Đề tài tham dự cuộc thi
Sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2010 Nợ nước ngoài và ảnh hưởng tới
tăng trưởng kinh tế Việt Nam 1
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU 4
LỜI MỞ ĐẨU 5
CHUƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ NỢ NƢỚC NGOÀI VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA
NỢ NƢỚC NGOÀI VÀ TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ 7
1.1 Lý thuyết chung về nợ nƣớc ngoài: 7
1.1.1 Khái niệm nợ nƣớc ngoài và tái cơ cấu nợ nƣớc ngoài 7
1.1.1.1 Khái niệm về nợ chính phủ, nợ nƣớc ngoài và nợ quốc gia 7
2.2.1 Phƣơng pháp luận áp dụng để khảo sát mối quan hệ giữa nợ nƣớc ngoài và tăng
trƣởng kinh tế của Việt Nam 52
2.2.2 Mô tả số liệu 56
2.2.3 Kết quả thực nghiệm 58
2.2.3.1 Kiểm định tính dừng của biến: (Unit root test) 58
2.2.3.2 Kiểm định đồng liên kết (Cointergration Test) 58
2.2.3.3 Kết quả Kiểm định quan hệ nhân quả Granger Causality 60
CHƢƠNG III: KẾT LUẬN RÚT RA VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH VAY NỢ
NƢỚC NGOÀI 62
KẾT LUẬN 65
PHỤ LỤC 1: KÝ HIẸU CÁC BIẾN SỐ 66
PHỤ LỤC 2: BẢNG SỐ LIỆU ĐẦU TƢ, VỐN TÍCH LUỸ, TỔNG SẢN PHẨM QUỐC
DÂN 67
PHỤ LỤC 3: BẢNG SỐ LIỆU HỒI QUY MÔ HÌNH 68
PHỤ LỤC 4: KẾT QUẢ HỒI QUY VÀ KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH BẰNG PHẦN MỀM
STATA 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77 3
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ODA
Official Development Assistance – Vốn hỗ trợ phát triển chính thức
OECD
Organization for Economic Co-operation and Development – Tổ
chức hợp tác và phát triển kinh tế
OLS
Ordinary Least Square – Phƣơng pháp bình phƣơng nhỏ nhất
RES
Tổng dự trữ ngoại hối
TDS
Tổng nợ phải trả hàng năm
TP
Trái phiếu
VND
Đồng Việt Nam
WB
World Bank – Ngân hàng thế giới
XGS
Kim ngạch thu xuất khẩu
4
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Hình 1: Cơ cấu dòng vốn vào 12
Hình 2: Đƣờng cong Laffer về nợ 23
Hình 3: Mối liên hệ “threshold effect” giữa nợ và tăng trƣởng 24
1. Tính cấp thiết của đề tài
Là một quốc gia đang phát triển, nguồn vốn từ nƣớc ngoài nói chung và nợ nƣớc
ngoài nói riêng đóng vai trò là một biến số kinh tế rất quan trọng đối với Việt Nam.
Những năm gần đây, đã có nhiều quan ngại về tỷ lệ nợ nƣớc ngoài của Việt Nam và
đặc biệt là những tác động của nhân tố này đến tăng trƣởng và phát triển của quốc gia.
Trên thực tế, việc nắm rõ sự tác động này trong thực trạng cụ thể của nền kinh tế là hết
sức cần thiết để hoạch định những chính sách quản lý hoạt động vay nợ nƣớc ngoài
một cách có hiệu quả nhất. Thấy đƣợc tầm quan trọng của vấn đề này, tác giả quyết
định chọn đề tài “Nợ nước ngoài và ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế của Việt
Nam”.
2. Đối tƣợng nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là đánh giá thực trạng vay nợ nƣớc ngoài và tìm
hiểu mối quan hệ giữa nợ nƣớc ngoài và tăng trƣởng kinh tế ở Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là thông qua tìm hiểu mối quan hệ tác động giữa
hai biến số kinh tế này sẽ rút ra một số nhận xét và đề xuất các chính sách liên quan
đến vấn đề vay nợ nƣớc ngoài của Việt Nam.
