Luận văn Hoàn thiện quản lý chi đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước tỉnh Quảng Nam pot - Pdf 12


1

Luận văn
Kinh tế tư nhân trong ngành
thủy sản ở tỉnh Bến Tre

2

Mở Đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Bến Tre là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, được hợp thành
bởi 3 cù lao lớn. Với địa thế nằm ở cuối nguồn Cửu Long và gần như bao
trùm toàn bộ vùng hạ lưu sông Tiền, bốn nhánh đổ ra biển, đã tạo ra cho Bến
Tre một hệ sinh thái khá độc đáo của một vùng cù lao cửa sông với 65 km bờ
biển, địa hình có nhiều sông ngòi, kênh rạch lớn nhỏ, đây là tiềm năng rất lớn
để Bến Tre phát triển ngành thủy sản. Vì vậy, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ
tỉnh lần thứ VII (2000) đã xác định thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn là
bước đột phá sự tăng trưởng kinh tế của địa phương và chủ trương này được
cụ thể hoá bằng các nghị quyết, chuyên đề về phát triển ngành thủy sản, trong
đó đặc biệt quan tâm về phát triển kinh tế tư nhân (KTTN) trong ngành thủy
sản. Trên thực tế, thời gian qua KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre phát
triển khá mạnh và đã đóng góp rất lớn vào phát triển ngành thủy sản, KTTN
có nhiều kinh nghiệm trong khai thác, chế biến và nuôi trồng thủy sản. Mặt
khác, KTTN rất linh hoạt, nhạy bén với cơ chế thị trường phù hợp với điều
kiện phát triển kinh tế biển hiện nay. Tuy nhiên, do ảnh hưởng tư duy nhận
thức cũ về KTTN của một số cán bộ xem nhẹ vai trò của KTTN, nên KTTN

thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở tỉnh Đồng Nai, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, 2005. Tác giả đã phân tích, đánh giá vị trí, vai trò và
xu hướng vận động của KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN. Phân tích thực trạng KTTN ở tỉnh Đồng Nai, từ đó đề ra những giải
pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả của KTTN ở Đồng Nai.
- Cùng một số bài viết của các tác giả: GS.TS Vũ Đình Bách; PGS.TS
Vũ Văn Phúc; PGS.TS Nguyễn Đình Kháng; PGS.TS Ngô Thị Hoài Lam;
GS.TS Nguyễn Thị Doan; TS Nguyễn Văn Lịch.

4

Trong ngành thủy sản, đã có luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hồng Minh
về đề tài “Phát huy năng lực các thành phần kinh tế trong công nghiệp chế
biến thủy sản xuất khẩu ở Việt Nam hiện nay”, năm 1996, luận án này chỉ đề
cập đến việc phát huy năng lực các thành phần kinh tế trong công nghiệp chế
biến thủy sản xuất khẩu chung cho cả nước. Luận án tiến sĩ của Nguyễn
Thành Hưng về đề tài: “Doanh nghiệp nhà nước khai thác, chế biến thủy sản
trong cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay”, năm 2001, luận án chỉ đề cập
doanh nghiệp nhà nước khai thác, chế biến thủy sản trong phạm vi cả nước…
và một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về ngành thủy sản như:
- “Phát triển công nghiệp chế biến thủy sản ở tỉnh Kiên Giang”, năm
2000 của thạc sĩ Lê Thị Đào Thanh. Luận văn chỉ đề cập ở góc độ đánh bắt xa
bờ biển, chế biển hải sản (cá nước mặn, nước lợ) ở tỉnh Kiên Giang.
- “Phát huy năng lực kinh tế tư nhân trong ngành thủy sản ở Kiên
Giang”, năm 2000 của thạc sĩ Võ Thị Xinh. Luận văn này đề cập vai trò thành
phần KTTN trong công nghiệp khai thác chế biến thủy sản (cá nước mặn,
nước lợ) ở tỉnh Kiên Giang.
- “Phát triển công nghiệp chế biến thủy sản ở tỉnh An Giang”, năm 2001
của thạc sĩ Lưu Vĩnh Nguyên. ở luận văn này, tác giả chỉ đề cập đến phát triển
công nghiêp chế biến thủy sản nước ngọt trên địa bàn tỉnh An Giang.

Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam, những chủ trương, chính sách của Nhà nước về các thành phần kinh tế
nói chung, KTTN nói riêng. Ngoài ra, luận văn kế thừa có chọn lọc các kết
quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đến đề tài.
Về phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin, phương pháp lôgíc
và lịch sử. Ngoài các phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác-
Lênin, luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như: phân tích, tổng hợp,
so sánh…

6

5. Những đóng góp về mặt khoa học của luận văn
Luận văn vận dụng lý luận chung vào phân tích tình hình cụ thể trong
một lĩnh vực ở địa phương nhằm làm rõ vai trò KTTN trong ngành thủy sản ở
Bến Tre. Trên cơ sở đó đề ra những giải pháp có tính khả thi để phát triển
KTTN ngành thủy sản ở Bến Tre trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở Việt Nam.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Từ việc nghiên cứu, phân tích thực trạng, đề xuất những giải pháp cơ
bản nhằm phát triển KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre theo định hướng
XHCN. Luận văn góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho các cơ
quan, ban ngành trong tỉnh tham khảo, hoạch định chính sách nhằm phát triển
KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre nói riêng và phát triển kinh tế- xã hội
nói chung.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương, 6 tiết.
khoá IX đã khẳng định:
KTTN là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc
dân. Phát triển KTTN là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN, góp phần quan
trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập
kinh tế quốc tế [14, tr.363- 364].

8

Đây là quan điểm của Đảng về phát triển KTTN trong thời kỳ đổi mới.
Để đưa ra được quan điểm này Đảng ta phải trải qua một quá trình nghiên
cứu, thử nghiệm và tổng kết thực tiễn.
Thật vậy, sau năm 1975 mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung ở miền
Bắc được áp dụng vào miền Nam. Cho đến giữa những năm 1980, mô hình
kinh tế này được áp dụng rộng rãi trên phạm vi cả nước, nền kinh tế lâm vào
tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Trước tình hình đó, công cuộc đổi mới
được khởi xướng, trong đó, nhận thức về KTTN cũng từng bước đổi mới. Đến
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986) đã thừa nhận
sự tồn tại khách quan của KTTN bao gồm kinh tế tiểu sản xuất- hàng hoá, tiểu
thương, tư sản nhỏ. Đại hội đã chỉ rõ:
Kinh tế gia đình có vị trí quan trọng và có khả năng dồi dào,
cần được khuyến khích và giúp đỡ phát triển. Đối với kinh tế tiểu
sản xuất hàng hoá, nhà nước thừa nhận sự cần thiết của bộ phận
kinh tế này trong thời kỳ quá độ. Đối với tiểu thương, thông qua
nhiều hình thức tuỳ theo ngành hàng, để sắp xếp, cải tạo và sử dụng
họ thành lực lượng bổ sung cho thương nghiệp XHCN…Nhà nước
cho phép những nhà tư sản nhỏ sử dụng vốn, kiến thức kỹ thuật và
quản lý của họ để tổ chức sản xuất, kinh doanh trong một số ngành
nghề thuộc khu vực sản xuất và dịch vụ ở những nơi cần thiết trong

doanh là Hiến pháp năm 1992. Hiến pháp đã xác định nền kinh tế nước ta là:
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước theo định hướng XHCN và ghi nhận sự tồn tại của thành phần
kinh tế cá thể và tư bản tư nhân. Điều 21 của Hiến pháp có quy định rõ: “Kinh
tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản
xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp, không bị hạn chế về quy mô
hoạt động trong những ngành nghề có lợi cho quốc kế dân sinh. Kinh tế gia
đình được khuyến khích phát triển”.

