Đề tài :Phòng ngừa rủi ro trong hoạt động đầu tư vàng tại Việt Nam pot - Pdf 12



Đề tài tham dự cuộc thi
Sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2019

Phòng ngừa rủi ro trong hoạt
động đầu tư vàng tại Việt Nam
1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hơn hai năm sau khi gia nhập tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO), nƣớc ta đã đạt
đƣợc những thành tựu đáng kể mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó không thể
không kể đến lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực đã có những bƣớc tiến ngoạn mục. Khi chứng
kiến sự phát triển mau lẹ của lĩnh vực thƣơng mại, độ nóng mỗi ngày của thị trƣờng
chứng khoán và các thị trƣờng tài chính khác thì không dễ phủ nhận các lợi ích mà
hội nhập mang lại. Nhƣng cũng không khó để nhận thấy nền kinh tế nƣớc ta cũng bị
ảnh hƣởng không ít bởi những biến động bất lợi trên thị trƣờng thế giới. Cuộc khủng
hoảng tài chính cuối năm 2008 xuất phát từ Hoa Kỳ đã nhanh chóng lan ra toàn thế

3. Đối tƣợng nghiên cứu
Các biện pháp phòng ngừa rủi ro trong hoạt động đầu tƣ vàng trên các sàn vàng tại
Việt Nam.

4. Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp đơn giản và dễ sử dụng cho các nhà đầu tƣ ứng dụng khi
phòng ngừa rủi ro trong đầu tƣ vàng tại Việt Nam.
Kiến nghị một số giải pháp hỗ trợ nhà đầu tƣ trong công tác phòng ngừa rủi ro từ phía
các cơ quan chức năng hữu quan.

5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu sử dụng phƣơng pháp thu thập thông tin trực tiếp về tình hình
sử dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro của các nhà đầu tƣ vàng bằng phiếu khảo sát.
Sau khi đã loại bỏ các phiếu không hợp lệ, nhóm nghiên cứu đã sử dụng 248 trong
tổng số 300 phiếu phát ra. Phƣơng pháp phỏng vấn trực tiếp cũng đƣợc nhóm sử dụng
khi lấy ý kiến của sinh viên tại một số trƣờng trên địa bàn thành phố Hà Nội cho biết
ý kiến về các môn học liên quan đến lĩnh vực đầu tƣ vàng và nhận định của một số
nhân viên sàn vàng Á châu về thị trƣờng vàng hiện nay. Ngoài ra phƣơng pháp phân
tích – tổng hợp, so sánh, mô hình cũng đƣợc nhóm sử dụng trong công trình này. 3 6. Phạm vi nghiên cứu
Thị trƣờng vàng Việt Nam từ năm 2008 đến thời điểm ngày 15/07/2009.

7. Kết quả nghiên cứu dự kiến
Xác định các nhân tố ảnh hƣởng đến giá vàng thế giới.
Chỉ rõ các rủi ro trong hoạt động đầu tƣ vàng tại Việt Nam.

1.2.1.1 Cung vàng thế giới Error! Bookmark not defined.
1.2.1.2 Cầu vàng thế giới Error! Bookmark not defined.
1.3 Một số vấn đề cơ bản về kinh doanh vàng trên thị trƣờng vàng thế giới Error!
Bookmark not defined.
1.3.1 Cách niêm yết giá vàng trên thế giới Error! Bookmark not defined.
1.3.2 Cách đọc và viết giá vàng Error! Bookmark not defined.
1.3.3 Trạng thái vàng Error! Bookmark not defined.
1.3.3.1 Khái niệm Error! Bookmark not defined.
1.3.3.2 Phƣơng pháp xác định trạng thái vàng Error! Bookmark not defined.
1.3.3.3 Trạng thái vàng và rủi ro giá vàng Error! Bookmark not defined.
1.3.4 Các phƣơng thức tổ chức giao dịch vàng trên thị trƣờng vàng thế giới Error!
Bookmark not defined.
1.3.4.1 Thị trƣờng OTC Error! Bookmark not defined.
1.3.4.2 Sở giao dịch vàng Error! Bookmark not defined.
1.3.5 Các nghiệp vụ giao dịch vàng trên thế giới Error! Bookmark not defined.
1.3.5.1 Nghiệp vụ giao dịch vàng giao ngay Error! Bookmark not defined.
1.3.5.2 Nghiệp vụ giao dịch vàng kỳ hạn Error! Bookmark not defined.
1.3.5.3 Nghiệp vụ giao dịch vàng tƣơng lai Error! Bookmark not defined.
1.3.5.4 Nghiệp vụ giao dịch quyền chọn vàng Error! Bookmark not defined. 5