3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tập trung vào thực trạng vay nợ nƣớc ngoài và phân tích định
lƣợng mối quan hệ giữa vay nợ nƣớc ngoài với tăng trƣởng kinh tế tại Việt Nam từ
năm 1986, khi nền kinh tế bắt đầu mở cửa cho đến hết năm 2009.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài, tác giả sử dụng các phƣơng pháp: thu thập thông tin, tổng
hợp và phân tích số liệu từ Internet, các bài báo, các bài nghiên cứu. Đồng thời sử dụng 6
phƣơng pháp kinh tế lƣợng để tìm ra mối quan hệ định lƣợng giữa nợ nƣớc ngoài và
tăng trƣởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi.
Ngoài các mục mở đầu, kết luận, danh mục từ viết tắt, danh mục đồ thị và bảng
một thời điểm đối với các khoản vay trong nƣớc và vay nƣớc ngoài của Chính phủ.
Nợ chính phủ bao gồm tổng nợ trong và ngoài nƣớc của chính phủ, tổng các
khoản vay nợ của khu vực tƣ có bảo lãnh của Chính phủ (chủ yếu là nợ nƣớc ngoài) và
các khoản nợ của các tổ chức thuộc khu vực công.
Nợ chính phủ bao gồm nợ của chính quyền trung ƣơng và chính quyền địa
phƣơng. Nói cách khác, nợ chính phủ chỉ liên quan đến hoạt động vay nợ của các cơ
quan chính phủ thuộc đối tƣợng sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc và đƣợc phép
vay nợ theo quy định của pháp luật. Theo thông lệ quốc tế, nợ của Ngân hàng Trung
ƣơng không đƣợc xếp vào nợ của Chính phủ mà đƣợc tổng hợp vào nợ của khu vực
công. Tuy nhiên, đối với Việt Nam, do Ngân hàng nhà nƣớc là một cơ quan của Chính
phủ nên các khoản vay nợ của Ngân hàng nhà nƣớc Việt Nam đƣợc tổng hợp vào tổng
nợ của Chính phủ.
Ở nƣớc ta, để thực hiện chức năng quản lý vĩ mô nền kinh tế, Chính phủ phải gắn
một phần trách nhiệm của mình đối với một số khoản nợ của các chủ thể kinh tế khác, 8
chẳng hạn của các tổ chức công, nhƣ Quỹ Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhà nƣớc và
nợ của khu vực tƣ có bảo lãnh của Chính phủ.
Nợ nước ngoài của quốc gia là số dƣ của mọi nghĩa vụ nợ hiện hành (không bao
gồm nghĩa vụ nợ dự phòng) về trả gốc và lãi tại một thời điểm của các khoản vay nƣớc
ngoài của quốc gia. Nợ nƣớc ngoài còn có thể định nghĩa là khoản vay của quốc gia đối
với những chủ nợ cƣ trú ngoài phạm vi quốc gia (bao gồm cả những khoản nợ trong
nƣớc do ngƣời không cƣ trú tại quốc gia đó nắm giữ).
Theo Từ điển thuật ngữ về ngân hàng và tài chính của Nhà xuất bản Peter
Collin, tái bản năm 1997, thì nợ nƣớc ngoài là khoản vay nợ của một quốc gia từ một
quốc gia khác, nói cách khác, chủ nợ thƣờng trú ở nƣớc ngoài và con nợ thƣờng trú
trong nƣớc. Nhƣ vậy, nợ nƣớc ngoài bao gồm cả các khoản nợ trên thị trƣờng nợ nội
địa nhƣng chủ nợ là những ngƣời không cƣ trú ở nội địa.
(Nợ nƣớc ngoài của Chính phủ là số dƣ mọi nghĩa vụ về trả nợ gốc và trả nợ lãi tại
một thời điểm về các khoản vay nƣớc ngoài của Chính phủ.), nợ nƣớc ngoài của chính
quyền cấp tỉnh, thành phố (nếu có) và nợ nƣớc ngoài của các tổ chức kinh tế nhà nƣớc
(Tổ chức kinh tế nhà nƣớc gồm: Doanh nghiệp nhà nƣớc và tổ chức tài chính - tín dụng
nhà nƣớc). Nợ nƣớc ngoài của khu vực tƣ nhân là nợ nƣớc ngoài của các doanh nghiệp,
tổ chức kinh tế thuộc khu vực tƣ nhân (không bao gồm nợ của cá nhân - nếu có).
