Đường lối kinh tế của Đảng trong kháng chiến chống Pháp - Pdf 12

Đường lối kinh tế của Đảng trong kháng chiến chống Pháp
.
Mục lục
Nội dung Trang
A. Mở đầu.
2
B. Nội dung.
3
I. Hoàn cảnh kinh tế Việt Nam Trong kháng chiến chống
Pháp.
3
II. Những chủ trương chính sách kinh tế lớn của Đảng và
Nhà nước.
4
1. Xây dùng kinh tế dân téc, dân chủ, nhân dân trong
kháng chiến.
4
2. Xây dùng kinh tế “tự cấp tự túc”:
7
2.1. Xây dựng phát triển kinh tế nông thôn:
8
2.2. Phát triển Sản xuất quốc phòng:
8
2.3. Xây dựng nền tài chính độc lập:
8
3. Xây dùng kinh tế vùng căn cứ địa.
9
4. Thực hiện khẩu hiệu “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để
chiến thắng”:
10
5. Thực hiện chủ trương vừa kháng chiến vừa kiến quốc

22
C. Kết luận.
24
1
Đường lối kinh tế của Đảng trong kháng chiến chống Pháp
.
a- Mở đầu
Mác đã từng nói: “mỗi một hiện tượng xã hội đều dùa trên một
nền tảng kinh tế trực tiếp, nó là cơ sở của sự vận động lịch sử”. Đúng
vậy, kinh tế là lĩnh vực quan trọng nhất trong đời sống xã hội loài
người vì nó liên quan đến tất cả mọi hiện tượng và quá trình phát triển
của xã hội.
Dùa trên cơ sở kinh tế nào mà một nước nghèo như nước ta lại
có lực lượng vật chất đương đầu với một đế quốc Pháp, có Mỹ giúp
sức, có quân đội trang bị hiện đại, có nền công nghiệp phát triển,
trong một cuộc chiến tranh kéo dài 9 năm và cuối cùng đã chiến
thắng. Nói cách khác, trong quá trình kháng chiến, Việt Nam đã làm
cách nào để vừa thoát ra được sự lệ thuộc của chủ nghĩa thực dân, vừa
xoá bỏ được những tàn tích phong kiến, mở đường cho kinh tế phát
triển vững chắc theo hướng dân chủ nhân dân, tạo điều kiện tiến lên
chủ nghĩa xã hội từ sau hoà bình.
Tìm hiểu vấn đề này, chúng ta thấy rõ thành tích vĩ đại của nhân
dân ta và sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng ta, vận dụng một
cách đầy sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê Nin vào điều kiện cụ thể của
Việt Nam, mét nước vốn là thuộc địa, nông nghiệp lạc hậu, kinh tế
khó khăn về nhiều mặt mà phải tiến hành cuéc đấu tranh chống đế
quốc xâm lược. Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân vượt qua muôn vàn khó
khăn, trở ngại, vừa kháng chiến, vừa xây dựng một nền kinh tế dân
téc dân chủ nhân dân, tạo lên được cơ sở vật chất để chiến thắng quân
thù và kiến thiết đất nước.

ta có thể hoàn thành nhiệm vụ dân chủ sớm hơn, tạo điều kiện cho
Việt Nam tiến nên chủ nghĩa xã hội sớm hơn.
Nhưng đế quốc Pháp đã quay lại xâm lược nước ta trong lúc đất
nước Việt Nam gặp vô vàn khó khăn: lực lượng mọi mặt của nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà chưa kịp củng cố và phát triển. Chính phủ
Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời chưa được một nước nào công
nhận. Lực lượng vũ trang còn non trẻ, trang bị kém, thiếu thốn đủ mọi
bề, kinh nghiệm chiến đấu còn quá Ýt.
Nền kinh tế của đất nước vốn nghèo nàn lạc hậu, bị kiệt quệ
nặng nề do chính sách vơ vét, bóc lột của Pháp – Nhật trong mấy
mươi năm thống trị của chúng. Công nghiệp lạc hậu và đình đốn;
nông nghiệp tiêu điều vì hơn 50% ruộng đất ở Bắc bộ do lò lụt và hạn
hán gây lên; thương nghiệp ngừng trệ, bế tắc, hàng hoá khan hiếm.
3
Đường lối kinh tế của Đảng trong kháng chiến chống Pháp
.
Tài chính kiệt cạn: Kho bạc gần nh trống rỗng, ngân hàng Đông
Dương còn nằm trong tay tư bản Pháp. Lợi dụng quyền, nắm việc phát
hành giấy bạc, chúng luôn luôn gây rối về tiền tệ. Quân đội Tưởng
còn tung đồng “quan kim”và “quốc tệ” của chúng ra thị trường làm
lũng đoạn hơn nền tài chính của nước ta.
Nạn đói đầu năm 1945 vừa mới chấm dứt, đã cướp đi 2 triệu
đồng bào ta thì nguy cơ một nạn đói khác đang đe doạ .
Các “di sản” văn hoá lạc hậu của chế độ thực dân để lại khá
nặng nề, hơn 90% dân số không biÕt chữ, các tệ nạn xã hội cò nh
rượu chè, hót thuốc phiện, mê tÝn dị đoan rất trầm trọng và phổ
biến. Giặc ngoài thù trong, khó khăn chồng chất. Nhìn lại lịch sử, từ
năm 1914 đến năm 1945 ta thấy cả hai cuộc chiến tranh thế giới, bọn
đế quốc đều chi phối nền kinh tế nước ta theo yêu cầu của chiến tranh,
tận dụng bòn rút của cải của nhân dân ta. Vì thế, dưới sự lãnh đạo

