Trường Đại học Khoa học – Huế
Khoa Công nghệ thông tin
Bộ môn:
Kỹ thuật truyền số liệu
Đề tài:
Kỹ thuật truyền số liệu trong mạng
máy tính cục bộ
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Võ Thanh Tú Trần Quốc Huy
Võ Thế Vân Hiếu
Mai Anh Tuấn
Hồ Sỹ Tú
Lê Đăng Việt
Huế, 11-2011
Giảng Viên Hướng Dẫn : Võ Thanh Tú
Đề tài: Kỹ thuật truyền số liệu trong mạng LAN
2
Mục Lục
Giảng Viên Hướng Dẫn : Võ Thanh Tú
Đề tài: Kỹ thuật truyền số liệu trong mạng LAN
3
Tổng quan
Các mạng số liệu cục bộ thường được gọi đơn giản là mạng cục bộ và gọi tắt là
LAN. Chúng thường được dùng để liên kết các đầu cuối thông tin phân bố trong một tòa
nhà hay một cụm công sở nàođó. Thí dụ có thểdùng LAN liên kết các máy trạm phân
bố ở các văn phòng trong một cao ốc hay trong khuôn viên của trường đại học, cũng có
thể liên kết các trang thiết bị mà nền tảng cấu tạo của chúng là máy tính phân bố xung
quanh một nhà máy hay một bệnh viện. Vì tất cả các thiết bị đều được lắp đặt trong một
phạm vi hẹp nên các LAN thường được xây dựng và quản lý bởi một tổ chức nào đó.
Chính vì lý do này mà các LAN được xem là các mạng dữ liệu tư nhân.
Điểm khác biệt chủ yếu giữa một đườ ng truyền thông tin được thiết lập bằng LAN
digital thuê bao nhanh chóng trở thành hiện thực. Điều này có nghĩa những đường chuyển
mạch 64 Kbps thường được dùng cho, điện thoại số sẽ luôn có sẵn tại mỗi kết cuối thuê
bao, do đó có thể được dùng cho cả thoại và số liệu. Tuy nhiên ứng dụng chủ yếu của
PDX là cung cấp một đường truyền dẫn chuyển mạch cho phiên thông tin cục bộ giữa các
đầu cuối tích hợp thoại và số liệu, phục vụ trao đổi thư điện tử, truyền tập tin… Hơn thế
nữa, kỹ thuật số trong PDX cho phép cung cấp các dịch vụ như voice store and forward và
teleconferencing (nhiều thuê bao tham gia vào cuộc gọi đơn).
Các topo thích hợp hơn với các LAN đã được thiết kế để thực hiện chức năng của
các mạng truyền số liệu nhỏ nhằm liên kết với máy tính cục bộ, đó là topo dạng Bus và
dạng Ring, thông thường trong topo dạng Bus cáp mạng được dẫn qua các vị trí có DTE
cần nối vào trong mạng, và một kết nối vật lý được thực hiện tại đó để cho phép các DTE
truy xuất các dịch vụ mạng. Tiếp đó là một mạch điều khiển truy xuất và các giải thuật
được dùng để chia sẻ băng thông truyền dẫn có sẵn cho nhóm DTE được nối vào mạng.
Với topo Ring cáp mạng đi từ một DTE đến một DTE khác cho đến khi các DTE
được nối thành với nhau thành một vòng. Đặc trưng của Ring là một liên kết điểm nối
điểm trực tiếp với mỗi DTE láng giềng hoạt động theo một chiều. Cần một giải thuật thích
hợp làm nhiệm vụ chia sẻ việc sử dụng Ring giữa các user trong nhóm.
Tốc độ truyền dữ liệumđược dùng trong Bus và Ring vào khoảng từ 1đến 100
Mbps, điều đó khá phù hợp với việc liên kết nhóm các thiết bị cục bộ dựa trên nền máy
tính chẳng hạn như các Workstation trong các văn phòng hay các bộ điều khiển thông
minh xung quanh một hệ xử lý nào đó.