CHƢƠNG II: PHÒNG NGỪA RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ VÀNG TẠI
VIỆT NAM Error! Bookmark not defined.
2.1 Tổng quan thị trƣờng vàng Việt Nam Error! Bookmark not defined.
2.1.1 Tình hình nhập khẩu– khai thác – tiêu thụ vàng ở Việt Nam Error! Bookmark not
defined.
2.1.2 Các sàn vàng tại Việt Nam Error! Bookmark not defined.
2.1.3 Các nhân tố ảnh hƣởng đến giá vàng tại Việt Nam Error! Bookmark not defined.

1.1 Tổng quan chung về vàng
1.1.1 Khái niệm và tính chất của vàng
1.1.1.1 Khái niệm
Vàng là tên nguyên tố hóa học có kí hiệu Au (L. Aurum, số nguyên tử là 79
trong bảng tuần hoàn) và là kim loại chuyển tiếp
1
(hóa trị 3 và 1) [1]. Mã kí hiệu
tiền tệ của vàng theo tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO) là XAU.
Trên thế giới, vàng thƣờng đƣợc đó lƣờng theo hệ thống khối lƣợng troy, theo
đó 1 troy ounce (ozt)
2
tƣơng đƣơng 31,1034768 gam. Trong ngành kim hoàn ở
Việt Nam, khối lƣợng vàng đƣợc tính theo đơn vị là cây (hay còn gọi là lƣợng)
hoặc chỉ, theo đó 1 lƣợng vàng tƣơng đƣơng với 1,20556 ounce vàng hay 37, 5
gram vàng. Một chỉ vàng bằng 1/10 cây (lƣợng) vàng [2].
Ngoài ra vàng còn đƣợc đo lƣờng theo tuổi vàng. Tuổi vàng đƣợc tính theo
thang độ K (carat). Một carat tƣơng đƣơng 1/24 vàng nguyên chất. Khi ta nói tuổi
vàng là 18K thì nó tƣơng đƣơng với hàm lƣợng vàng (hay độ tinh khiết – purity)
1
Kim loại chuyển tiếp là 44 nguyên tố hóa học có số nguyên tử từ 21 đến 30, 39 đến 48, 57 đến
80 và 89 đến 112. Nguyên nhân của tên gọi này là do vị trí của chúng trong bảng tuần hoàn vì tại đó
bắt đầu sự chuyển tiếp do có thêm điện tử trong quỹ đạo nguyên tử của lớp d hay nói chặt chẽ hơn đó
là những nguyên tố tạo thành ít nhất là một ion với quỹ đạo d đƣợc điền đầy một phần (Cấu hình
electron của vàng: [Xe] 4f
14
5d
10

đƣợc, tạo ra ánh sáng vàng và đỏ khi phản xạ và ánh sáng xanh khi hấp thụ. Ở thể
rắn vàng có màu vàng phát sáng khi thành nhƣng có thể có màu đen, hồng ngọc
hay tía khi đƣợc cắt nhuyễn [8].
Bên cạnh đó, vàng có đặc tính mềm, dễ uốn, dễ dát mỏng. Cho tới nay, vàng là
kim loại dễ dát mỏng nhất đƣợc biết, 1 gam vàng có thể đƣợc dập thành tấm mỏng
1m
2
.Vàng có tính dẫn nhiệt và điện tốt, không bị tác động bởi không khí và phần
lớn hoá chất. Nó không bị ảnh hƣởng về mặt hoá học bởi nhiệt, độ ẩm, ôxy và hầu
hết chất ăn mòn [9]. 3
Tần số plasmon là số lần lặp lại lƣợng tử của các dao động plasma nhƣ các photon và phono, plasmon
đƣợc hình thành từ lƣợng tử hóa các sóng ánh sáng và âm thanh [10]. 8