dân. Vậy, muốn mở đường cho kinh tế Việt Nam phát triển phải:
- Thủ tiêu mọi sự ràng buộc và mọi sự lũng đoạn của chủ nghĩa
thực dân, mở đường cho công nghiệp tiến lên, phát triển kinh tế, dân
téc, để thoát ra sự lệ thuộc vào kinh tế đế quốc.
- Xóa bỏ những tàn tích phong kiến, giải phóng sức sản xuất,
thực hiện khẩu hiệu “Người cày có ruộng” làm cho nông nghiệp phát
triển, thoát ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu.
Đó là hai nhiệm vụ cơ bản của kinh tế dân téc dân chủ nhân
dân. Hai nhiệm vụ này liên quan chặt chẽ với nhau. Đó cũng là hai
mặt phản đế và phản phong trên lĩnh vực kinh tế.
Để chấm dứt mọi sự ràng buộc và sự lũng đoạn của chủ nghĩa
thực dân, chúng ta phải thủ tiêu những đặc quyền, đặc lợi của chúng
trên mọi lĩnh vực: tiền tệ, thuế khoá, ngoại thương, kinh doanh…, và
dùa trên sức mình là chính, chúng ta đã từng bước xây dựng nền kinh
tế độc lập, tự chủ của mình: phát hành tiền Việt Nam, đặt chế độ thuế
khoá, xây dựng tài chính độc lập, phát triển thủ công nghiệp, kể cả
công nghiệp quốc phòng, mở mang thương nghiệp trong nước, nắm
chủ quyền ngoại thương… Chóng ta phải ra sức đẩy mạnh sản xuất về
mọi mặt, nhất là sản xuất nông nghiệp, vừa chiến đấu vừa sản xuất.
Chúng ta phải tích cực đấu tranh kinh tế với địch, phải củng cố và
phát huy vai trò của nhà nước dân chủ nhân dân trong việc chỉ đạo
xây dựng kinh tế. Đặc biệt chúng ta phải tiến hành cải cách ruộng đất
ngay trong kháng chiến. Tiến hành cải cách ngay trong kháng chiến là
một chủ trương đúng đắn của Đảng, là biện pháp tích cực để đẩy
5
Đường lối kinh tế của Đảng trong kháng chiến chống Pháp
.
mạnh nhiệm vụ dân téc. Cã vậy, đời sống nông dân mới được cải
thiện, lực lượng vật chất của nông dân được tăng cường, nền kinh tế
kháng chiến có thêm cơ sở vững chắc. Vì vậy, cải cách ruộng đất