Một dạng topo khác được gọi là hub/tree. Mặc dù các mạng này giống như mạng
star nhưng hub chỉ đơn giản là kết nối dạng bus hay ring được tập trung lại tại một đơn vị
trung tâm. Các dây dẫn dùng để kết nối mỗi DTE vào bus hay ring được mở rộng ra từ
hub. Do đó, không giống như PDX, hub không thực hiện bất kỳ hoạt động chuyển mạch
Giảng Viên Hướng Dẫn : Võ Thanh Tú
Đề tài: Kỹ thuật truyền số liệu trong mạng LAN
5
nào, nó chỉ làm chức năng của một tập các bộ lặp truyền lại tất cả các tín hiệu nhận được
từ các DTE đến các DTE khác theo phương pháp như trong các mạng bus và ring. Hub
Đề tài: Kỹ thuật truyền số liệu trong mạng LAN
6
1.2.2 Cáp đồng trục (Coaxial Cable)
Cáp đồng trục được chế tạp bằng một sợi dây dẫn đồng nhất được bao quanh bằng
một dây trung tính gồm nhiều sợi nhỏ bện lại, giữa 2 dây này có một lớp cách ly bên ngoài
có một lớp vỏ bảo vệ.
Hình 1.2.2: Cáp đồng trục
Có 2 hệ thống truyền khác nhau được dùng với cáp đồng trục:
- Băng tần cơ sở (Baseband): Hệ truyền trên băng tần cơ sở nhận tín hiệu
số đến từ máy tính và truyền trực tiếp tín hiệu ấy qua cáp đến trạm thu, truyền đơn kênh,
tốc độ truyền đạt 10 Mbps, khảng cách truyền tối đa là 4000m.
- Băng tần rộng (Broadband): Hệ truyền băng rộng đổi tín hiệu số thành
tín hiệu tương tự có tần số vô tuyến (RF) và truyền nó đến tramk thu, tại đó tín hiệu có tần
sô vô tuyến được đổi lại thành tín hiệu sô. Một bộ giải điều biến đảm nhận việc đó, mỗi
trạm phải có một modem riêng để dùng với băng tần rộng. Cáp đồng trục băng tần rộng là
môi trường truyền đa kênh, tốc độ truyền tối đa 5 Mbps, khoảng cách truyền là 50 Km.
Các loại cáp đồng trục được hay dùng: RG-8, RG-11, RG-59, RG-62…
1.2.3 Cáp sợi quang (Fiber Optic Cable)
Cáp sợi quang là công nghệ mới nhất được dùng trong các mạng. Một chùm tia
sáng được rọi xuyên suốt sợi thủy tinh luồn dọc theo dây cáp, bộ phân điều biến sẽ điều
khiển tia sáng ấy để thành tín hiệu.
Do chùm tia sáng để truyền tin nên hệ thống này chống được nhiễu điện từ bên
ngoài, bản thân cáp không tự gây nhiễu nên có thể truyền với tốc độ cục nhanh và không
hề sai sót. Cáp sợi quang cũng là môi trường truyền đa kênh (multichannel medium).
THông lượng của sợi quang rất lớn. Dùng sợi quang có những khó khăn: đắt tiền, khó hàn
nối, khó mắc rẽ nhánh vào các trạm bổ xung.
Giảng Viên Hướng Dẫn : Võ Thanh Tú
Đề tài: Kỹ thuật truyền số liệu trong mạng LAN
7
Hình 1.2.3: Cáp quang
token) cho mạng bus hoặc ring. Một phương pháp truy xuất khác dựa trên một vòng phân
khe (slotted ring) cũng được dùng rộng rãi với mạng ring.
1.3.1 Đa truy xuất cảm nhận sóng mang có phát hiện đụng độ CSMA/CD
Phương pháp CSMA/CD chỉ được dùng cho topo dạng bus. Với cấu hình mạng này
tất cả các DTE được nối một cách trực tiếp vào cùng một cáp, cáp này được truyền tất cả
số liệu cho bất kỳ một cạp DTE nào trên mạng. Tổ chức hoạt động như vậy của cáp được
gọi là làm việc theo chế độ đa truy xuất (multiple access mode). Để truyền số liệu, DTE
truyền trước hết phải đóng gói số liệu thành một frame với địa chỉ DTE đích được đặt tại
đầu frame. Sau đó farme này được truyền trên cáp, thao tác truyền này mang tính quảng
bá (broadcast). Tất cả các DTE trên mạng đều phát hiện được frame bất cứ khi nào nó
được truyền trên cáp. Khi DTE đích phát hiện được frame hiện hành đang được truyền có
địa chỉ ở đầu frame trùng với địa chỉ của nó, nó tiếp tục đọc số liệu chứa trong frame và
đáp ứng tùy vào giao thức liên kết định nghĩa. Địa chỉ DTE nguồn là một phần trong
header của frame, nhờ đó DTE đích có thể đáp ứng trực tiếp với DTE nguồn này.