1.1.1.2 Tái cơ cấu nợ nƣớc ngoài:
Tái cơ cấu nợ hay tái tổ chức nợ có nhiều dạng: Thay đổi kỳ hạn nợ là hoãn trả nợ
cho tới một thời điểm thuận tiện trong tƣơng lai, Xóa nợ là bất kỳ việc cắt giảm nào về
giá trị của khoản nợ theo hợp đồng. Điều này có thể thực hiện đƣợc bằng nhiều cách
khác nhau, rõ ràng nhât là xóa toàn bộ nợ [Corden trích trong 21, tr. 280]. Giảm giá trị
hiện tại của khoản nợ là bất kỳ biện pháp nào làm giảm giá trị hiện tại của các khoản
thanh toán tới hạn, ví dụ kéo dài thời gian ân hạn.
Giảm nợ là bất kỳ biện pháp nào có thể giảm giá trị khoản nợ của một quốc gia ví
dụ nợ có thể chuyển thành vốn sở hữu, mua lại nợ, hoặc chuyển thành trái phiếu dài 10
hạn với một suất chiết khấu. Giảm nợ có thể làm giảm giá trị khoản nợ nhƣng không
chắc sẽ làm giảm các khoản thanh toán trong tƣơng lai. Ví dụ, chuyển nợ thành vốn sở
hữu nợ sẽ giảm nhƣng các khoản thanh toán trong tƣơng lai. Ví dụ, chuyển nợ thành
vốn sở hữu nợ sẽ giảm nhƣng các khoản thanh toán không giảm mà chỉ thay thế khoản
thanh toán lãi suất trƣớc đây bằng thanh toán cổ tức. Trong dài hạn các khoản thanh
toán sẽ thật sự gia tăng.
Tái cơ cấu nợ thƣờng đƣợc thực hiện thông qua hình thức chuyển nợ thành vốn,
nhƣng về sau càng có nhiều nghiệp vụ khác đƣợc áp dụng hơn, có 5 dạng nghiệp vụ
thƣờng gặp trên thị trƣờng thứ cấp:
- Thứ nhất, chuyển nợ thành vốn là nghiệp vụ liên quan đến việc mua nợ trên
chức chuyên doanh thực hiện. Nghiệp vụ này có thể tiến hành bằng nhiều hình thức, kỹ
thuật rất phức tạp, đặc biệt là việc thiết lập các chứng từ giao dịch. N ghiên cứu sẽ
không đi sâu phân tích khía cạnh kỹ thuật của các nghiệp vụ này.
1.1.2 Phân loại nợ nƣớc ngoài
Phân loại nợ nƣớc ngoài trƣớc hết phải dựa trên luồng vốn vào để nắm đƣợc tính
chất, cơ cấu của từng loại vốn, từ đó lựa chọn cơ cấu phù hợp đáp ứng nhu cầu tăng
trƣởng ổn định, giúp quản lý nợ nƣớc ngoài hiệu quả hơn.
1.1.2.1 Cơ cấu dòng vốn vào
Dòng vốn vào một quốc gia có cấu trúc nhƣ trong hình 1.
Trong đó, tài trợ phát triển chính thức (ODA) thƣờng là luồng vốn ƣu đãi (lãi suất
thấp, thời hạn vay dài, thời gian ân hạn dài) đầu tƣ vào cơ sở hạ tầng sản xuất và xã hội
nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế và thu hút đầu tƣ ở nƣớc tiếp nhận.
Trong luồng tài trợ phát triển chính thức, viện trợ phát triển chính thức (ODA) chiếm
tỷ trọng cao. 12
Hình 1: Cơ cấu dòng vốn vào
không
hoàn lại
Viện trợ
có hoàn
lại 13
Đầu tƣ tài chính hay còn gọi là danh mục đầu tƣ là dạng mua chứng khóan nợ,
chứng khoán cổ phần hoặc các công cụ phát sinh. Danh mục đầu tƣ là tổng các nguồn
quỹ tài trợ quốc gia, biên nhận tiền gởi và trực tiếp mua các cổ phần bởi nhà đầu tƣ
nƣớc ngoài. Nếu việc mua cổ phiếu đƣợc thực hiện theo các đầu cơ vốn ngắn hạn có
thể thúc đẩy thị trƣờng tài chính vận hành và cũng có thể tạo nên những cú sốc kinh tế.