6
Đường lối kinh tế của Đảng trong kháng chiến chống Pháp
.
không để cho hân dân ta cày cấy, làm ăn yêu ổn. Nhưng nhân dân ta
đã đấu tranh bền bỉ, kiên quyết và khôn khéo; kinh tế vẫn được duy trì
trong một chõng mực nhất định. Chính vì vậy mà nhân dân ta trong
vùng bị tạm chiếm không những có khả năng tự nuôi sống mình mà
còn có khả năng ủng hộ kháng chiến.
Giữa vùng bị tạm chiếm và vùng tự do thì địch lập những vành
đai trắng. Sự giành giật giữa ta và địch ở đây là địch thì muốn mở
rộng những vành đai này đẩy ta vào thế bí, không còn có phương tiện
gì để chiến đấu. Ta thì cố thu hẹp những vành đai đó lại, hạn chế tai
hại của nó ở mức tối thiểu. Cuộc giành giật diễn ra rất quyết liệt.
2- Xây dựng kinh tế “tự cấp tự túc”:
Trong điều kiện đất nước bị phong toả, các thành phố phần
đông bị địch chiếm, một vấn đề rất lớn được đặt ra cho chóng ta là
làm cách nào để đảm bảo được cung cấp cho chiến tranh?
Nắm vững điều kiện cụ thể của nước ta, tin tưởng vào khả năng
to lớn của nhân dân ta. Đảng và nhà nước đã đề ra đường lối xây dùng
nền kinh tế “tự cấp tự túc” bao gồm những nội dung sau:
- Chóng ta phải tự mình giải quyết lấy những nhu cầu cho kháng
chiến, không phải phụ thuộc vào nước ngoài, không phải phụ thuộc
vào các thành thị.
- Chỉ sản xuất những thứ cần thiết cho kháng chiến, cho đời
sống nhân dân (cơm ăn, áo mặc, vũ khí để đánh giặc, thuốc men để
chữa bệnh, giấy mực để học tập…) không sản xuất, những thứ xa xỉ.
- Động viên toàn dân tham gia sản xuất tự túc, đưa mức sản xuất
của xã hội lên cao. Bé đội, cơ quan, xí nghiệp, trường học cũng phải
dành mét phần thì giê để sản xuất tự túc, giảm bớt gánh nặng đóng
góp của nhân dân.

trên cơ sở kinh tế của nông dân, thứ thuế chính là thuế nông nghiệp.
Giấy bạc Việt Nam được bảo đảm bằng sản phẩm của nền kinh tế tự
cấp tự túc. Chính vì vậy mà mặc dù trong hoàn cảnh chiến tranh, dù
không có trữ kim và ngoại tệ bảo đảm, nó vẫn giữ được giá tương đối
ổn định, việc phát hành tiền tệ độc lập và chính sách tiền tệ đúng đắn
của ta cũng đã góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, củng cố thêm
nền kinh tế tự cấp tực túc.
Chính sách nội thương đúng đắn của nhà nước đã góp phần làm
cho lưu thông hàng hoá được dễ dàng, đấu tranh chống nạn đầu cơ
tích trữ có kết quả, góp phần ổn định giá cả thị trường. Chính sách
kiểm soát ngoại thương và đấu tranh kinh tế với địch đã hạn chế được
8
Đường lối kinh tế của Đảng trong kháng chiến chống Pháp
.
việc xâm nhập của ngoại hoá, nhất là sản xuất trong nước, giữ được tỷ
giá giữa tiền ta và tiền địch.
3- Xây dùng kinh tế vùng căn cứ địa.
Trong kinh tế kháng chiến, một vấn đề được Đảng ta rất quan
tâm đó là vấn đề xây dựng kinh tế vùng căn cứ địa. Đây vừa là vấn đề
chung của chính sách kinh tế kháng chiến, vừa là một vấn đề riêng
của kinh tế tự cấp tự túc, vì chính trong những vùng căn cứ địa này, ý
thức xây dựng kinh tế tự cấp tự túc càng được đề cao.
Trong thực tế, phần lớn các căn cứ địa của ta là ở vùng rừng núi,
vùng đồng bào dân téc. Do đó, vấn đề xây dựng kinh tế tự cấp tự túc ở
đây càng trở nên cấp thiết. Chính sách xây dựng kinh tế của ta bao
gồm những nội dung chính sau:
- Trước hết phải nắm vững chính sách dân téc của Đảng. Trong
kháng chiến, Phó thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói "Hiện giê ở đâu
cũng thế, những vùng dân téc thiểu số là hậu phương của ta, là nơi
dùa lưng của chúng ta. Đã gọi là nơi dùa thì phải cho chắc chắc”. Có

