Khoa kế toán Luận văn tốt nghiệp
MỤC LỤC
Lời nói đầu 4
CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN
XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP XÂY LẮP.
6
1. Khái niệm và vai trò của chi phí sản xuất và tính giá thànhsản
phẩm
6
1.1. Khái niệm và vai trò của chi phí sản xuất 6
1.1.1 Khái niệm 6
1.1.2 Vai trò của chi phí sản xuất 7
1.2 Khái niệm và vai trò của giá thành 8
1.2.1 Khái niệm 8
1.2.2 Vai trò của giá thành 9
2. Yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
9
3. Ý nghĩa, nhiệm vụ hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm 10
4. Phân loại chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 11
4.1 Phân loại chi phí sản xuất 11
4.1.1 Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố chi phí 11
4.1.2 Phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục chi phí trong giá
thành sản phẩm
12
4.1.3 Phân loại chi phí sản xuất theo lĩnh vực kinh doanh 14
4.1.4 Phân loại chi phí sản xuất theo chức năng của chi phí 14
4.2 Phân loại giá thành sản phẩm 15
4.2.1 Căn cứ vào thờI điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành sản
phẩm
29
29
Chương II: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT
VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY
DỰNG SỐ 7- VINACONEX No 7
32
1. Đặc điểm chung của công ty cổ phần xây dựng số 7 32
1.1 Tổng quan về công ty 32
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của công ty 32
1.3 Đặc điểm, quy trình công nghệ 34
1.4 Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất- kinh doanh 35
1.5 Đặc điểm tổ chức quản lý 37
1.6 Công tác quản lý tài chính và nhân sự 39
1.7 Tổ chức kế toán 39
2. Thực trạng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 42
2.1 Đối tượng và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm
42
2.1.1 Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm
42
2.1.2 Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm
42
Nguyễn Thị Thuỳ Dung
2
Khoa kế toán Luận văn tốt nghiệp
2.2 Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 46
2.2.1 Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 46
là doanh nghiệp lớn hay nhỏ đều phải tự hạch toán lấy thu nhập để bù đắp cho
chi phí và đảm bảo bảo toàn và phát triển vốn chủ sở hữu. Song trên thực tế tỷ lệ
thất thoát vốn đầu tư cơ bản còn tương đối cao do chưa quản lý tốt các loại chi
phí.
Ta có thể nhận thấy rõ ràng rằng, chi phí sản xuất là yếu tố đầu vào của mọi
quá trình sản xuất kinh doanh. Do đó công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm cần phải được coi trọng đúng mức từ đó đảm bảo cho doanh
nghiệp có thể tồn tại và đứng vững trên thị trường, đảm bảo thực hiện đầy đủ
nghĩa vụ với ngân sách nhà nước và thực hiện tái sản xuất mở rộng.
Đối với các doanh nghiệp xây dựng cơ bản, giá thành sản phẩm xây lắp là một
chỉ tiêu chất lượng quan trọng trong kinh doanh, đây là một chỉ tiêu quan trọng
vì chi phí xây lắp phát sinh trong kỳ thường rất lớn, qua chỉ tiêu này có thể đánh
giá được trình độ quản lý kinh doanh, tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Vì vậy, quản lý tốt chi phí sản xuất nhằm hạ giá thành sản phẩm xây lắp là một
trong những nhiệm vụ hàng đầu của doanh nghiệp xây dựng cơ bản. Bên cạnh
đó, muốn đứng vững trong cơ chế thị trường đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cần phải
tự đánh giá, phân tích các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, nhằm tìm ra
các mặt mạnh, yếu để có phương hướng, biện pháp nhằm đem lại hiệu quả kinh
tế cao nhất. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc trong hoạt động sản xuất kinh
doanh, liên quan đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong nền kinh tế
Nguyễn Thị Thuỳ Dung
4
Khoa kế toán Luận văn tốt nghiệp
thị trường cạnh tranh gay gắt hiện nay. Công tác kế toán nói chung và công tác
hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng là một công cụ
hữu hiệu để nhà quản lý thực hiện mục tiêu này.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế toán hạch toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm, trong thời gian thực tập tại Công ty CP xây
dựng số 7, được sự giúp đỡ tận tình của các anh chị trong phòng Tài chính- Kế
hợp với yêu cầu của con người và phục vụ cho con người, dưới tác dụng của lao
động sống thông qua các vật truyền dẫn là tư liệu lao động. Hay nói cách khác,
quá trình sản xuất hàng hoá là quá trình kết hợp các yếu tố: sức lao đông, tư liệu
sản xuất và đối tượng sản xuất.
