Tăng cường quản lý ngân quỹ tại Công ty Thông tin di động - Pdf 12

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động tài chính, trong đó có quản lý ngân quỹ, đóng một vai trò hết sức quan
trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp với mục đích tối đa hóa giá trị
doanh nghiệp. Trên thực tế, quản lý ngân quỹ vẫn còn là một vấn đề tương đối mới mẻ
đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Số lượng sách báo và nghiên cứu về vấn đề này
không nhiều. Việc quản lý ngân quỹ chưa được chú trọng và hoàn thiện đã làm giảm
hiệu quả kinh doanh của chính các doanh nghiệp này.
Trong quá trình thực tập tại Công ty Thông tin di động, em đã có cơ hội tìm hiểu
về quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là công tác quản lý ngân quỹ. Em
nhận thấy rằng đây là hoạt động có vai trò hết sức quan trọng đối với sự ổn định và phát
triển của công ty. Hoạt động quản lý ngân quỹ tại đây, tuy đã từng bước được thực hiện
và chuẩn hóa để đảm bảo tình trạng tài chính lành mạnh, song vẫn còn bộc lộ nhiều hạn
chế. Chính vì vậy, đề tài “Tăng cường quản lý ngân quỹ tại Công ty Thông tin di
động” đã được lựa chọn nghiên cứu, nhằm làm rõ thực trạng quản lý ngân quỹ tại công
ty, đồng thời, đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác này.
Chuyên đề tốt nghiệp, ngoài phần mở đầu và kết luận, được kết cấu thành 3
chương:
- Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý ngân quỹ của doanh nghiệp
- Chương II: Thực trạng quản lý ngân quỹ tại Công ty Thông tin di động
- Chương III: Giải pháp hoàn thiện quản lý ngân quỹ tại Công ty Thông tin di động
1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo trường Đại học Kinh tế Quốc dân
đã truyền đạt những kiến thức đa dạng và vô cùng quý báu trong suốt những học kỳ vừa
qua, đặc biệt là những kiến thức chuyên sâu về chuyên ngành Tài chính doanh nghiệp.
Nhờ đó, em mới có được nền tảng cơ bản cho công việc thực tập cũng như hoàn thành
báo cáo chuyên đề. Những gợi mở mà các thầy cô đề cập đến trong thời gian học tập
trên giảng đường đã giúp cho em có được sự lựa chọn về hướng đi và cách tiếp cận đề
tài nghiên cứu. Em xin trân trọng cảm ơn PGS. TS. Lưu Thị Hương đã hướng dẫn em

chức hoạt động sản xuất và vận hành trao đổi. Tất cả cả các quyết định đó đều đặt trong
mối quan hệ với môi trường xung quanh và chịu tác động của môi trường kinh tế xã hội.
3
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Sự tác động qua lại này tạo nên các mối quan hệ, và những mối quan hệ giá trị giữa
doanh nghiệp với các chủ thể của nên kinh tế được gọi là tài chính doanh nghiệp. Các
quan hệ của tài chính doanh nghiệp bao gồm:
• Quan hệ giữa doanh nghiệp và nhà nước: Mối quan hệ này phát sinh khi doanh
nghiệp thực hiện các nghĩa vụ với Nhà nước như nộp thuế, phí, lệ phí, và khi Nhà
nước góp vốn vào doanh nghiêp.
• Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính: Quan hệ này xuất hiện khi
doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ cho hoạt động sản xuất – kinh doanh của
mình và đầu tư các khoản tiền nhàn rỗi để tìm kiếm lợi nhuận.
• Quan hệ giữa doanh nghiệp và các thị trường khác: Đó là các thị trường lao động,
thị trường hàng hóa – dịch vụ, thị trường công nghệ …
• Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: Đây là quan hệ giữa các bộ phận sản xuất
kinh doanh trong doanh nghiệp, giữa cổ đông và người quản lý, giữa cổ đông và
chủ nợ, phát sinh khi doanh nghiệp chi trả cổ tức, trả lương hay khen thưởng.
Như vậy, tài chính doanh nghiệp là những quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp với
các chủ thể trong nền kinh tế. Các quan hệ tài chính được thể hiện trong cả quá trình sản
xuất – kinh doanh của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp phải xử lý các quan hệ tài chính
thông qua phương thức giải quyết ba vấn đề quan trọng sau đây:
Thứ nhất: Tìm nơi đầu tư và xác định mức đầu tư phù hợp với loại hình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Đây chính là tìm kiếm sự án khả thi và quyết định đầu tư
dài hạn.
Thứ hai: Tìm kiếm nguồn tài trợ mà doanh nghiệp có thể huy động.
Thứ ba: Quyết định tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp, bao gồm quản lý ngân
quỹ, quản lý hàng tồn kho, quản lý các khoản phải thu – phải trả, quản lý doanh thu – chi
phí của doanh nghiệp…
Việc giải quyết ba vấn đề cơ bản trên của doanh nghiệp chính là quá trình nghiên