Xây dựng được tốt kinh tế tự cấp tự túc và kinh tế các vùng căn
cứ địa là những biện pháp quan trọng để củng cố hậu phương. Vì làm
được những điều đó, tức là việc cung cấp cho chiến tranh mới được
bảo đảm, đời sống nhân dân mới được cải thiện, lòng tin tưởng vào
thắng lợi mới được nâng cao. Nh vậy, tức là xây dựng được hậu
phương mới vững chắc, mà hậu phương vững chắc chính là một nhân
tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh.
Xây dựng được kinh tế tự cấp tự túc, củng cố được hậu phương
vững chắc, đó chính là những điều kiện cơ bản để giải quyết tốt vấn
đề cung cấp tài lực cho chiến tranh. Nhưng nh vậy cũng chưa đầy đủ,
muốn giải quyết tốt vấn đề cung cấp cho chiến tranh, còn phải có
chính sách phân phối đúng. Đây cũng là một vấn đề rất trọng yếu có
ảnh hưởng lớn đến thắng lợi của chiến tranh.
4- Thực hiện khẩu hiệu “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến
thắng”:
Trong điều kiện kháng chiến lâu dài, nhu cầu thì nhiều mà sản
xuất thì có hạn, lại bị chiến tranh tàn phá, bị địch phá hoại không
ngừng, chúng ta không thể không thực hiện chế độ phân phối ưu tiên
để đảm bảo trước hết những nhu cầu cho tiền tuyến. Trong hoàn cảnh
chiến tranh, khó khăn của chúng ta có nhiều, nhưng vấn đề quan trọng
là dù khó khăn mấy cũng phải đảm bảo cho bộ đội ăn no, mặc Êm, đủ
phương tiện đánh giặc; đảm bảo cho công nhân trong các xí nghiệp
quốc phòng và các xí nghiệp kháng chiến khác có đủ sức khoẻ và
10
Đường lối kinh tế của Đảng trong kháng chiến chống Pháp
.
phương tiện để sản xuất cho kháng chiến; đảm bảo cho dân công phục
vụ ở tiền tuyến có khẩu phần ăn cần thiết để có sức phục vụ; đảm bảo
cho nhu cầu của tiền tuyến dưới bất cứ hình thức nào được ưu tiên
giải quyết để giành thắng lợi. Đặc biệt trong các chiến dịch, là lúc hai

Đường lối kinh tế của Đảng trong kháng chiến chống Pháp
.
giá rất cao sự giúp đỡ này. Sự ủng hộ về tinh thần, về vật chất, sự
giúp đỡ về kinh nghiệm của các nước anh em, sự ủng hộ dưới bất cứ
hình thức nào của nhân dân tiến bộ trên thế giới đối với chúng ta đều
hết sức quí báu, đều góp phần thúc đẩy cuộc kháng chiến của ta mau
đến thắng lợi.
Nói đến chính sách kinh tế kháng chiến của ta, không thể không
nói tới chủ trương phá hoại kinh tế địch. Trong cuộc đấu tranh một
mất một còn giữa ta và đế quốc, đế quốc đã không từ một thủ đoạn
nào để phá ta, trong đó có phá hoại về kinh tế. Về phía ta, không thể
không phá hoại kinh tế địch.
Phá hoại kinh tế địch nhằm đánh vào các dự trữ của chúng, phá
đường tiếp tế của chúng, làm cho chóng nguy khèn về cung cấp,
không cho chúng ngồi yên bóc lột, vơ vét, không cho chúng có đủ
phương tiện để đánh ta. Phá hoại kinh tế địch còn nhằm không cho
địch thực hiện thủ đoạn "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" một thủ
đoạn mà bất cứ bọn xâm lược nào cũng dùng.
Chóng ta phá hoại kinh tế địch bằng nhiều cách. Phá máy móc,
kho tàng, đường sá, phá các phương tiện vận tải tiếp tế của địch, phá
kế hoạch bắt người cướp của địch, làm vườn không nhà trống khi địch
tràn qua…. Phá hoại kinh tế địch là một mặt không thể thiếu được của
chính sách kinh tế kháng chiến, tiến hành dưới nhiều hình thức phong
phó mang lại kết quả tốt, gây nhiều khó khăn cho địch, làm giảm sức
chiến đấu của chúng, tạo nhiều điều kiện cho ta chiến thắng chúng.
Một mặt tích cực xây dựng kinh tế ta, một mặt không ngừng phá
hoại kinh tế địch, chúng ta đã làm cho lực lượng kinh tế hai bên dần
thay đổi. Đó là một nhân tố quan trọng góp phần làm chuyển hoá
tương quan lực lượng giữa ta và địch, làm cho lực lượng ta từ yếu
chuyển thành mạnh, lực lượng địch từ mạnh chuyển thành yếu, tạo