Khoản cho vay tƣ nhân gồm (i) khoản vay thƣơng mại: vay theo điều kiện của thị
trƣờng tiền tệ quốc tế (không đƣợc ƣu đãi), (ii) khoản tín dụng thƣơng mại: khoản vay
giữa các doanh nghiệp với nhau thƣờng liên quan đến mua bán hàng hóa trả chậm, (iii)
khoản chuyển vốn của các tổ chức phi chính phủ nƣớc ngoài dƣới dạng viện trợ tài
chính hoặc hiện vật thông qua việc cung cấp các hàng hóa và dịch vụ. Những khoản
này thƣờng rất khó có số liệu thống kê chính thức và với lãi suất thƣơng mại của các
khoản vay, nếu không sử dụng hợp lý rất dễ trở thành gánh nặng về nợ nƣớc ngoài của
quốc gia trong tƣơng lai.
1.1.2.2 Phân loại nợ nƣớc ngoài
Phân loại các khoản nợ vay nƣớc ngoài chủ yếu căn cứ vào các tiêu chí khác nhau
giúp cho công tác theo dõi, đánh giá và quản lý nợ có hiệu quả. Cách phân loại chủ yếu
đối với nợ nƣớc ngoài của một quốc gia là phân loại theo phạm vi phát hành.
- Phân loại theo điều kiện vay: ƣu đãi và không ƣu đãi. Theo định nghĩa của Ủy
Ban Hỗ trợ phát triển, khoản vay ƣu đãi là khoản vay trong đó yếu tố viện trợ từ 25%
trở lên; yếu tố viện trợ của một khoản vay là giá trị cam kết của nó trừ đi giá trị dịch vụ
nợ phải thanh toán theo hợp đồng (tính bằng giá trị hiện tại với suất chiết khấu theo
tệ Quốc tế, các ngân hàng phát triển khu vực, các cơ quan đa phƣơng nhƣ OPEC và
liên Chính phủ. Trong khi đó, nợ song phƣơng đến từ Chính phủ một nƣớc nhƣ các
nƣớc thuộc OECD và các nƣớc khác hoặc đến từ một tổ chức quốc tế nhân danh một
Chính phủ duy nhất dƣới các dạng hỗ trợ tài chính, viện trợ nhân đạo bằng hiện vật. 15
1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá nợ nƣớc ngoài
Khác với nợ trong nƣớc, nợ nƣớc ngoài của Chính phủ nói riêng, nợ quốc gia nói
chung rất đƣợc các nhà quản lý quan tâm vì nợ nƣớc ngoài không chỉ liên quan đến
thực trạng nền kinh tế, khả năng trả nợ mà còn liên quan đến khả năng thu hút các
nguồn lực tài chính từ bên ngoài phục vụ cho các mục tiêu vĩ mô của nhà nƣớc. Các
chỉ số đánh giá nợ nƣớc ngoài đƣợc xây dựng thành hệ thống nhằm xác định mức độ
nghiêm trọng của nợ nƣớc ngoài đối với an ninh tài chính quốc gia. Cũng cần phải xác
định lại là các chỉ tiêu đánh giá chung về nợ nƣớc ngoài, trong đó nợ nƣớc ngoài của
Chính phủ là chủ yếu, còn nợ của khu vực tƣ nhân hầu nhƣ không đáng kể.