hóa, dịch vụ trước và chấp nhận cho khách hàng thanh toán sau. Trong
khoảng thời gian từ khi giao hàng đến lúc nhận tiền, doanh nghiệp có một
trái quyền đối với khách hàng. Quan hệ tín dụng thương mại này phát sinh
một công cụ vay nợ có giá trị là thương phiếu. Doanh nghiệp có thể sử
dụng thương phiếu để chiết khấu, cầm cố cho khoản vay ở ngân hàng, bán
cho các công ty mua bán nợ hay thực hiện bao thanh toán.
 Dòng tiền độc lập là dòng tiền phát sinh từ các nghiệp vụ tài chính thuần túy như
kinh doanh tiền tệ và kinh doanh chứng khoán.
1.2. Quản lý ngân quỹ của doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm quản lý ngân quỹ của doanh nghiệp
Ngân quỹ là khái niệm được sử dụng để chỉ tiền và các khoản tương đương tiền,
như các chứng khoán dễ bán của doanh nghiệp, tại một thời điểm nhất định. Cũng có thể
hiểu ngân quỹ là khoản chênh lệch giữa thực thu và thực chi của doanh nghiệp trong một
thời kỳ nhất định. Thu của doanh nghiệp là những khoản doanh nghiệp thu được trong
kỳ bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản, không bao gồm các mục: phải trả nhà cung cấp,
khấu hao tài sản cố định, chênh lệch do đánh giá lại tài sản. Chi của doanh nghiệp là
những khoản doanh nghiệp chi ra trong kỳ, có thể bằng tiền hoặc chuyển khoản, không
bao gồm các khoản mục: phải thu của khách hàng, chênh lệch đánh giá lại tài sản và các
khoản khác mà doanh nghiệp không thực sự phải chi ra.
6
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Quản lý ngân quỹ là sự tác động của nhà quản lý tài chính trong doanh nghiệp lên
các khoản thực thu và thực chi nhằm thay đổi mức tồn quỹ thực tế sao cho ngân quỹ
doanh nghiệp đạt mức tối ưu. Nhờ vậy, tối đa hóa giá trị tài sản của doanh nghiệp và
đảm bảo khả năng chi trả của doanh nghiệp trong từng thời kỳ và trong điều kiện biến
động của môi trường. Quản lý ngân quỹ giúp trả lời các câu hỏi:
• Doanh nghiệp có bao nhiêu tiền?
• Doanh nghiệp cần bao nhiêu tiền để duy trì hoạt động và cần vào thời điểm nào?
• Doanh nghiệp có thể tìm kiếm những nguồn tài trợ nào và đầu tư phần tiền mặt
dư thừa vào những đâu?