Hình 1.3.1: Cơ chế hoạt đông của phương pháp CSMA/CD
Giảng Viên Hướng Dẫn : Võ Thanh Tú
Đề tài: Kỹ thuật truyền số liệu trong mạng LAN
9
Với cơ chế hoạt động này hai DTE có thể cùng nỗ lực truyền một frame lên cáp
cùng lúc vào bất cứ thời điểm nào, khiến cho số liệu từ hai nguồn va chạm nhau gây hư
hỏng. Để giảm thiểu khả năng này, trước khi DTE nguồn truyền một frame nó phải lắng
nghe xem trên cáp có một farm nào đạng đươc truyền hay không. Nếu có một tín hiệu
sóng mang được cảm nhận CS (carier sense), thì DTE sẽ dừng quá trình truyền của nó cho
đến khi frame được truyền xong, và chỉ nổ lực truyền frame vào thời điểm sau đó. Ngay
cả như vậy, cũng có hai DTE muốn truyền frame cũng đồng thời xác định không có hoạt
động nào trên bus và cả hai sẽ bắt đầu truyền farm một cách đồng thời. Một đụng độ sẽ
xảy ra, nội dung của cả hai frame sẽ va chạm nhau và hư hỏng.
1.3.2 Token (thẻ) điều khiển
Một phương pháp khác nhằm truy xuất vào môi trường chia sẻ là phương pháp
dùng token điều khiển. Token này được chuyển từ một DTE này sang một DTE khác tùy
chuyển sang DTE kế trong ring và cứ thế. Monitor đảm bảo rằng luôn có số bit không đổi
chạy vòng trên ring, bất chấp số DTE tạp nên ring. Ring hoàn chỉnh được bố trí chứa một
số không đổi các khe, mỗi khe hình thành một tập các bit và có khả năng mang một frame
thông tin có kích thước cố định.
Hình 1.3.4: Slotted ring
Giảng Viên Hướng Dẫn : Võ Thanh Tú
Đề tài: Kỹ thuật truyền số liệu trong mạng LAN
11
Khởi đầu, tất cả các khe được đánh dấu rỗng khi bộ giám sát đặt bit đầy/rỗng tại
đầu mỗi khe ở trạng thái rỗng. Khi một DTE muốn chuyển một frame, nó đợi cho đến khi
phát hiện một khe rỗng. Sau đó DTE đánh dấu khe này đầy và chèn nội dung frame vào
khe cùng địa chỉ DTE nguồn yêu cầu, địa chỉ DTE đích tại đầu frame và cả 2 bit đáp ứng
ở cuối frame lúc này được thiết lập là 1. Khe chứa frame này sau đó chạy vòng trên ring
vật lí từ DTE này đến DTE khác. Mỗi DTE trong ring kiểm tra địa chỉ đích tại đầu của các
khe được đánh dấu là đầy. Nếu phát hiện thấy trùng địa chỉ với nó và giả sử nó sẵn sàng
tiếp nhận, nội dung frame được đọc vào từ khe, cùng thời điểm này nó vẫn tiếp tục lặp lại
nội dung của các frame khác (không sửa chữa) lên ring. Sau khi đọc nội dung frame, DTE
đích sử dụng cặp bit cuối khe để chỉ ra rằng nội dung khe đã được đọc hoặc DTE đích
đang bận hay không ở trạng thái hoạt động, các bit được đánh dấu tùy theo đó hoặc để
nguyên.