Từ định nghĩa và tính chất đƣợc trình bày ở trên cho thấy vàng chỉ là một kim
loại có một số tính chất nổi bật hơn những kim loại khác. Tại sao vàng lại luôn
đƣợc xem nơi trú ẩn an toàn (safe heaven) và giá vàng chứ không phải là giá các
kim loại quý khác lại có ảnh hƣởng rất lớn đến thị trƣờng tài chính thế giới. Điều
này chỉ có thể đƣợc giải thích là vàng chứ không phải các kim loại khác đã từng
đóng những vai trò quan trọng trong các hệ thống tiền tệ quốc tế.
1.1.2 Tóm lược vai trò của vàng trong các hệ thống tiền tệ quốc tế
Tiền tệ ra đời là kết quả phát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng hóa.
Lịch sử của tiền tệ chính là lịch sử phát triển của các hình thái giá trị từ thấp đến
cao, từ hình thái giản đơn đến hình thái đầy đủ nhất là tiền tệ. Lịch sử ra đời của
tiền tệ trải qua bốn hình thái cơ bản. Hình thái thứ nhất là hình thái giá trị giản đơn

Thứ hai, nó phải hứa hẹn với ngƣời nắm giữ là nó phải là một phƣơng tiện trao đỏi
trong một thời gian dài, chứ không chỉ ngắn hạn nhƣ hàng hóa thực phẩm đồng
thời nó phải có sức mua ồn định.
Thứ ba, thứ của cải này không thể nhân lên một cách nhanh chóng đến mức bất
cứ ai cũng có thể có nó thỏa mái mà không mất công sức gì, nhƣ vậy nó phải là
một chất quý hiếm.
Thứ tƣ, để trở thành tiền tệ nó phải tồn tại dƣới hình thức tiện lợi, có thể chia nhỏ
sao cho thích ứng với bảng giá trị những của cải khác, và có thể chống lại sự phá
hoại của thời gian [14].
Các tính chất của vàng thỏa mãn đầy bốn điều kiện trên và nó đƣợc chấp nhận
nhanh chóng nhƣ một loại tiền tệ. Tuy nhiên, ngay từ ban đầu ngƣời ta không sử
dụng vàng là tiền tệ duy nhất mà sử dụng đồng thời cả vàng và bạc, và hình thành
hệ thống tiền tệ quốc tế đầu tiên – chế độ song bản vị. 10

1.1.2.1 Chế độ song bản vị
Chế độ song bản vị tồn tại trƣớc những năm 1867, khi đó ở các quốc gia nhƣ
Hoa Kỳ, Pháp, Thụy Sĩ, Bỉ, Ý, ngƣời ta sử dụng cả tiền vàng và tiền bạc. Tiền
vàng dùng cho những giao dịch quan trọng và tiền bạc dùng cho những vụ buôn
bán nhỏ lẻ. Khi chấp nhận hai thứ tiền nhƣ vậy, nhà nƣớc đã ấn định một mức hối
suất nhất định giữa vàng và bạc, tỷ lệ trao đổi này trên thị trƣờng Châu Âu là
1/15,5 (nghĩa là 1gam vàng bằng 15,5gam bạc) và đƣợc giữ vững trong nhiều năm.
Tuy nhiên từ những năm 1850 đến 1866, tăng cung vàng do phát hiện ra các mỏ
vàng ở Úc và California cùng với việc tăng cầu bạc do Anh phải thực hiện chi trả
cho Ấn Độ (đất nƣớc có chế độ đơn kim loại là bạc) để nhập khẩu bông làm cho
mức hối suất giữa vàng và bạc chỉ còn ở mức 1/15,03 (tức đồng tiền vàng giảm
giá tƣơng đối so với bạc). Trƣớc bối cảnh đó Hiệp hội tiền tệ Latinh (gồm Pháp, Ý,
Bỉ, Thụy Sĩ) đã thỏa hiệp quyết định hạ thấp chuẩn độ của đồng tiền bạc (từ 0,9