1.1.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá mức độ nợ nƣớc ngoài
Để xếp loại các con nợ theo mức độ nợ, Ngân hàng thế giới sử dụng các chỉ số
đánh giá mức độ nợ nần của các quốc gia vay nợ nhƣ ở bảng 1.1:
Bảng 1: Tiêu chí đánh giá mức độ nợ nƣớc ngoài
Chỉ số
Mức độ trầm
trọng
Mức độ khó
khăn
Mức độ bình
thƣờng
1. Tỷ lệ % tổng nợ nƣớc ngoài so với GDP
≥ 50%
Quy mô nợ và trả nợ, trả lãi so với nguồn thu trực tiếp và gián tiếp để trả nợ
thƣờng đƣợc dùng để đánh giá mức độ nợ. Mức độ nợ cũng ngầm cho biết khả năng trả
nợ của các quốc gia trong trung và dài hạn. Các chỉ tiêu thƣờng dùng:
* Khả năng hòan trả nợ vay nước ngoài (EDT/XGS)
- Tổng nợ / Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa dịch vụ: Chỉ tiêu này biểu diễn
tỷ lệ nợ nƣớc ngoài bao gồm nợ tƣ nhân, nợ đƣợc chính phủ bảo lãnh trên thu nhập
xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ. Ý tƣởng sử dụng chỉ tiêu này là nhằm phản ánh nguồn
thu xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ là phƣơng tiện mà một quốc gia có thể sử dụng để
trả nợ nƣớc ngoài. Những vấn đề khi sử dụng chỉ tiêu này là: Nguồn thu xuất khẩu dễ
biến động từ năm này sang năm khác, ngoài ra cũng có những phƣơng án khác để nƣớc
con nợ có thể sử dụng để trả nợ nƣớc ngoài mà không nhất thiết phải tăng xuất khẩu.
Ví dụ cắt giảm nhu cầu nhập khẩu hay giảm nguồn dự trữ ngoại hối. Chỉ tiêu này ở các
nƣớc Đông Á Thái Bình Dƣơng ngày càng giảm dần cho thấy khả năng trả nợ bằng thu
nhập xuất khẩu đang trở nên khó khăn, cần phải có những nguồn thu khác để bù đắp.
* Tỷ lệ nợ nước ngoài so với thu nhập quốc gia (EDT/GNI )
- Nợ/GNI: Đây là chỉ tiêu đánh giá khả năng trả nợ thông qua thu nhập quốc dân
đƣợc tạo ra. Hay nói cách khác, nó phản ánh khả năng hấp thụ vốn vay nƣớc ngoài.
Thông thƣờng các nƣớc đang phát triển thƣờng đánh giá cao giá trị đồng nội tệ hoặc sử
dụng chế độ đa tỷ giá dẫn tới làm giảm tình trạng trầm trọng của nợ. Do vậy, tình trạng
nợ có thể không đƣợc đánh giá đúng mức.
*Tỷ lệ trả nợ ( TDS/XGS ) 17
- Tổng nợ phải trả hàng năm / Kim ngạch thu xuất khẩu: Còn gọi là tỷ lệ dịch vụ
nợ (nợ gốc và lãi phải thanh toán so với giá trị xuất khẩu). Đây là một tiêu chí quan
trọng, phản ánh quan hệ giữa nghĩa vụ nợ phải trả so với năng lực xuất khẩu hàng hóa
và dịch vụ của quốc gia đi vay.
Tháng 9 năm 2000, Hiệp định cơ cấu lại nợ cho các quốc gia có đồng tiền không
nợ song phƣơng cao. Các chỉ tiêu đánh giá cơ cấu gồm:
- Nợ ngắn hạn / Tổng nợ: Phản ánh tỷ trọng các khoản nợ cần thanh toán trong
thời gian nhỏ hơn một năm trong tổng nợ. Tỷ lệ này càng cao, áp lực trả nợ càng lớn.
- Nợ ƣu đãi / Tổng nợ: Tỷ lệ này càng cao, gánh nặng nợ nƣớc ngoài càng nhẹ.
- Nợ đa phƣơng / Tổng nợ: Các khoản nợ đa phƣơng thƣờng nhằm mục đích hỗ
trợ, ít mƣu cầu về lợi nhuận, do đó việc tăng tỳ trọng nợ đa phƣơng trong tổng nợ phản
ánh tình hình nợ nƣớc ngoài của một nƣớc thay đổi theo chiều hƣớng tốt.
1.1.4 Các nhân tố ảnh hƣởng đến nợ vay, chi phí sử dụng nợ
Rõ ràng việc vay nợ nƣớc ngoài có tầm quan trọng nhất định đến sự phát triển
của các quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên một yếu tố có tính quyết định đến việc sử
dụng nợ có hiệu quả hay không chính là chi phí sử dụng nợ.