không sản xuất được; cắt đường tiếp tế giữa vùng trong căn cứ địa và
làm khó. Điều này tác động nhiều đến sản xuất, đặc biệt là các ngành
sản xuất quốc phòng. Nhưng Thu Đông 1947 đã kết thúc bằng cuộc
thắng lợi lớn của nhân dân ta. Chiến dịch đã mang lại cho cuộc kháng
chiến lâu dài của dân téc ta một chuyển biến lớn.
Về mặt kinh tế, nó mở ra nhiều triển vọng mới, ta giải phóng
được nhiều vùng ở khu căn cứ và có điều kiện củng cố và mở rộng
thêm. Nhân dân mau chóng khôi phục sản xuất, giao thông; các cơ sở
sản xuất quốc phòng được hồi phục và phát triển nhanh chóng. Đánh
ta không được về mặt quân sù. Địch tìm mọi cách đánh vào các dự trữ
kinh tế của ta. Về phía ta, trong giai đoạn này, ta cũng tìm mọi cách
bảo vệ và phát triển kinh tế của mình. Các xí nghiệp quốc phòng, đặc
13
Đường lối kinh tế của Đảng trong kháng chiến chống Pháp
.
biệt là các xưởng quân giới được phát triển nhanh chóng. Sản xuất
chiến tranh tăng hẳn lên. Nền kinh tế Việt Nam có một sinh khí mới.
Đầu năm 1950, với tình hình phát triển của chiến tranh. Đảng lại
nhấn mạnh một lần nữa là phải xây dựng và củng cố căn cứ địa. Chính
sách kinh tế kháng chiến của ta trong giai đoạn này được đề ra nh sau:
- “Ra sức bao vây và phá hoại kinh tế địch, phát triển kinh tế
dân chủ mới của ta. Thực hiện kế hoạch hoá bộ phận kinh tế nhà nước
và hướng dẫn kinh tế toàn quốc; cải thiện đời sống nhân dân, làm cho
dân có sức mạnh và hăng hái đánh giặc. Đặc biệt chú ý nâng cao vai
trò của công nông trong việc sản xuất và quản đốc kinh tế ” (Trường
Chinh).
Như vậy, Đảng ta đã nhấn mạnh vấn đề phát triển kinh tế dân
chủ mới, hình thành khu vực kinh tế nhà nước, đề cao vai trò của công
nông trong sản xuất, kinh tế, đặc biệt nhấn mạnh phải cải thiện, đời
sống nhân dân. Thực hiện chủ trương này, Đảng ra chỉ thị phải bắt

chiến. Đây là lúc nhà giàu phải góp thóc, dân nghèo góp công trong
khi bộ đội đóng góp xương máu. Đây là lúc phải thẳng tay trừng trị
bọn đầu cơ, tích trữ, buôn lậu hoặc trèn tránh nhiệm vụ, chính quyền
nhân dân rất nhân đạo nhưng cũng phải hết sức kiên quyết.
Nh vậy, nhờ có chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn của
Đảng và Nhà nước, chóng ta đạt được những thành tựu rực rỡ trên
mặt trận kinh tế, góp phần to lớn vào sự nghiệp kháng chiến kiến quốc
của toàn dân ta.
IV- KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC KHI THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI
KINH TẾ CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TRONG KHÁNG CHIẾN
CHỐNG PHÁP.
1- Giai đoạn 1947-1950.
1.1- Nông nghiệp:
Nước ta là một nước nông nghiệp, mọi nhu cầu của nhân dân đều
do sản xuất nông nghiêp cung cấp, nhưng trong giai đoạn 1947-1950,
địch tăng cường kiểm soát vùng tạm chiếm, đẩy mạnh phá rối vùng tự
do. Đồng ruộng bỏ hoang tới 1,5 triệu ha, nhân dân đi tản cư. Vùng
kháng chiến nằm sâu trong rừng, ruộng đất canh tác Ýt. Chính phủ đã
thực hiện một loạt các biện pháp để giúp nhân dân phát triển sản xuất
nông nghiệp. Tháng 7/1949, Chính phủ nhắc lại sắc lệnh giảm tô 25%,
đồng thời thành lập hội đồng giảm tô ở các tỉnh để xử lý tranh chấp về
giảm tô và tuyên bố xoá bỏ tất cả các khoản nợ của nhân dân đến trước
cách mạng tháng Tám.
15
Đường lối kinh tế của Đảng trong kháng chiến chống Pháp
.
Tháng 5/1950, Chính phủ đã ban sắc lệnh tạm cấp ruộng vắng
chủ của tư bản, địa chủ, việt gian cho nông dân, ban hành sắc lệnh về
giảm tức (quy định: Nếu vay bằng tiền giảm 18%, văy bằng thóc giảm
20%).