tiền tệ quốc tế thứ hai xuất hiện – chế độ bản vị vàng.
1.1.2.2 Chế độ bản vị vàng (1867 – 1914)
Chế độ bản vị vàng ra đời vào năm 1867 tại Paris và kéo dài đến năm 1914.
Dƣới chế độ bản vị vàng, mỗi quốc gia gắn đồng tiền của mình với vàng bằng
cách quy định giá vàng tính bằng đồng tiền đó và cho phép chuyển đổi từ tiền ra
vàng theo một tỷ lệ ổn định. Vàng cũng đƣợc phép trao đổi giữa các nƣớc một
cách tự do. Tỷ giá hối đoái giữ hai đồng tiền của hai quốc gia sẽ đƣợc ấn định dựa
vào hàm lƣợng vàng của hai đồng tiền đó. Chính vì vậy, chế độ tỷ giá hối đoái
tƣơng đối ổn định đã làm cho thƣơng mại và đầu tƣ quốc tế phát triển mạnh, đồng
thời các mất cân bằng về tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán sẽ đƣợc điều chỉnh
bằng trao đổi vàng. Giả sử xét tƣơng quan giữa đồng bảng Anh (GBP) và đồng đô
la Mỹ (USD). Khi tỷ giá USD/GBP (1GBP =X USD) tăng lên, tức đồng GBP lên
giá tƣơng đối so với đồng USD. Khi đó các nhà đầu cơ thấy cơ hội kiếm lợi nhuận
bằng cách dùng USD để mua vàng ở Mỹ sau đó bán vàng ở Anh và lấy GBP, sau
đó đổi số GBP này trở lại USD sẽ đƣợc một lƣợng USD lớn hơn (giả sử chi phí
vận chuyển và giao dịch là không đáng kể). Việc bán GBP sẽ làm GBP có xu
hƣớng hạ và việc mua USD sẽ làm USD có xu hƣớng tăng và do đó sẽ đẩy tỷ giá
trở lại mức ban đầu [17].
Nhƣ vậy vai trò của vàng trong chế độ bản vị vàng này là vô cùng quan trọng
trong việc ổn định tỷ giá hối đoái. Tuy nhiên khi thƣơng mại và đầu tƣ quốc tế 12

phát triển mạnh, trữ lƣợng vàng tỏ ra hạn chế trong việc thực hiện chức năng dự
trữ quốc tế và là vật đảm bảo cho số lƣợng ngày càng gia tăng các đồng tiền. Đồng
thời sự bùng nổ chiến tranh thế giới thứ nhất (1914) đã khiến các quốc gia ngừng
việc chuyển tiền ra vàng và áp đặt lệnh cấm xuất khẩu vàng để duy trì nguồn dự
trữ vàng của mình. Các nguyên nhân trên đã dẫn đến sự sụp đổ của chế độ bản vị
vàng và trong giai đoạn giữa hai cuộc chiến hình thành một hệ thống tiền tệ quốc

xây dựng một hệ thống tiền tệ quốc tế. Vào năm 1944, một hội nghị quốc tế gồm
đại diện của 44 nƣớc nhóm họp tại Bretton Wood thuộc bang New Hamsphire
(Hoa Kỳ) để đƣa ra các biện pháp liên quan đến lĩnh vực tài chính – tiền tệ, dẫn
đến sự hình thành hệ thống tiền tệ Bretton Wood. Theo đó, đồng USD đƣợc coi là
đồng tiền chủ chốt và Hoa Kỳ có nhiệm vụ quy đổi USD ra vàng theo mức giá
1ounce = 35USD cho các ngân hàng trung ƣơng không hạn chế. Các đồng tiền
khác sẽ đƣợc neo theo USD, có nghĩa là neo gián tiếp với vàng. Trong giai đoạn
cuối những năm 1950, tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán của Hoa Kỳ trở nên
trầm trọng. Trong khi đó dự trữ USD của các ngân hàng nƣớc ngoài tăng nhanh do
thặng dƣ thƣơng mại với Hoa Kỳ dẫn đến nạn “bội thực đô la” và và các ngân
hàng đó tìm cách chuyển đổi đồng USD ra vàng. Đến cuối những năm 1970, dự
trữ USD của nƣớc ngoài gấp 4 lần dự trữ vàng của Hoa Kỳ. Các nỗ lực hạn chế
bán vàng cho tƣ nhân và sự ra đời của đồng SDR (quyền rút vốn đặc biệt)
5
nhằm
điều chỉnh các nhu cầu về dự trữ quốc tế đều không giúp gì cho việc điều chỉnh tỷ
giá và giải quyết tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán của Hoa Kỳ. Trƣớc nguy
cơ cạn kiệt kho vàng dự trữ, Hoa Kỳ tuyên bố ngừng đổi đôla ra vàng và phá giá 5
SDR (Special Drawing Rights: Quyền rút vốn đặc biệt): đây không phải là một đồng tiền có thật mà gồm một giỏ các
loại tiền phổ biến trong thƣơng mại và tài chính quốc tế, hiện nay bao gồm EUR, USD, JPY, GBP với quyền số và giá
trị đƣợc IMF tính toán 5 năm một lần (Xem thêm:
14