Hình 1.3.5: Định nghĩa bit của mỗi khe
Đối với DTE nguồn, sau khi khởi động truyền một frame, đợi cho đến khi frame
chạy vòng trên ring băng cách đếm số khe đã được lặp lại tại giao tiếp vòng. Khi tiếp nhận
bit đầu tiên của khe dùng để truyền frame này, nó lại đánh dấu khe là rỗng đợi đọc bit đáp
ứng từ đuôi khe của khe này để xác định hành động tiếp theo.
Bit giám sát được dùng bởi bộ giám sát để phát hiện xem một DTE có hỏng hay
không để giải phóng khe sau khi nó được truyển. Bit này được reset bởi Dte nguồn khi nó
truyền một frame lên ring. Sau đó bộ giám sát sẽ set bit này cho mỗi khe đầy khi được lặp
tại giao tiếp trong vòng của nó.
1.4 Hệ thống Ethernet và Fast Ethernet (CSMA/CD)
xoắn đôi. Trong trường hợp này, việc phát hiện đụng độ mang tính luận lý thay vì dựa vào
sự cảm nhận độ lớn của điện áp. Trong bất cứ trường hợp nào, nếu có tín hiệu tích cực
trên nhiều hơn một cổng, coi như có đụng độ xảy ra. Một tín hiệu đặc biệt được phát lên
Giảng Viên Hướng Dẫn : Võ Thanh Tú
Đề tài: Kỹ thuật truyền số liệu trong mạng LAN
13
đặc biệt được phát lên tất cả các cổng. Tín hiệu này được các mode dịch ra là đang có
đụng độ xảy ra.
1.4.2 Hệ thống CSMA/CD
Mặc dù mạng CSMA/CD có thể dùng trong các môi trường khác nhau nhưng tất cả
đều hoạt động theo cùng phương pháp MAC (media access control: kiểm soát truy cập
môi trường). Đối với cáp đồng trục dạng thin-wire và thick-wire, khác nhau chủ yếu là vị
trí của mạch thu phát. Trong trường hợp thick-wire mạch này được đặt tại bộ nối rẽ cáp,
do đó còn được gọi là transceiver. Đối với thin-wire cáp nối trực tiếp vào card giao tiếp
trong DTE, do đó transceiver được tich hợp trong card giao tiếp.
Transceiver chứa các mạch điện cần thiết để thực hiện các chức năng sau đây:
- Truyền và nhận số liệu đi và đến từ cáp.
- Phát hiện đụng độ trên môi trường cáp.
- Tạo nên một ngăn cách về điện giữa cáp đồng trục và các mạch điện giao
tiếp trong cáp.
- Bảo vệ cáp tránh những tác động xấu bởi hỏng hóc trên transceiver hay
DTE được nối vào.
1.4.3 Cấu trúc frame và các tham số hoạt động
Khuôn dạng của một frame theo giao thức IEEE 802.3 bao gồm các field (là một
phân vùng chứ một số bit trong frame) sau:
- Preamble: Một mẫu gồm 7 octet, mỗi octet có dạng 10101010 được dùng
bởi máy thu để thiết lập đồng bộ bit.
- SED (start frame delimiter): là tuần tự 10101011, chỉ ra điểm bắt đầu thực
sự của frame và cho phép máy thu định vị được bit đầu tiên của phần còn lịa của frame.
- DA (destination address): chỉ định trạm (hay nhiều trạm) mà frame
512 octets
1.4.4 Hoạt động truyền frame
Khi một frame được truyền, nội dung của frame được đóng gói bởi đơn vị MAC
theo khuôn ở trên. Để tránh đụng độ với các cuộc truyền khác trên môi trường, phần MAC
của đơn vị MAC trước hết giám sát tín hiệu cảm nhận sóng mang và nếu cần dừng ngay
mọi hoạt động truyền. Sau một khoảng thời gian ngắn chờ cho frame đang chuyển đã đến
DTE đích và được xử lý, lúc đó mới khởi động truyền frame.