Cùng với vận động và giúp đỡ nông dân sản xuất. Chính phủ còn
tổ chức lãnh đạo nhân dân chống địch càn quét, cướp phá, bảo vệ sản
xuất và bảo vệ đời sống nhân dân ở vùng tự do.
Nhờ thực hiện những biện pháp trên, nền nông nghiệp nói chung
được phát triển. Năm 1950, sản lượng lúa từ Bắc trung bộ trở ra đạt
2.410.830 tấn. Sản xuất hoa mầu và chăn nuôi phát triển. Do dó, nhiều
nơi nhân dân đã tự túc được ăn mặc và đảm bảo đóng góp cho kháng
chiến, phá tan âm mưu chiến tranh kinh tế của địch.
1.2- Công nghiệp:
Cuộc kháng chiến càng phát triển, nhu cầu về hàng tiêu dùng
ngày càng lớn. Do đó, Đảng và Chính phủ đã có chủ trương đối với
tiểu thủ công nghiệp, những ngành thiết yếu đối với kháng chiến và
dân sinh nh dệt, giấy, xà phòng, chiếu, bát, muối, mắm, đường, nông
cụ, thuỷ tinh được phục hồi và phát triển. Những ngành có tính chất
xa xỉ nh đồ thêu ren, khảm, sơn mài tạm dừng hoạt động. Xây dựng
cơ sở quốc doanh dân dụng để sản xuất tư liệu ò, hàng tiêu dùng cho
bộ đội và nhân dân. nhiều cơ sở khai thác than nhỏ được xây dựng ở
Thái Nguyên, Tuyên Quang; khai thác khoáng sản như thiếc ở Tĩnh
Túc – Cao Bằng, từ năm 1946-1950 sản xuất được 24 tấn thiếc; nhà
máy cơ khí Trần Hưng Đạo đã sản xuất được máy tiện, máy bào, máy
kéo loại nhỏ; ngành hoá chất sản xuất được thuốc nổ, cồn 90
o
c, ê te;
nhiều cơ sở sản xuất được diêm, thuèc lá, xà phòng, da, giấy quốc
doanh được xây dựng; nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ sản xuất được cả
giấy in tiền Những cơ sở kinh tế quốc doanh đầu tiên của ta trong
kháng chiến tuy nhỏ bé nhưng đã đáp ứng nhu cầu tối thiểu về hàng
tiêu dùng trong kháng chiến và nhân dân.
Trong thời kỳ này, công nghiệp quốc phòng phát triển mạnh mẽ
hơn cả. Các cơ sở quốc phòng được tổ chức cả ở trung ương, các khu,

