hoạt động bán do có sự sụt giảm lợi nhuận trong kinh
doanh của các công ty,và;
 Giai đoạn 3 diễn ra là do người ta bán ra ồ ạt các chứng khoán làm giá sụt giảm
nhanh chóng .
1.4.2.4. Xác định xu hướng
Xu hướng thị trường lên giá diễn ra khi ta thấy trên đồ thị có một đỉnh cao hơn và một
một điểm đáy cao hơn. Xu hướng thị trường lên giá kết thúc khi ta thấy trên đồ thị có một

chứng khoán với giao dịch chỉ có 100 chứng khoán.
• Các nhà phân tích có thể sử dụng “bước nhảy về khối lượng”(tick volume)là số lần
thay đổi về giá trong suốt khoảng thời gian đó .Thay đổi về giá là một đại lượng cơ bản để
đo lường cường độ giao dịch.
Lý thuyết Dow đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong việc phân tích cổ phiếu, đặt nền
tảng cho việc so sánh chiến lược xác định thời điểm của thị trường với chiến lược “mua và
nắm giữ”trong đầu tư chứng khoán.
CHƯƠNG II
MỘT SỐ CHỈ BÁO CƠ BẢN
VÀ ỨNG DỤNG PHÂN TÍCH CỔ PHIẾU Ở VIỆT NAM.
Trong vài thập kỉ phát triển của phân tích kỹ thuật, người ta đã đưa ra rất nhiều dấu hiệu,
chỉ báo để phân tích và đánh giá các xu hướng dựa trên sự biến động của giá và khối
lượng. Đã có rất nhiều các chỉ báo được đưa ra và ngày càng được hoàn thiện, tuy nhiên có
thể chia làm hai loại dấu hiệu cơ bản : Dấu hiệu dự báo xu hướng thị trường và đà dao
động giá.
Thứ nhất, dấu hiệu dự báo xu hướng thị trường là một nhóm các dấu hiệu được sử dụng
để xác định xu hướng thị trường một các khách quan. Mục đích của việc sử dụng nhóm
này là nhằm xác định sự mở đầu và kết thúc của các xu hướng thị trường.
Thứ hai, đà dao động của giá là một nhóm các dấu hiệu thị trường được sử dụng để đo
lường tốc độ biến động của giá cả. Các dấu hiệu này được coi là các dấu hiệu dẫn đường
hoặc dấu hiệu ngẫu nhiên, chúng đựoc thiết kế nhằm phát hiện những giao động của giá
trong phạm vi một khoảng giao động giá hay trong phạm vi của một xu hướng. Mục đích
là để xác định thời điểm giao dịch khi giá thay đổi do việc định giá quá cao hay quá thấp.
Bài phân tích này tập trung vào một số chỉ báo cơ bản như : đường trung bình động
(Moving Average - MA), hội tụ và phân kì của đường trung bình động ( Moving Average
10
Convergence Divergence - MACD), chỉ số cường độ tương đối (Relative strength Index-
RSI), dải Bollinger …
2.1. ĐƯỜNG TRUNG BÌNH ĐỘNG (Moving Average _ MA).
Phân tích kĩ thuật cổ điển tiếp cận với khái niệm về xu huớng giá thông qua điểm cận

5 102 514 102,8 (= 514/5)
Để tính trung bình động của kì thứ 6, có hai cách:
- Cách 1: cộng giá đóng cửa từ kì thứ 2 đến kì thứ 6, sau đó chia cho 5.
- Cách 2: Lấy tổng của 5 kì trước, trừ đi giá trị của một kỳ, sau đó chia cho 5.
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status