Nếu doanh nghiệp giữ ngân quỹ ở mức thấp, chi phí cơ hội nhỏ do tiền nhàn rỗi
được sử dụng vào muc đích sinh lời, nhưng chi phí giao dịch sẽ lớn. Bởi lẽ khi nhu cầu
thanh toán vượt quá lượng tiền có tại quỹ, doanh nghiệp buộc phải chuyển các tài sản tài
chính thành tiền. Lúc này, chi phí của việc giữ quá ít tiền chính là chi phí giao dịch liên
quan đến việc bán chứng khoán thanh khoản. Ngược lại, với việc giữ quá nhiều tiền mặt,
doanh nghiệp gặp phải chi phí cơ hội của việc giữ tiền, bởi doanh nghiệp đã mất đi nhiều
khoản tiền kỳ vọng nếu dùng các khoản tiền đó vào việc khác.
8
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Xây dựng mức ngân quỹ tối ưu liên quan đến việc cân nhắc sự đánh đổi giữa chi
phí cơ hội do giữ quá nhiều tiền mặt và chi phí giao dịch do giữ quá ít tiền mặt. Từ đó,
xác định lượng tiền cần giữ tại một thời điểm để đảm bảo nhu cầu thanh toán sao cho
tổng chi phí của việc giữ tiền (gồm chi phí giao dịch và chi phí cơ hội) là nhỏ nhất.
Điều này xảy ra khi khi chi phí giao dịch và chi phí cơ hội bằng nhau và tại mức ngân
quỹ tối ưu. Trên hình 1.1, tổng chi phí giữ tiền mặt nhỏ nhất tại điểm C*, đây cũng là
điểm mà ở đó, tiền mặt đạt mức tối ưu.
9
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Hình 1.1: Tổng chi phí của việc giữ tiền mặt
Trên cơ sở tối thiểu hóa chi phí của việc giữ tiền, có rất nhiều mô hình xác định
mức ngân quỹ tối ưu được xây dụng. Mô hình tối ưu hóa tồn quỹ tiền mặt thực chất là sự
cân bằng giữa tồn quỹ tiền mặt và chứng khoán ngắn hạn theo thời gian. Các mô hình
đều xem tiền mặt như một loại hàng hóa tồn kho và mỗi hoạt động giao dịch sẽ làm thay
đổi nguồn tiền mặt đang nắm giữ. Trong đó, các mô hình quản lý tiền mặt được sử dụng
phổ biến nhất là mô hình Bamol và mô hình Merton Miller - Daniel Orr.
a) Mô hình Baumol
Đây là mô hình ra đời sớm nhất, do William Baumol phát triển từ mô hình lượng
đặt hàng tối ưu nhằm giúp nhà quản lý tối thiểu hóa các chi phí liên quan đến việc
chuyển đổi qua lại tiền mặt - chứng khoán trong một thời gian xác định. Mô hình quyết
định số dư tiền mặt kết hợp với chi phí cơ hội và chi phí giao dịch, được ứng dụng nhằm

thành tiền mặt của mỗi lần giao dịch là xác định và không đổi theo thời gian.
Nội dung của mô hình: Ngân quỹ tối ưu của doanh nghiệp xác định theo mô
hình Baumol là lượng tiền mặt cần có vào đầu kỳ nghiên cứu. Do đã giả thiết dòng tiền
ròng của doanh nghiệp luôn bằng 0 và dự trữ cho mục đích dự phòng và đầu tư bằng 0,
ngân quỹ sẽ giảm dần và bằng 0 vào thời điểm cuối kỳ. Sau đó, ngân quỹ sẽ được đưa về
mức ban đầu bằng hoạt động tài trợ để phục vụ cho các giao dịch cần thanh toán ở kỳ
tiếp theo. Dòng tiền tài trợ để đưa ngân quỹ về mức đã thiết lập được xem xét độc lập
với mô hình.
Doanh nghiệp cần xem xét 3 yếu tố:
• Quy mô ngân quỹ (C)
11
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
• Chi phí cố định phát sinh khi bán chứng khoán ngắn hạn (F)
• Chi phí cơ hội do giữ tiền mặt (R) là lãi suất của thời kỳ tương ứng có thể kiếm
được nhờ đầu tư số tiền đó vào chứng khoán thanh khoản. R được xác định căn
cứ vào lãi suất năm trung bình gia quyền của danh mục đầu tư chứng khoán thanh
khoản của doanh nghiệp.
• Tổng số tiền mặt mới cần thiết cho mục đích giao dịch trong thời kỳ hoạch định,
giả sử là 1 năm (T)
Theo mô hình, chi phí cơ hội của việc giữ lượng tiền mặt C được xác định là
(C/2) * R. Chi phí giao dịch trong một năm được xác định căn cứ vào chi phí cho một
lần bán chứng khoán (F) và số lần doanh nghiệp thực hiện bán chứng khoán trong một
năm (T/C)., và là (T/C) * F.
Tổng chi phí của việc giữ tiền được xác định như sau:
Tổng chi phí giữ tiền = Chi phí cơ hội + Chi phí giao dịch.
Tức là, TC = R F, hay tổng chi phí của việc giữ tiền (TC) là một hàm của
ngân quỹ (C). Như vậy, ngân quỹ tối ưu (C*) là mức cho giá trị nhỏ nhất của tổng chi
phí giữ tiền, là điểm mà tại đó, đạo hàm bậc nhất của tổng chi phí giữ tiền (TC) theo quy
mô ngân quỹ (C) bằng 0.
= 0, hay – = 0