Để đáp ứng nhu cầu mọi mặt cho kháng chiến. Năm 1947, Chính
phủ thành lập Nha tiếp tế, đến tháng 2/1948, đổi tên thành Cục tiếp tế
vận tải. Nhiệm vụ chủ yếu là thu mua, tổ chức vận chuyển thóc, gạo,
ngô, muối, đường, dầu hoả, giấy viết một phần để cung cấp cho bộ
đội, cán bộ công nhân viên, tiếp tế cho đồng bào miền núi, một phần
dự trữ cho kháng chiến.
1.4- Tài chính, tiền tệ:
Thời kỳ này, Đảng và Chính phủ chủ trương thực hiện chính sách
tài chính phân tán. Mỗi địa phương phải tự cấp, tự túc mọi mặt, tự lo
lấy các khoản chi tiêu bằng cách dùa vào nhân dân địa phương, động
viên nhân dân ủng hộ kháng chiến, Chính phủ chỉ cấp một phần.
18
Đường lối kinh tế của Đảng trong kháng chiến chống Pháp
.
Chính phủ đặt chế độ thuế mới phù hợp với tình hình kháng
chiến. Các thứ thuế thu ở thành thị nh thuế lương bổng, lãi doanh
nghiệp, lợi tức, thổ trạch đã được bãi bỏ, còn lại thuế điền thổ, thuế
môn bài, thuế sát sinh, thuế quan và thuế trước bạ thu bằng tiền.
Tuy nhiên, nguồn thu từ thuế chỉ đảm bảo một phần rất nhỏ số
chi tiêu của Nhà nước, nên Chính phủ cho lập các quỹ nh là Quỹ công
lương năm 1950, thu bằng hiện vật (10kg thóc/người), Quỹ kháng
chiến thu bằng tiền (60 đồng/người). Năm 1950, Chính phủ phát hành
công trái quốc gia để vay tiền của nhân dân nhưng kết quả không lớn.
Các khoản thu năm 1946 chỉ đảm bảo được 28% sè chi. Năm 1947 là
27%, năm 1948 là 20%, năm 1949 là 18%, năm 1950 là 23%.
Để bù đắp chi, Bộ tài chính cho phát hành tiền. Năm 1946, phát
hành 606 triệu đồng tiền tài chính; năm 1950 phát hành 11.600 triệu
đồng tiền tài chính (tăng 19 lần), làm cho đồng tiền mất giá nghiêm
trọng vào năm 1949-1950, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống nhân dân.
Về tiền tệ, mặc dù Chính phủ đã phát hành tiền trong cả nước,

khoản thu đều do Nhà nước quy định và được tập trung để tránh thu
chồng chéo giữa trung ương và địa phương. Chính phủ đề ra 7 loại thuế
(thuế nông nghiệp, thuế công thương nghiệp, thuế hàng hoá, thuế xuất
nhập khẩu, thuế sát sinh, thuế trước bạ, thuế tem). Trong các loại thuế
đó, thuế nông nghiệp ban hành ngày 01/5/1951 có vai trò quan trọng
nhất, có ý nghĩa cả về kinh tế và chính trị xã hội. Thuế nông nghiệp thu
bằng hiện vật, năm 1951, tổng số thuế nông nghiệp đã vượt so với thuế
điền thổ trước đây là 50% góp phần giải quyết vấn đề lương thực cho
kháng chiến. Thuế nông nghiệp thu tăng lên qua các năm, nếu lấy năm
năm 1951 là 100 thì năm 1952 là 277, năm 1953 là 530, năm 1954 là
326.
Thuế công thương nghiệp ban hành ngày 27/7/1951 được sửa đổi,
mức huy động trung bình chiếm 15% thu nhập của các xí nghiệp công
nghiệp và thương nghiệp. Do các ngành thủ công nghiệp và buôn bán
phát triển, mức đóng thuế công thương nghiệp tăng qua các năm. Nếu
lấy năm 1951 là 100, thì năm 1952 là 770, năm 1953 là 1.720, năm
1954 là 2.797.
Đồng thời với việc thiện tăng thu, chóng ta chủ trương giảm chi,
Nhà nước thực hiện chủ trương tiết kiệm chi, giảm biên chế khu vực
hành chính. Trong đợt đầu giảm biên chế (tháng 8,9/1951) có 35.159
nhân viên hành chính được chuyển sang công việc khác, tiết kiện được
40.000 tấn thóc trong một năm.
20
Đường lối kinh tế của Đảng trong kháng chiến chống Pháp
.
Từ năm 1951 trở đi, nhờ thực hiện chính sách tăng thu, giảm chi,
thống nhất quản lý thu chi mà ngân sách Nhà nước gần được cân bằng.
Năm 1950, thu chỉ đáp ứng 23% sè chi, năm 1951 là 30%, năm 1952 là
78%, năm 1953 ở miền Bắc và Bắc trung bé thu đã vượt chi 16%, năm
1954 thu vượt chi 12%. Với kết quả đó, Chính phủ đã có điều kiện góp