10
Hiến pháp thừa nhận sự tồn tại khách quan của nhiều hình thức sở hữu,
bảo hộ vốn và tài sản hợp pháp của người kinh doanh lần đầu tiên kể từ năm
1954, sở hữu tư nhân đã được Hiến pháp thừa nhận và coi là một trong ba chế
độ sở hữu chủ yếu của nền kinh tế. Có thể nói, Hiến pháp năm 1992 đã đặt
những nền móng vững chắc cho sự phát triển lâu dài và ổn định của KTTN.
Đại hội lần thứ VIII của Đảng làm rõ thêm quan điểm đối với phát triển
KTTN, cụ thể là:
Giúp đỡ kinh tế cá thể, tiểu chủ giải quyết các khó khăn về
vốn, về khoa học và công nghệ, về thị trường tiêu thụ sản phẩm,
hướng dẫn họ từng bước đi vào làm ăn hợp tác một cách tự nguyện
hoặc làm vệ tinh cho các doanh nghiệp nhà nước hay hợp tác xã.
Khuyến khích tư bản tư nhân đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn
lâu dài, bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện
thuận lợi đi đôi với tăng cường quản lý, hướng dẫn làm ăn đúng
pháp luật, có lợi cho quốc kế dân sinh [12, tr.26].
Hội nghị Trung ương 6 khoá VIII (lần 1) nhấn mạnh hơn nữa các chính
sách đối với KTTN là:
Giải phóng và phát huy mọi lực lượng, mọi tiềm năng, tạo
điều kiện thuận lợi nhất cho mọi người, mọi gia đình, mọi doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả…Tạo môi trường và điều

và cạnh tranh lành mạnh. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể
ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
KTTN có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền
kinh tế [15, tr.83].
Đặc biệt ở Đại hội X Đảng ta đã cho phép đảng viên làm KTTN trong
các ngành nghề lĩnh vực sản xuất kinh doanh quan trọng mà pháp luật không
cấm đã có tác dụng khuyến khích mạnh mẽ phát triển KTTN, tạo điều kiện

12
cho KTTN được phát huy đầy đủ tiềm năng thế mạnh, tạo sức bật lớn cho nền
kinh tế. Đây được coi là bước đột phá mới về nhận thức phát triển KTTN.
Thực hiện quan điểm Đại hội X, Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung
ương khoá X đã đưa ra những quy định đảng viên làm KTTN, cụ thể như sau:
Đảng viên làm KTTN phải trực tiếp tham gia lao động (lao
động quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh; lao động kỹ thuật
hoặc lao động chân tay); có quyền kinh doanh các ngành, nghề mà
pháp luật không cấm; phải gương mẫu và nghiêm chỉnh chấp hành
pháp luật, Điều lệ Đảng và quy định của Ban Chấp hành Trung
ương [18, tr.34].
Từ quan điểm và đường lối của Đảng đối với KTTN, Nhà nước cũng đã
có những đổi mới cơ chế đối với KTTN mà tập trung nhất là ban hành Luật
Doanh nghiệp (Quốc hội thông qua ngày 12/6/1999 thay thế cho Luật Công ty
và Luật Doanh nghiệp tư nhân). Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp đánh dấu
một mốc mới, là bước ngoặt thúc đẩy KTTN phát triển mạnh mẽ. Luật doanh
nghiệp đã tạo điều kiện pháp lý thuận lợi cho tư nhân trong việc thành lập và
tổ chức sản xuất kinh doanh. Ngoài Luật doanh nghiệp, Quốc hội cũng ban
hành một số luật có liên quan đến KTTN như Luật Thương mại, Luật Các tổ
chức tín dụng, Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp…
Năm 2005, Quốc hội đã thông qua Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư mới, là
một bước đột phá nhằm tiến tới xoá bỏ sự phân biệt đối xử giữa các thành

những sự phân chia trên chủ yếu dựa trên quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất và
vốn. ở Việt Nam trước năm 1986, KTTN không được thừa nhận là hoạt động
hợp pháp nền kinh tế chủ yếu có hai thành phần là kinh tế nhà nước và kinh tế
tập thể. Từ khi đổi mới, Đảng ta đã thừa nhận sự tồn tại của cơ cấu kinh tế
nhiều thành phần, trong đó có KTTN. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn

14
quốc lần thứ X đã xác định nền kinh tế quốc dân ở nước ta hiện nay gồm 5
thành phần kinh tế. Đó là: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân,
kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó, KTTN
bao gồm: cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân.
Như vậy, KTTN là một khu vực kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư
liệu sản xuất hoặc vốn với các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh như
doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, các cơ
sở kinh tế cá thể, tiểu chủ…KTTN không phải là một thành phần kinh tế
thuần tuý mà là phạm trù để chỉ thành phần kinh tế hỗn hợp bao gồm các bộ
phận cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân.
Kinh tế cá thể là bộ phận kinh tế dựa trên hình thức sở hữu tư nhân nhỏ
về tư liệu sản xuất và hoạt động chủ yếu vào sức lao động của chính họ, tồn
tại chủ yếu dưới hình thức hộ sản xuất kinh doanh.
Kinh tế tiểu chủ là bộ phận kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ về tư
liệu sản xuất nhưng có thuê mướn lao động.
Kinh tế tư bản tư nhân là bộ phận kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư
nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và sử dụng lao động làm thuê; hình
thức tồn tại chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần tư nhân, công
ty trách nhiệm hữu hạn.
Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành cơ quan trọng của nền kinh tế
quốc dân, phát triển KTTN là vấn đề có tầm chiến lược lâu dài trong quá trình
xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN.

người chủ gia đình đối với các vấn đề sản xuất kinh doanh. Quan hệ giữa
người chủ và các thành viên trong gia đình không phải là quan hệ bóc lột mà
nó mang tính chất gia trưởng. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, nhiều hộ

16
cá thể do nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất đã thuê thêm lao động ngoài gia
đình. Như vậy, đã xuất hiện mầm móng của quan hệ bóc lột, nhưng chừng
nào người chủ hộ chưa thoát khỏi hoạt động lao động trực tiếp thì ranh giới
giữa bóc lột và không bóc lột chưa được xác định một cách rõ ràng.
Quan hệ quản lý dựa trên sở hữu tư nhân lớn đây là quan hệ giữa chủ
thể quản lý với đối tượng quản lý và khách thể quản lý. Chẳng hạn như quan
hệ giữa người chủ doanh nghiệp với lao động. Quan hệ này xét về bản chất là
quan hệ bóc lột. Bóc lột ở đây phải được xem xét nghiên cứu trong điều kiện
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Trong điều kiện ở nước ta hiện
nay, xét sự bóc lột phải đặt trong mối quan hệ sau:
+ Trong điều kiện nước ta cung lao động nhiều hơn cầu về lao động thì
bất cứ ai bỏ vốn ra kinh doanh, tạo việc làm và thu nhập cho người lao động
điều được khuyến khích.
+ Khi người lao động đồng thời là người sử dụng lao động, nhưng do
chất lượng lao động kém nên thu nhập thấp, đồng ý tự nguyện ký hợp đồng
lao động cho một người sử dụng lao động khác có thu nhập cao gấp nhiều lần.
Trong trường hợp này không nên hiểu đây là bóc lột và bị bóc lột. Bởi vì, chỉ
khi nào người lao động bán sức lao động cho chủ tư liệu sản xuất và tư liệu
tiêu dùng như C.Mác nói thì mới có quan hệ bóc lột và bị bóc lột.
- Xét về quan hệ phân phối: về thực chất phân phối là việc giải quyết
mối quan hệ về lợi ích kinh tế các cá nhân tham gia vào quá trình tái sản xuất
kinh doanh. Do vậy, việc phân phối nếu không đảm bảo được lợi ích của các
cá nhân sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất kinh doanh khó có thể đạt
được hiệu quả cao.
Trong KTTN, quan hệ phân phối được dựa trên cơ sở sở hữu tư nhân,