hình Baumol, nhưng dù sao mô hình này cũng có sự đóng góp quan trọng trong lý thuyết
quản trị tiền mặt.
b) Mô hình Merton Miller – Daniel Orr
Khắc phục một số hạn chế của mô hình Baumol, hai nhà kinh tế học M.H. Miller
và D. Orr đã giới thiệu một mô hình xác định mức ngân quỹ trong trường hợp doanh
nghiệp không thể dự đoán được mức thu – chi ngân quỹ hàng ngày.
Các giả thiết của mô hình: Mô hình Miller - Daniel Orr vẫn giữ các giả định của
mô hình Baumol. Tuy nhiên, khác với Baumol, Merton Miller và Daniel Orr phát triển
mô hình số dư tiền mặt với luồng thu và chi biến động ngẫu nhiên hàng ngày. Mô hình
giả thiết rằng luồng tiền mặt ròng có phân phối chuẩn và tổng biến động bằng 0, tức là
luồng thu đủ bù đắp luồng chi.
Nội dung của mô hình: Nếu mô hình trước nhằm xác định mức ngân quỹ tối ưu
thì mô hình Miller – Orr hướng tới việc xây dựng khoảng dao động hợp lý cho ngân quỹ
của doanh nghiệp. Mô hình này cho phép nhà quản lý nắm giữ tiền mặt ở mức độ hoàn
toàn tự do trong khoảng giới hạn trên và giới hạn dưới. Mức kỳ vọng hay mức ngân quỹ
tối ưu được xác định là điểm sẽ chuyển hết chứng khoán thành tiền và điểm sẽ đầu tư
tiền mặt dư thừa vào chứng khoán.
Có 3 khái niệm cần chú ý trong mô hình này: giới hạn trên (H), giới hạn dưới (L)
và số dư tiền mặt mục tiêu (Z). Ban quản lý công ty thiết lập H căn cứ vào chi phi cơ hội
giữ tiền và L căn cứ vào mức độ rủi ro do thiếu tiền mặt mà doanh nghiệp chấp nhận.
Công ty cho phép số dư tiền mặt biến động ngẫu nhiên trong phạm vi giới hạn và nếu
như số dư tiền mặt vẫn nằm trong mức giữa giới hạn trên và giới hạn dưới thì công ty
không cần thiết thực hiện giao dịch mua hay bán chứng khoán ngắn hạn. Khi số dư tiền
mặt đụng giới hạn trên (tại điểm X) thì công ty sẽ mua (H – Z) đồng chứng khoán ngắn
15
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
hạn để giảm số dư tiền mặt trở về Z. Ngược lại, khi số dư tiền mặt giảm đụng giới hạn
dưới (tại điểm Y) thì công ty sẽ bán (Z – L) đồng chứng khoán ngắn hạn để gia tăng số
dư tiền mặt lên đến Z.
Mức ngân quỹ tối ưu xác định bởi mô hình Miller-Orr phụ thuộc vào:

mặt
0
17
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- Ước lượng độ lệch chuẩn của luồng tiền mặt thu chi hàng ngày
- Xác định mức lãi suất để xác định chi phí cơ hội
- Ước lượng chi phí giao dịch liên quan đến việc mua bán chứng khoán
ngắn hạn
- Tính toán giới hạn trên và mức tiền mặt theo thiết kế, đồng thời đưa ra
những thông tin để các nhà quản lý tài chính đưa ra các quyết định quản lý
và thực hiện chiến lược kiểm soát theo giới hạn được xác định bởi mô
hình Miller – Orr.
c) So sánh mô hình Baumol và mô hình Miller - Orr
Về cơ bản, mô hình Miller – Orr xác định mức ngân quỹ tối ưu dựa trên chi phí
giao dịch và chi phí cơ hội giống như mô hình Baumol. Hai mô hình đều cho thấy:
• Lãi suất chứng khoán thanh khoản (chi phí cơ hội) càng cao thì mức ngân
quỹ tối ưu càng thấp.
• Chi phí giao dịch càng cao thì mức ngân quỹ tối ưu cũng càng cao. Đồng
thời, có thêm biến số phương sai ngân quỹ.
Tuy nhiên, mô hình Miller – Orr đã xem xét tới ảnh hưởng của mức biến động
ngân quỹ thông qua việc tính phương sai ngân quỹ, trong khi mô hình Baumol giả định
mức biến động này bằng 0. Mô hình Miller – Orr chỉ ra rằng mức biến động của luồng
tiền ròng hay phương sai ngân quỹ càng lớn thì khả năng ngân quỹ giảm xuống dưới
mức thấp nhất càng lớn, do đó, cần giữ một mức ngân quỹ tối ưu cao hơn để tránh khả
năng này. Mô hình cũng cho thấy số lần giao dịch của mỗi thời kỳ là số ngẫu nhiên thay
đổi tùy thuộc vào sự biến động của luồng thu và luồng chi tiền mặt. Kết quả là chi phí
18
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
giao dịch phụ thuộc vào số lần giao dịch chứng khoán ngắn hạn kỳ vọng còn chi phí cơ
hội phụ thuộc vào số dư tiền mặt kỳ vọng.

của doanh nghiệp, căn cứ vào kế hoạch sản xuất - kinh doanh, số liệu lịch sử của các
dòng tiền, tính chu kỳ của dòng tiền và những dự báo về tình hình thị trường đầu ra và
đầu vào. Các bước dự báo bao gồm
• Lập bảng thu dự tính
• Lập bảng chi dự tính
• Cân đối ngân quỹ dự tính
• Xử lý để đạt được trạng thái tối ưu về tiền mặt
Ví dụ sau đây cụ thể hóa các công việc cần được thực hiện trong dự báo dòng
tiền, với giả thiết bỏ qua ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế gián thu đến
dòng tiền ròng từ hoạt động đầu tư và tìm nguồn tài trợ ngắn hạn.
Dự báo dòng tiền vào từ hoạt động kinh doanh, đầu tư và tìm nguồn tài trợ dài
hạn: Dòng tiền vào này của doanh nghiệp có thể là thu từ bán hàng (trong kỳ, kỳ trước,
khách hàng trả trước), thu từ lãi đầu tư góp vốn vào đơn vị khác, thu từ việc nhận vốn
góp đầu tư dài hạn, thu từ lãi tiền gửi ngân hàng, thu do hoạt động đầu tư chứng khoán,
thu từ thanh lý nhượng bán tài sản và các khoản thu khác. Xét trường hợp đơn giản nhất
là dòng tiền vào của doanh nghiệp chỉ bao gồm thu từ bán hàng, giả sử doanh nghiệp có
20
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
doanh thu dự báo cho các quý I, II, III, IV lần lượt là 300, 200, 350 và 400 triệu đồng.
Dự kiến 60% doanh thu trong quý được thanh toán ngay, phần còn lại được thanh toán
vào quý sau và khoản mục phải thu tại đầu quý I là 100 triệu đồng. Từ đó, lập được bảng
dự báo dòng tiền vào của doanh nghiệp từ hoạt động kinh doanh, đầu tư và tìm nguồn tài
trợ dài hạn như sau:
Bảng 1.1: Dự báo dòng tiền vào từ hoạt động kinh doanh, đầu tư và tìm
nguồn tài trợ dài hạn của doanh nghiệp
(Đơn vị: triệu đồng)
Chỉ tiêu Quý I Quý II Quý III Quý IV
Phải thu đầu kỳ 100 120 80 140
Doanh thu bán hàng 300 200 350 400
Thu từ bán hàng 180 120 210 240