Khi luồng bit được truyền, transceiver giám sát đồng thời tín hiệu nhận để xem có
đụng độ xảy ra hay không. Giả sử không có đụng độ, frame hoàn chỉnh được truyền sau
khi FCS đã được gửi, đơn vị MAC đợi frame mới đến từ cáp hay bộ xử lý điều khiển. Nếu
có đụng độ xảy ra, transceiver lập tức phát hiện đụng độ. Đến lượt đơn vị MAC nhận biết
và tăng cường mức đụng độ này bằng cách gửi tuần tự nhồi cho các DTE liên quan đến
đụng độ này cùng nhận biết. Sau khi tuần tự nhồi được gửi đi, đơn vị MAC kết thúc việc
truyền và lập lịch truyền lại sau một khoảng thời gian ngắn ngẫu nhiên.
1.4.5 Tiếp nhận frame
Tại mỗi DTE tích cực kết nối vào mạng, trước hết đơn vị MAC phát hiện các tín
hiệu từ các transceiver và phát tín hiệu cảm nhận sóng mang để ngăn cản các hoạt động
truyền mới từ DTE này. Tuần tự (preamble) đến được dùng để đồng bộ bit và sau đó
luồng dữ liệu đã được mã hóa theo mã Manchester được dịch ngược lại thành bit nhị phân
thông thường và được xử lí ngay sau đó. Việc xử lí như sau :
Trước hết các bit của preamble bị hủy bỏ cùng với SFD. Trường địa chỉ đích được
xử lí để xác định nơi nhận frame. Nếu đã xác định là của chính DTE liên quan, nội dung
frame bao gồm địa chỉ đích, địa chỉ nguồn và số liệu được nạp vào bộ đệm để xử lí tiếp.
nội dung của FCS sẽ được so sánh với kết quả được tính toán bởi đơn vị MAC trong quá
trình tiếp nhận frame, nếu bằng nhau thì địa chỉ đầu tiên của bộ đệm chứa frame được
chuyển cho lớp giao thức cao cấp hơn kế tiếp để xử lí. Việc kiểm tra về tính hợp lệ cũng
được thực hiện trên frame ở các công đoạn tiếp theo bao gồm bảo đảm frame chứa số
Giảng Viên Hướng Dẫn : Võ Thanh Tú
Đề tài: Kỹ thuật truyền số liệu trong mạng LAN
15
1.4.6.2 Đặc tả môi trường 10BASE2
- Dùng cho topo dạng BUS
Giảng Viên Hướng Dẫn : Võ Thanh Tú
Đề tài: Kỹ thuật truyền số liệu trong mạng LAN
17
- Dùng cáp đồng trục mỏng trở kháng 50Ω đường kính 5mm, T-connector, BNC
connector.
- Trên mỗi đoạn cáp có thể tối đa 30 trạm làm việc, khoảng cách tối thiểu giữa 2 trạm là
0,5m, tối đa là 185m.
- Việc lien kết các máy tính và mạng được thực hiện bởi T-connector và BNC connector.
- Số 2 trong tên gọi chỉ khoảng cách tối đa giữa 2 trạm là 185( gần bằng 200).
- Quy tắc 5-4-3 tương tự như đối với chuẩn 10BASE5
Hình 1.4.5: Chuẩn 10BASE2
Giảng Viên Hướng Dẫn : Võ Thanh Tú
Đề tài: Kỹ thuật truyền số liệu trong mạng LAN
18
Hình 1.4.6 : Mở rộng chuẩn 10BASE2 bằng repeater
1.4.6.3 Đặc tả môi trường 10BASE-T
- Dùng cáp xoắn đôi UTP, RJ45 connector và một số thiết bị trung tâm (Hub), mỗi HUB
có thể có từ 4 đến 24 cổng RJ45, các trạm làm việc được kết nối từ NIC tới cổng HUB
bằng cáp UTP với 2 đầu RJ45. Khoảng cách tối đa từ HUB đến NIC là 100m.
- Dùng cho topo mạng hình sao(star)
- Chữ T trong tên gọi là từ Twisted pair cable(cáp đôi dây xoắn)
Hình 1.4.7 : Chuẩn 10BASE-T
1.4.6.4 Đặc tả môi trường 10BROAD36
- Là đặc tả cho 802.3 cho băng thông rộng, dùng cáp đồng trục CATV trở kháng 75Ω.
- chiều dài tối đa của một segment đơn là 180m, chiều dài điểm nối điểm là 3600m.