đồng USD lần thứ nhất. Điều này đã đánh dấu sự sụp đổ của hệ thống Bretton

6
. Chính điều này làm cho diễn
biến cung và cầu vàng khác biệt với những hàng hóa khác. Vậy cung và cầu vàng
do những nhân tố nào chi phối để có sự khác biệt này. Đó sẽ là nội dung nhóm
nghiên cứu sẽ đề cập đến ở mục 1.2 dƣới đây.
1.2 Thị trƣờng vàng thế giới
1.2.1 Cung và cầu vàng thế giới
1.2.1.1 Cung vàng thế giới
Vì vàng có đặc tính không bị ăn mòn và phân hủy nên lƣợng vàng hiện đang
có mặt trên mặt đất là kết quả của việc khai thác vàng từ quá khứ cho đến hiện tại.
Theo ƣớc lƣợng của công ty dịch vụ khai khoáng vàng (Gold Fields Mineral
Services – GFMS), tính cho đến cuối năm 2006, trên trái đất có 158.000 tấn vàng
trong đó 66% là lƣợng vàng khai thác đƣợc từ những năm 1950 [21]. Duy nhất chỉ
có lƣợng vàng khai thác thêm mới ảnh hƣởng đến lƣợng vàng trên mặt đất, vì vậy
nó có ảnh hƣởng lớn đến lƣợng cung vàng trên thị trƣờng. Ngoài ra lƣợng vàng
bán ra của các tổ chức chính thức (offical sector) và lƣợng vàng tái chế cũng có
tác động nhất định đến cung vàng trên thị trƣờng. Tỷ trọng của lƣợng vàng bán ra
của các tổ chức chính thức, lƣợng vàng tái chế và lƣợng vàng khai thác trong vàng
trong tổng lƣợng cung vàng của thế giới đƣợc chỉ ra trong Hình 1.1
Hình 1.1 Tổng lƣợng cung vàng của các khu vực năm 2008
Đơn vị: t (tấn)
6
Điều này sẽ đƣợc lý giải ở mục 3.3 16


b) Lƣợng vàng bán ra của các khu vực chính thức 18

Các khu vực chính thức bao gồm các ngân hàng trung ƣơng, cơ quan chính phủ
(nhƣ Cơ quan tiền tệ của Singapore), các tổ chức siêu quốc gia nhƣ IMF, Ngân
hàng tái thiết quốc tế (Bank for International Settlements) và ngân hàng trung
ƣơng châu Âu. Các quốc gia trung bình giữ 10% trong dự trữ ngoại hối của mình
là vàng. Các ngân hàng trung ƣơng có thể sử dụng vàng nhƣ một công cụ để can
thiệp vào thị trƣờng tiền tệ khi tiến hành các hoạt động mua, bán vàng. Do vậy
lƣợng vàng mà mỗi tổ chức dự trữ có ảnh hƣởng rất lớn đến sự ổn định của thị
trƣờng vàng thế giới. Tính đến tháng 7/2009, khu vực đồng euro (bao gồm cả ngân
hàng trung ƣơng châu Âu) nắm giữ lƣợng vàng lớn nhất thế giới là 10.819,3 tấn và
chiếm 59,9% tổng số tài sản dự trữ của khu vực này. Hoa Kỳ đứng thứ hai với
8.133,5 tấn;tiếp theo đó là Đức với 3.412,6 và IMF với 3.217,3 tấn [26].
c) Lƣợng cung vàng tái chế
Vàng có đặc tính không bị phân hủy do đó không bị mất đi, lƣợng vàng đã khai
thác trên thế giới cho đến nay vẫn còn tồn tại. Nó có thể đƣợc tái chế từ hầu hết
các sản phẩm có chứa vàng, đƣợc nung chảy, làm tinh khiết và tái sử dụng lại.
Vàng tái chế đóng vai trò quan trọng tạo nên sự năng động của thị trƣờng vàng.
Vàng tái chế đƣợc hiểu là các mảnh vàng (scrap) đƣợc tái chế từ các thiết bị lắp
ghép cũ, đƣợc nung chảy và đúng thành vàng miếng. Nó không bao gồm các sản
phẩm vàng nữ trang đƣợc mua đi sau đó bán lại mà không qua tái chế hoặc vàng
miếng và tiền xu vàng đầu tƣ đƣợc bán lại. Hầu hết các sản phẩm vàng tái chế có
nguồn gốc từ vàng nữ trang, một lƣợng nhỏ đƣợc tái chế từ các linh kiện điện tử,
hoặc vàng miếng và tiền vàng.
Lƣợng cung vàng tái chế phụ thuộc rất lớn vào tình hình kinh tế và biến động
giá vàng. Điều này đặc biệt đúng với ngƣời dân ở khu vực Trung Đông và Châu Á
có thói quen bán vàng nữ trang để đáp ứng nhu cầu tiền mặt, số vàng nữ trang này