18
- Loại hình doanh nghiệp tư nhân (được thành lập theo Luật Doanh
nghiệp) là doanh nghiệp do một cá nhân là chủ và tự chịu trách nhiệm bằng
toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp
tư nhân là một trong những loại hình kinh doanh phổ biến nhất trong các loại
hình doanh nghiệp của KTTN.
- Loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần: là
doanh nghiệp mà trong đó các thành viên là tư nhân cùng góp vốn (công
ty trách nhiệm hữu hạn), mua cổ phần (công ty cổ phần) để thực hiện kinh
doanh. Các thành viên được hưởng lợi nhuận và cùng chịu trách nhiệm về
các khoản nợ của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào
doanh nghiệp.
Tóm lại: KTTN nếu xét về thành phần kinh tế theo tinh thần Đại hội X
của Đảng thì bao gồm 3 bộ phận: cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân. Đứng
trên giác độ các hình thức tổ chức sản xuất, thì cũng có thể nói KTTN tồn tại
ở các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân và
các hộ, cá nhân hoạt động sản xuất kinh doanh.
1.1.3. Ngành thủy sản và vai trò của kinh tế tư nhân trong ngành
thủy sản
1.1.3.1. Vị trí của ngành thủy sản trong cơ cấu kinh tế
Kinh tế thủy sản là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân,
Đảng ta chủ trương phát triển mạnh kinh tế thủy sản trong những năm tới,
nhằm tạo thêm lượng hàng hoá đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho nhân dân và
xuất khẩu, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, gắn sản
xuất thủy sản với các mục tiêu xã hội, an ninh quốc phòng trên cơ sở phát
triển bền vững. Đại hội X đã nhấn mạnh:
Phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng sản xuất hàng hoá
lớn đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái; chuyển đổi cơ cấu khai

19

làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp dược phẩm, mỹ nghệ…
- Phát triển ngành thủy sản sẽ đóng góp quan trọng tăng trưởng tốc độ
kinh tế cả nước nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng.
Ngành thủy sản là ngành kinh tế có khả năng tạo ra nhiều giá trị gia
tăng.Vì vậy, phát triển mạnh ngành thủy sản, đặc biệt phát triển công nghiệp
chế biến thủy sản, sẽ góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của ngành nông
nghiệp. Trong những năm qua, tỉ trọng đóng góp của khu vực nông, lâm, thủy
sản vào tốc độ tăng trưởng chung có xu hướng giảm xuống rõ rệt từ 38,1%
năm 1986 xuống còn 20,9% năm 2005 [18, tr.56]. Đây là xu hướng phù hợp
với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong khi tỉ
trọng đóng góp vào tăng trưởng của ngành thủy sản lại tăng lên từ 10,9% lên
19,6% vào năm 2004. Ngành thủy sản đã thật sự trở thành ngành kinh tế mũi
nhọn của đất nước. Cùng với việc tăng cường năng lực đánh bắt xa bờ cho
ngư dân, phong trào nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm, nuôi cá tra, cá
basa, cá rô, cá lóc, ba ba… phát triển hết sức mạnh mẽ ở các địa phương, nhất
là vùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng ven biển Nam Trung bộ. Sự phát
triển nhanh chóng của ngành thủy sản nước ta trong những năm qua chúng ta
có thể thấy rõ qua bảng số liệu sau:
Bảng 1.1: Sản lượng và diện tích nuôi thủy sản cả nước
Năm
Tổng sản
lượng thủy
sản (tấn)
Sản lượng
nuôi thủy
sản (tấn)
Sản lượng
khai thác
hải sản
(tấn)

thương mại của một số nước, nhưng giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản vẫn
đạt 2,19 tỉ USD (bằng 1,5 lần so với năm 2000), trong đó giá trị xuất khẩu
tôm đạt trên 1tỉ USD đã khẳng định vị trí xuất khẩu tôm trên thị trường thế
giới và trong nghề nuôi trồng thủy sản nước ta. Năm 2005, ngành thủy sản
bằng sự nỗ lực phấn đấu liên tục, không mệt mỏi, vượt qua những khó khăn
khách quan và chủ quan, đã hoàn thành các chỉ tiêu cơ bản mà ngành đã xây
dựng, tổng sản lượng đạt 3,43 triệu tấn, tăng 9,24% so với năm 2004. Kim
ngạch xuất khẩu đạt 2,73 tỉ USD tăng 13% so với năm 2004 và bằng 18,5%
so với năm 2000. Năm 2006, xuất khẩu thủy sản đạt 2,8 tỉ USD, tăng 5,66%
so với năm 2005. Tính chung 5 năm 2001-2005, tổng giá trị kim ngạch xuất
khẩu thủy sản đạt trên 11tỉ USD, chiếm khoảng 9% tổng giá trị xuất khẩu của