- Sử dụng phương thức báo hiêu DPSK (differential shift keying)
1.4.6.5 Đặc tả môi trường 10BASE-F
- dùng cho topo hình sao
liệu
100Mbps 100Mbps 100Mbps 100Mbps
Chiều dài
segment tối
đa
100m 100m 100m 100m
Mở rộng
mạng
200m 200m 400m 200m
Hình 1.4.8 : Các tùy chọn của 100BASE-T
1.4.7.1 100BASE-X
Đặc tả 100BASE-X có các kiểu thiết kế với các tiêu chuẩn BASE-TX và
100BASE-FX. Cả 2 loại này đều dùng kĩ thuật báo hiệu là 4B5B, NRZI.
Thiết kế 100BASE-TX dùng 2 cặp cáp xoắn một cho truyền và một cho nhận (có thể STP
hay LTP loại 5). Nó dùng lược đồ bó hiệu MTL-3.Thiết kế 100BASE-FX dùng 2 cáp
quang một cho truyền và một cho nhận, đối với kiểu này thì cần dùng một thiết bị để
chuyển đổi luồng mã hóa 4B5B-NRZI thành các tín hiệu quang. Sử dụng kĩ thuật điều chế
cường độ.
1.4.7.2 100BASE-T4
Sử dụng cáp xoắn chất lượng thấp loại 3 hoặc loại cáp chất lượng cao loại 5.
100BASE-T4 không truyền tín hiệu một cách liên tục giữa các gói.
Sử dụng lược đồ mã hóa NRZ 8B6T.
1.5 Hệ thống Token ring và FDDI
1.5.1 Điều khiển truy xuất môi trường trong IEEE 802.5
Chuẩn Token ring hay còn gọi là IBM Token ring được phát triển bởi IBM với tốc độ
truyền 4Mbps hay 16Mbps, nó có mã chuẩn hóa là 802.5.Dùng topo hình vòng bằng các
MAU(multistation Access Unit) và cáp STP để liên kết các MAU thành một vòng tròn
khép kín.Các trạm làm việc được liên kết vào mạng bằng cáp STP nối từ cổng MAU tới
NIC, chiều dài đoạn cáp quy định < 10m, số lượng tối đa các trạm làm việc trên một ring
là 72(4Mbps) và 260(16Mbps), khoảng cách tối đa giữa 2 trạm là 770(4Mbps) và
không phải số liệu.
• AC (Access control) : có dạng PPPTMRRR trong đó PPP và RRR là 3 bít ưu tiên
và các biến dự trữ, M là bit giám sát, T chỉ ra frame là Token hay số liệu.
• FC (Framecontrol) : cho biết đây có phải là frame số liệu LLC hay không, nếu
không phải các bit trong trường này điều khiển hoạt động của giao thức MAC trên
ring.
• DA (Destination address) : trường địa chỉ trạm nguồn của frame
• SA (Source address) : trường địa chỉ đích cảu frame
• Data : chứa các đơn vị số liệu của LLC (Logical Link control)
Giảng Viên Hướng Dẫn : Võ Thanh Tú
Đề tài: Kỹ thuật truyền số liệu trong mạng LAN
21
• ED (End delimtier) : chứa các bit phát hiện lỗi (E), nó được set nếu bất kì một
repeater nào phát hiện ra một lỗi, bit trung gian (I) dùng để nhận biết frame này
không phải là frame cuối cùng trong một cuộc truyền frame.
• FS (Frame status) : chứa bit nhận biết địa chỉ (A) và bit coppy frame (C).
1.5.3 Đặc tả lớp vật lí IEEE 802.5
IEEE 802.5 chỉ định dùng cáp STP với các tốc độ 4 và 16Mbps dùng mã hóa
Manchester vi phân. Ta có bảng tùy chọn các môi trường vật lí của IEEE802.5 như sau :
Môi trường truyền
Tốc độ dữ liệu (Mbps)
Kĩ thuật báo hiệu
Số lượng Repeater tối đa
Khoảng cách tối đa giữa
các repeater
STP
4 hay 16
Manchester vi phân
250
Không đặc tả
Giảng Viên Hướng Dẫn : Võ Thanh Tú
Đề tài: Kỹ thuật truyền số liệu trong mạng LAN
22
Tiền tố SD FC DA SA Trường tin FSC ED FS
Một Frame FDDI có các trường sau :
- Tiền tố (Preamble) : đồng bộ frame với mỗi đồng hồ trạm, các trạm lặp tiếp sau
có thể thay đổi chiều dài của trường này để phù hợp với yêu cầu đồng bộ.