3. Chi trả nhà cung cấp
126 84 147 168
4. Chi trả khoản phải trả
50 84 56 98
5. Chi trả lương, thuế và chi phí khác
40 30 45 50
6. Chi đầu tư dài hạn
0 100 0 0
7. Chi cho chi phí tài trợ dài hạn
20 20 20 20
8. Phải trả nhà cung cấp cuối kỳ
84 56 98 112
9. Tổng dòng tiền ra 236 318 268 336
Nguồn: Ví dụ minh họa
Chi phí được xác định trên cơ sở doanh nghiệp chấp nhận thanh toán còn chi
được xác định khi doanh nghiệp xuất tiền thanh toán các chi phí. Khoảng cách giữa chi
phí và chi ngân quỹ là khoản mục phải trả. Các chỉ tiêu trên được xác định như sau:
Chi trả nhà cung cấp = Chi phí mua hàng x 70%
23
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Phải trả nhà cung cấp cuối kỳ = Phải trả nhà cung cấp đầu kỳ + Chi phí mua hàng
trong kỳ Chi trả nhà cung cấp trong kỳ
Tổng dòng tiền ra = Chi trả nhà cung cấp + Chi trả khoản phải trả + Chi trả
lương, thuế và các chi phí khác + Chi đầu tư dài hạn + Chi cho chi phí tài trợ dài hạn
Dự báo dòng tiền ròng từ hoạt động kinh doanh, đầu tư và tìm nguồn tài trợ
dài hạn cho doanh nghiệp: Được xây dựng căn cứ vào dự báo dòng tiền vào và dòng
tiền ra từ hoạt động kinh doanh đầu tư và tìm nguồn tài trợ dài hạn cho doanh nghiệp.
Đây là căn cứ để xây dựng bảng “Dự toán nhu cầu tiền” mà qua đó, nhà quản lý sẽ thấy
được ngân quỹ dự toán của doanh nghiệp sẽ thặng dư hay thâm hụt so với mức tồn quỹ
tối ưu để quyết định các biện pháp tài trợ hay tận dụng ngân quỹ thặng dư.

4. Ngân quỹ tối ưu
10 10 10 10
5. Thặng dư hoặc thâm hụt dồn tích
(5= 3 – 4)
54 -24 -2 42
Nguồn: Ví dụ minh họa
Trong trường hợp doanh nghiệp không tiến hành hoạt động đầu tư và tìm nguồn
tài trợ ngắn hạn để xử lý mức ngân quỹ thặng dư hoặc thâm hụt, thì ngân quỹ của doanh
nghiệp sẽ thặng dư vào quý I và thâm hụt vào các quý II, III và IV. Khi đó, lượng tiền
mặt dư thừa ở quý I không được sử dụng vào mục đích sinh lời, trong khi ba quý cuối
năm lại đối mặt với tình trạng thiếu hụt tiền mặt mà không được điều chỉnh, đặt doanh
nghiệp vào thế khó khăn trong thanh toán. Do vậy, sau khi lập dự báo dòng tiền với mức
thặng dư hay thâm hụt ngân quỹ được tiên đoán, doanh nghiệp sẽ lập kế hoạch đầu tư
25

Trích đoạn Quá trình hình thành và phát triển của Công ty thông tin di động Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Công ty thông tin di động Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty Thông tin di động Thực trạng công tác quản lý ngân quỹ tại Công ty Thông tin di động Dự báo dòng tiền và xây dựng ngân quỹ tối ưu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status