Chi phí sử dụng là cái giá mà một quốc gia phải trả cho việc sử dụng vốn vay
Cái giá phải trả này ngoài tiền lãi phải trả định kỳ, quốc gia còn phải trả chi phí môi
giới, chi phí phát hành nợ (nếu là phát hành trái phiếu), hoặc những chi phí vô hình là
những ràng buộc của quốc gia cho vay (nếu là nợ vay ƣu đãi), thêm vào đó là những
khoản có thể mất đi do những quan chức Nhà nƣớc có tật tham ô. 19
Chi phí sử dụng nợ có thể gia tăng do những biến động của kinh tế thế giới cũng
nhƣ sự thiếu linh hoạt của cơ quan điều hành vĩ mô trong các chính sách tài chính tiền
tệ; bởi vì xét về vay nợ, thời gian là yếu tố quan trọng dẫn đến gia tăng rủi ro của
khoản vay đó, trong suốt khoảng thời gian đi vay có thể xảy ra những biến cố có lợi
hoặc bất lợi đến các khoản vay, nhất là nợ vay nƣớc ngoài. Những yếu tố đó là rủi ro
về tỷ giá hối đoái, lãi suất thị trƣờng, lạm phát và những rủi ro quốc gia khác.
Tỷ giá hối đoái
Trong mô hình đầu tƣ tiết kiệm, tỷ giá hối đoái giữ vai trò quan trọng trong việc
giải thích các biến động trong tài khoản vãng lai. Nếu ngƣời ta dự đoán đƣợc rằng có
sự sụt giá thực sự của đồng nội tệ thì các hộ gia đình có thể rủ nhau đi mua hàng nhập
Mức lạm phát này thƣờng cao hơn lạm phát của các nƣớc chủ nợ là các quốc gia đã
phát triển. Theo thuyết ngang giá lãi suất, lạm phát trong nƣớc cao hơn so với lạm phát
nƣớc ngoài thì tỷ giá hối đoái sẽ tăng lên để bù lại khoản chênh lệch đó, và nhƣ phân
tích ở phần tỷ giá hối đoái, điều này có thể làm gia tăng mức nợ vay thực tế.
Rủi ro quốc gia
Rủi ro quốc gia là những biến cố có thể xảy ra đối với quốc gia đó nhƣ chính trị,
chiến tranh, tình hình an ninh xã hội… Điều này đƣợc lƣợng hóa thông qua hệ số tín
nhiệm của các quốc gia này. Hiện nay hầu hết các quốc gia đều thành lập cho mình một
tổ chức để xếp hạng rủi ro doanh nghiệp và rủi ro quốc gia. Hai tổ chức lớn nhất và có
uy tín nhất về vấn đề này trên thế giới là Moody’s và Standard & Poor’s. Thang điểm
xếp hạng tín nhiệm của họ đƣợc đƣa ra nhƣ sau:
21 Bảng 2: Thang điểm xếp hạng tín nhiệm
Hạng BB hay Ba vừa mang tính chất đầu tƣ vừa mang tính chất đầu cơ vì nó
uyít khả năng vỡ nợ nhƣ B nhƣng khả năng thanh toán nợ gốc và lãi thấp, thể hiện tính
bấp bênh về tài chính của chủ thể vay nợ. Quốc gia nào có hệ số tín nhiệm càng cao
thìmức lãi suất đòi hỏi của chủ nợ đối với quốc gia đó càng thấp và ngƣợc lại.
Hiện nay hệ số tín nhiệm của khu vực Châu Á vẫn còn khá thấp chỉ ở mức trung
bình trở xuống cho thấy mức rủi ro của chúng ta khá cao.