Hình 1.4, ta thấy quý 4 hàng năm là dịp tiêu thụ vàng mạnh nhất vì thời gian này
là dịp lễ tết Diwali
7
của Ấn Độ, lễ giáng sinh, tuần lễ vàng quốc khánh Trung
Quốc
8
mà quà hay đƣợc sử dụng biếu tặng thƣờng là vàng. Quý 1 cũng là khoảng
thời gian có lƣợng tiêu thụ nhiều do trong khoảng thời gian này là các dịp tết âm
lịch Trung Quốc, mùa cƣới ở Ấn Độ và trong một chừng mực nào đó là lễ
Valentine [30].
7
Tết Diwali hay còn đƣợc gọi là tết tắt lửa của Ấn Độ diễn ra vào cuối tháng 10 hàng năm.

8
Quốc khánh Trung Quốc 1/10/1949. 21 Nguồn: WGC, 2009 [31].
b) Nhu cầu vàng công nghiệp
Nhu cầu vàng công nghiệp và nha khoa chiếm 12% tổng lƣợng cầu vàng.
Khoảng 7% lƣợng vàng trong công nghiệp và nha khoa đƣợc sử dụng để mạ bề
mặt các đầu nối điện, bảo đảm tiếp xúc tốt và trở kháng thấp do tính dẫn điện cao
và đề kháng với ôxi hoá. Ngoài ra trong các lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao
vàng là kim loại duy nhất đƣợc sử dụng chế tạo các thiết bị siêu dẫn, vàng thực

Về cơ bản, giá vàng tại hầu hết các thị trƣờng trên thế giới đƣợc niêm yết theo
hình thức chung là: X/XAU
Trong đó: 23

X là đơn vị tiền tệ nhƣ USD, GBP, EUR, JPY.
XAU là khối lƣợng vàng (có thể đƣợc tính bằng gam, ounce)
Cách niêm yết trên cho ta biết một khối lƣợng vàng có trị giá bao nhiêu tiền.
Ví dụ tại thị trƣờng New York vàng đƣợc yết giá nhƣ sau là 930,67 USD/oz, thì ta
hiểu 1 ounce vàng có giá là 930,67 USD hay 930,67 USD ăn 1 ounce.
Thông thƣờng trên các trung tâm giao dịch hay bản tin tài chính, vàng đƣợc yết
cả giá mua và giá bán. Theo thông lệ chung, giá đứng trƣớc đƣợc hiểu là giá mua
vào (Bid) – nó cho biết để mua một lƣợng vàng phải mất bao nhiêu đơn vị tiền tệ,
và giá bán ra (Ask) đứng ở phía sau cho biết một ounce vàng bán ra trị giá bao
nhiêu. Giá mua, giá bán ở đây đƣợc hiểu là giá của trung tâm giao dịch chào khách
hàng. Ví dụ: Hiệp hội thị trƣờng vàng London yết giá vàng USD/XAU buổi sáng
ngày 06/07/2009 nhƣ sau: Bid/Ask: 928,10 – 928,60 thì ta hiểu 928,10 USD là
mức giá mà Hiệp hội trả cho 1 ounce vàng mua của khách hàng, và 928,60 USD là
mức giá mà Hiệp hội chấp nhận khi bán 1 ounce vàng cho khách.
Chênh lệch giữa giá mua vào và bán ra gọi là spread. Spread đƣợc tính theo
hai cách:
Tính theo số tuyệt đối:
Spread = Giá bán – Giá mua
Tính Spread cho ví dụ trên ta có:
Spread = 928,60 – 928,10 = 0,5 tức 5 điểm
Tính theo số tƣơng đối:
Spread = .100%


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status