.
lần. Như vậy, mậu dịch quốc doanh đã phát huy vai trò của mình trong
việc phục vụ sản xuất, điều hoà thị trường ổn định giá cả, đảm bảo
cung cấp hàng hoá và đấu tranh kinh tế với địch. Cùng với ngân hàng,
tài chính, Mậu dịch quốc doanh góp phần ổn định giá cả. Do vậy, giá
cả những mặt hàng quan trọng nh muối vải ,xà phòng được ổn định,
nhiều nơi giá được giảm xuống nh giá gạo hạ 25-30%, muối hạ 30-
40%, vải hạ 30%.
Đồng thời với việc làm trên, đầu năm 1952, Đảng và Chính phủ
đề ra kế hoạch sản xuất và tiết kiệm, đây được coi là kế hoạch là
công tác trọng tâm của toàn Đảng toàn dân trong kháng chiến chống
Pháp. Kế hoạch sản xuất và tiÕt kiệm có liên quan chặt chẽ tới ba công
tác trên. Nội dung kế hoạch sản xuất đề ra: sản xuất lúa phải tăng từ
10% trở lên so với mức thu hoạch bình thường; tập trung sản xuất
bông, lạc, đỗ; đặc biệt chú trọng sản xuất bông; trâu bò tăng từ 10-
15%, mỗi nhà cấy một ha, nuôi một con lợn, 10 con gà; phát triển
ngành nuôi cá. Tuy kế hoạch sản xuất lúc đó chưa mang tính pháp lệnh
nhưng nhân dân, cán bộ, bộ đội khắp các địa phương đều thực hiện sôi
nổi, tích cực.
2.4- Thực hiện giảm tô và cải cách ruộng đất
Cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn cuối (thời kỳ tổng phản
công) đồng thời chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ, trong tình
hình đó, đòi hỏi phải động viên cả vật chất lẫn tinh thần cho hậu
phương và cho tiền tuyến. Vào tháng 3/1953, Chính phủ quyết định
phát động phong trào quần chúng đấu tranh đòi triệt để giảm tô, giảm
tức và thực hiện thoái tô. Kết quả đã tổ chức được 7 đợt vận động nhân
dân dấu tranh đòi giảm tô ở 1.532 xã trong vùng bị tạm chiếm, thu
được 24.490 tấn thóc thoái tô. Đó là một đòn đánh mạnh vào tiềm lực
kinh tế của địa chủ, là một dịp nâng cao ý thức giai cấp của nông dân
và tác động mạnh đến nông thôn trong vùng bị tạm chiếm.

động hướng các hoạt đéng kinh tế phục vụ cho kháng chiến và dân
sinh. Bước đầu thủ tiêu được quan hệ sản xuất phong kiến, thực hiện
được khẩu hiệu “ngưêi cày có ruộng”.
2. Các ngành kinh tế phát triển đều dặn, nông nghiệp được giữ
vững, một số vùng có diện tích và sản lượng cây trồng tăng lên. Tiểu
thu công nghiệp được phục hồi và phát triển, đáp ứng nhu cầu thiết yếu
cho đời sống nhân dân và có một phần cho xuất khẩu. Công nghiệp
quốc doanh được xây dựng đủ sức cung cấp một số vũ khí cơ bản và
một phần sản phẩm tiêu dùng cho kháng chiến. Đường giao thông giai
đoạn đầu kháng chiến bị phá huỷ, sau được sửa chữa, các phương tiện
vận tải từ thô sơ đến cơ giới đã được tận dụng có hiệu quả. Trao đổi
hàng hoá giữa các vùng trong nước và nước ngoài được mở rộng.
3. Đời sống vật chất của nhân dân được ổn định tuy còn thiếu
thốn, nhưng nạn đói đã được năn chặn, đời sống văn hoá, tinh thần
thay đổi đáng kể. Dưới thời Pháp thống trị, hơn 90% người dân bị mù
chữ, trong 9 năm kháng chiến đã có 10,5 triệu người thoát nạn mù chữ,
gần nh hoàn toàn người dân ở vùng tự do đã biết đọc, biết viết. Nhân
dân rất tin tưởng vào tương lai của một dân toọc độc lập, điều này tạo
nên sức mạnh vật chất cho những chiến thắng vẻ vang của dân téc.
Những bài học kinh nghiệm:
Một nước nông nghiệp lạc hậu trong chiến tranh chống đế quốc
xâm lược có thể vừa kháng chiến, vừa kiến quốc. Có kháng chiến mạnh
24
Đường lối kinh tế của Đảng trong kháng chiến chống Pháp
.
chống đế quốc thì mới có điều kiện xây dựng kinh tế, kiến thiết đất
nước. Mặt khác, có xây dựng kinh tế vững chắc mới có cơ sở để kháng
chiến thắng lợi.
Xây dựng nền kinh tế dân téc dân chủ nhân dân là một chủ
trương sáng suốt, phát huy tối đa sức mạnh của dân téc. Trong thời kỳ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status