- SD (Starting delimiter) : chỉ định đầu của frame. Nó được mã hóa như JK với J
K là các kí hiệu khác số liệu.
- FC (Frame control) : có khuôn dạng bit CLFFZZZ trong đó C là bit chỉ ra đây
là frame đồng bộ hay bất đồng bộ, L chỉ ra là dùng địa chỉ 16 hay 48 bit, FF cho
biết đây là frame LLC,MAC hay frame đăng kí. Trong một frame điều khiển 4
bit còn lại chỉ ra loại frmae điều khiển.
- DA (Destination address) : địa chỉ mà frame hướng đến, nó có thể là một địa chỉ
vật lí duy nhất, một địa chỉ nhóm hay địa chỉ quảng bá.
- SA (Source address) : chỉ ra trạm gửi frame này
- Thông tin : chứa một đơn vị số liệu LLC hay thông tin liễn quan đến hoạt dộng
điều khiển.
- FCS (Frame check sequence) :một mã CRC-32bit được tính trên các trường của
frame FC,DA,FA và thông tin.
- ED (Ending delimiter) : chứa một kí hiệu khác số liệu đánh dấu cuối frame .
- FS (Frame status) : chứa các bộ chỉ thị lỗi phát hiện được, địa chỉ xác định được
và frame coppy.
Một Token thẻ bài có các trường:
- Tiền tố, SD (starting delimiter) : giống như của frame FDDI
- FC (Frame control) : có khuôn dạng bit 10000000 hay 11000000 để chỉ đây là
một token
- ED(ending delimiter) : chứa một cặp kí hiệu khác số liệu kết thúc một token.
100
100m
Hình 1.5.2: Hoạt động nhận frame
1.6 Hệ thống token bus
1.6.1 Khái quát
Token bus là lược đồ được đặc tả trong IEEE 802.4 do bản chất tự nhiên của
phương pháp điều khiển và khả năng ưu hóa việc truyền frame được dung trong công
nghệ chế tạo tự động và các lĩnh vực liên quan. Dưới điều kiện bình thường hoạt động của
token bus tương tự như mạng token ring. Do khác biệt của hai phương pháp truy xuất môi
trường ( quảng bá trong bus và tuần tự trong ring). Nên các thủ tục được dùng trong điều
khiển quản lý vòng luận lý, như khởi động và đánh mất token có khác nhau.
Mạng token bus thường dùng cáp đồng trục và hoạt động trong chế độ băng rộng
hoặc chế độ băng cơ bản đã được sửa đổi hay gọi là băng sóng mang (carrierband). Mạch
điều chế và điều khiển giao tiếp thực hiện các chức năng sau:
- Mã hóa số liệu truyền
- Giải mã số liệu thu
- Tạo xung đồng hồ
Chế độ carrierband giống như baseband (băng cơ bản) ở chỗ mỗi phiên truyền
chiến toàn bộ băng thông cáp, nhưng ở carrierband tất cả số liệu phải được điều chế trước
khi truyền, dùng điều chế phase coherent FSK ( điều chế FSK thuần nhất pha). Một bit nhị
Giảng Viên Hướng Dẫn : Võ Thanh Tú
Đề tài: Kỹ thuật truyền số liệu trong mạng LAN
24
phân 1 được truyền như môt chu kì của 1 tín hiệu hình sin có tần số bằng tốc độ bit, thông
thường giữa 1Mbps và 5Mbps, trong khi 1 bit nhị phân 0 được truyền như là 2 chu kì của
một tín hiệu có tần số gấp hai lần tốc độ bit
Một tín hiệu băng cơ bản được cấu thành từ một số vô hạn các thành phần tần số.
Ngược lại một dạng sóng carrierband chỉ có 2 thành phần tần số. Do đó có thể dùng một
bộ lọc tại đầu thu chỉ cho qua hai thành phần tần số này, khóa kín một cách hiệu quả đối