22
cả nước. Đặc biệt cơ cấu sản phẩm của kinh tế thủy sản cũng được thay đổi
mạnh mẽ theo hướng tăng tỉ trọng nuôi trồng, tăng tỉ trọng sản phẩm có giá trị
cao, nhất là sản phẩm xuất khẩu.
Đối với các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu, đến nay đã có
những bước tiến triển quan trọng trong việc đổi mới công nghệ, nâng cao
sức cạnh tranh. Đã có hơn 171 doanh nghiệp được EU công nhận đủ điều
kiện an toàn vệ sinh, có hơn 120 doanh nghiệp được cấp phép vào thị
trường Mỹ, 320 doanh nghiệp được phép xuất khẩu vào Hàn Quốc. Các
doanh nghiệp cũng từng bước nâng cao năng lực xúc tiến thương mại để đi
vào các thị trường mới. Đối với toàn bộ ngành thủy sản, đã có những tiến
bộ đáng kể về gắn kết giữa yêu cầu của thị trường ngoài nước (về số lượng,
chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm) với thực tiễn sản xuất kinh doanh
chế biến, nuôi trồng, khai thác và phát triển cơ sở hậu cần dịch vụ; gắn kết
giữa khâu chế biến xuất khẩu với yêu cầu vệ sinh trong nuôi trồng, bảo
quản và khai thác sản phẩm, gắn kết giữa khâu chế biến xuất khẩu với chế
biến phục vụ nhu cầu thị trường nội địa. Hiện nay sản phảm thủy sản Việt
Nam đã xuất khẩu sang 75 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, nhưng quy

của đất nước.
1.1.3.2. Vai trò của kinh tế tư nhân trong ngành thủy sản
Để đánh giá vai trò của một khu vực kinh tế, các nước thường sử dụng
ba chỉ số cơ bản, đó là: tỉ trọng của nó trong GDP, tỉ trọng trong huy động
vốn kinh doanh và tỉ lệ thu hút lao động xã hội (tạo việc làm). Ngoài ra các
nước còn sử dụng một số chỉ tiêu khác để đánh giá vai trò của KTTN trong
tăng trưởng kinh tế nói chung hay trong phát triển một số ngành cụ thể nói
riêng.
Từ khi thực hiện đường lối đổi mới, KTTN có điều kiện phát triển với

24
nhiều hình thức và quy mô khác nhau. Hàng chục ngàn doanh nghiệp tư nhân,
công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần ra đời và hoạt động trong nhiều
ngành nghề, nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực thủy sản. Trong những năm
gần đây, KTTN trong ngành thủy sản phát triển khá mạnh đặc biệt là các
doanh nghiệp chế biến thủy sản của tư nhân tăng nhanh, nhiều doanh nghiệp
tư nhân đã có giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng đầu, một số doanh nghiệp chế
biến thủy sản xuất khẩu đã có kim ngạch xuất khẩu trên 100 triệu USD mỗi
năm. Bằng sự năng động, hiệu quả trong sản xuất kinh doanh, KTTN đã
khẳng định vai trò của mình trong sự phát triển kinh tế-xã hội nói chung và
phát triển ngành thủy sản nói riêng. Vai trò quan trọng đó của KTTN thể hiện
ở những mặt sau:
Một là, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, góp
phần xoá đói giảm nghèo. Một trong những vấn đề nổi cộm hiện nay mà lãnh
đạo Đảng và chính quyền các cấp quan tâm đó là giải quyết việc làm cho
người lao động. Giải quyết việc làm không chỉ đảm bảo đời sống cho người
lao động mà còn là điều kiện quan trọng để đảm bảo duy trì tốt an ninh xã hội.
Hàng năm ở nước ta số người bổ sung vào lực lượng lao động khoảng 1,4
triệu người. Đây là nguồn lực lớn nhưng khai thác được nguồn lực này không
phải đơn giản. Do đó, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập của các tầng lớp

cho người lao động góp phần xoá đói giảm nghèo.
Hai là, KTTN khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của xã hội
Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần được Đảng ta khởi xướng
từ Đại hội VI là một trong những chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước
ta, nhằm mục đích huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước cho phát
triển kinh tế-xã hội. Những chủ trương đó đã được tiếp tục khẳng định qua
các kỳ đại hội Đảng, được cụ thể hoá bằng các văn bản, pháp luật của Nhà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status