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về mối quan hệ giữa nợ nƣớc
ngoài và tăng trƣởng kinh tế
Các lí thuyết kinh tế cho rằng mức vay nợ hợp lí ở các nƣớc đang phát triển sẽ
kích thích tăng trƣởng kinh tế. Các quốc gia ở giai đoạn phát triển đầu với dung lƣợng
vốn nhỏ hơn sẽ có những cơ hội đầu tƣ với tỷ suất hoàn vốn cao hơn so với các nền
A
Baa
Ba
B
Caa
Ca
C
D 22
nợ của một nƣớc thì các chi phí dự tính chi trả cho các khoản nợ sẽ kìm hãm đầu tƣ
trong nƣớc và đầu tƣ nƣớc ngoài, từ đó ảnh hƣởng xấu đến tăng trƣởng. Các nhà đầu tƣ
tiềm năng sẽ lo sợ rằng khi quốc gia đó sản xuất càng nhiều, họ sẽ bị các nƣớc “chủ
nợ” “đánh thuế” nặng hơn để chi trả cho các khoản nợ nƣớc ngoài, do đó các nhà đầu
tƣ sẽ khó có thể bỏ các chi phí đầu tƣ hiện tại để thu về sản lƣợng cao hơn trong tƣơng
lai. Lý thuyết “debt overhang” còn đi đến một kết quả rộng hơn, đó là mức nợ nƣớc
ngoài quá cao sẽ làm giảm các ƣu đãi của chính phủ cho các hoạt động cải tổ cơ cấu và
tài khóa do việc củng cố tinh hình tài khóa quốc gia có thể làm tăng áp lực trả nợ cho
nƣớc ngoài. Những bất lợi này đối với công cuộc cải tổ đang là mối quan ngại lớn ở
các nƣớc có thu nhập thấp, nơi mà việc cải cách cơ cấu là cần thiết để duy trì tốc độ
tăng trƣởng kinh tế.
“Debt overhang” cũng đồng thời kìm hãm đầu tƣ và tăng trƣởng do gây ra “sự
không chắc chắn” về các quyết định của Chính phủ. Khi quy mô nợ công tăng lên, khó
có thể chắc chắc rằng chính phủ sẽ viện tới những chính sách gì để giải quyết các
khoản nợ phải trả. Trên thực tế, ngƣời ta cho rằng rằng chính phủ có thể dùng các công
cụ “bóp méo” đầu tƣ để chi trả cho các khoản nợ (theo Agenor và Montiel 1996).
Lập luận này có thể đƣợc xem xét trong đƣờng cong Laffer về nợ (đồ thị 1), cho
thấy rằng tổng nợ càng lớn sẽ đi kèm với khả năng trả nợ càng giảm. Trên phần dốc lên
qua ngƣỡng này, nợ bắt đầy tác động ngƣợc chiều đến tăng trƣởng. Theo Cohen
(1993), mối quan hệ giữa giá trị của nợ và đầu tƣ có thể đƣợc mô tả tƣơng tự với
đƣờng cong Laffer: khi tổng nợ tăng cao hơn mức “threshold level”, các khoản chi trả
Dung lƣợng nợ
Debt
overhang
Khả năng trả nợ dự kiến 24
thực tế cho nợ nƣớc ngoài sẽ giảm nhƣ đã trình bày ở trên. Điều này ngầm ý rằng sự
tăng lên trong giá trị của nợ sẽ làm cho số tiền chi trả cho nợ tăng lên cho đến mức
“threshold level”, tức là ở phía bên trái đƣờng cong Laffer. Ngƣợc lại, giá trị nợ tăng
lên thì số tiền thực dùng cho việc trả nợ của quốc gia đó giảm đi tƣơng đối. Từ đó,
ngƣời ta dự đoán một đƣờng cong Laffer mô tả mối quan hệ giữa nợ nƣớc ngoài và
tăng trƣởng kinh tế.
Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra đó chính là mối liên hệ “threshold effect” giữa
mức nợ nƣớc ngoài và tăng trƣởng kinh tế. Cụ thể, nợ nƣớc ngoài có mối liên hệ hình
chữ U ngƣợc với tăng trƣởng kinh tế (Đồ thị 2). Khi các nƣớc bắt đầu vay nợ, các
khoản nợ này có xu hƣớng tác động tích cực đến tăng trƣởng (chuyển từ mức nợ 0 đến
điểm A trong đồ thị 2). Khi tỷ lệ nợ tăng lên quá điểm A, việc vay nợ gia tăng sẽ cản
trở tăng trƣởng mặc dù nợ đóng góp dƣơng trong tăng trƣởng. Do đó, điểm A đƣợc coi
là điểm biểu diễn “mức nợ tối đa hóa tăng trƣởng”. Khi nợ tiến đến điểm B, nợ bắt đầu
ảnh hƣởng ngƣợc chiều đến tăng trƣởng, tình hình của nền kinh tế lúc này sẽ tồi tệ hơn
trƣớc khi nƣớc đó vay nợ.
Hình 3: Mối liên hệ “threshold effect” giữa nợ và tăng trƣởng