Trên đây là khái niệm cơ bản nhất về sản xuất, thông qua đó có thể thấy
rằng, để hoạt động sản xuất được diễn ra liên tục thì phải bỏ ra một lượng chi phí
về lao động và chi phí về tư liệu sản xuất tức là đối tượng lao động và tư liệu lao
động. Vậy, chi phí sản xuất kinh doanh là giá trị về lao động sống và lao động
vật hoá được biểu hiện bằng tiền mà doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp đã bỏ ra để
tiến hành công việc sản xuất trong kỳ (tháng, quý, năm). Thực chất của chi phí là
sự chuyển dịch vốn, giá trị của các tư liệu sản xuất và sức lao động hay gọi chung
là yếu tố sản xuất vào các đối tượng tính giá thành sản phẩm (lao vụ, dịch vụ).
Như vậy, bản chất của quá trình sản xuất là quá trình tiêu hao các yếu tố trên
nên các chi phí phát sinh là tất yếu khách quan và không phụ thuộc vào ý chí chủ
quan của chủ đầu tư và nhà quản lý. Nhà quản lý chỉ có thể kiểm soát chi phí sao
cho nó được sử dụng một cách có hiệu quả và đem lại lợi ích cao nhất, tránh lãng
phí.
Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, chi phí
sản xuất cũng là toàn bộ giá trị các hao phí về tư liệu lao động, đối tượng lao
động, sức lao động được thể hiện bằng tiền mà doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp
bỏ ra để thực hiện sản xuất. Các chi phí này thông qua lao động của con người sẽ
chuyển dần giá trị vào các sản phẩm xây lắp và hình thành nên giá thành sản
phẩm xây lắp.
Nguyễn Thị Thuỳ Dung
7
Khoa kế toán Luận văn tốt nghiệp
Tất nhiên không phải bất cứ khoản chi nào trong doanh nghiệp xây dựng
cũng được coi là chi phí sản xuất kinh doanh vì chi phí là giá trị của lao động
sống và lao động vật hoá được biểu hiện bằng tiền mà doanh nghiệp đã chi ra và
trọng cấu thành nên giá thành của các công trình. Thật vậy:
- Để xây dựng các công trình, trước hết phải có các yếu tố cần thiết cho quá
trình sản xuất là sức lao động, máy thi công và công cụ, dụng cụ, nguyên vật
liệu. Đây là những chi phí cần thiết mà không có chúng thì không thể tiến hành
sản xuất được. Đặc biệt ngày nay trong nền sản xuất lớn, hiện đại, máy móc càng
có vai trò quan trọng hơn, nó giúp cho hoạt động sản xuất được diễn ra nhanh
chóng, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật và nâng cao năng suất lao động, thậm chí máy
móc còn thay thế con người làm những công việc khó khăn, nguy hiểm.Tuy vậy,
lao động của con người lại có ý nghĩa quyết định đối với sản xuất vì con người là
chủ thể, không có con người thì không thể sản xuất được, không có người để tạo
ra máy móc.
- Chi phí là bộ phận cấu thành nên giá thành sản phẩm, khi doanh nghiệp xây
lắp hoàn thành, bàn giao công trình, hạng mục công trình cho chủ đầu tư thì phần
giá trị tương ứng mà doanh nghiệp sẽ nhận được là doanh thu. Doanh thu bao
gồm giá thành sản phẩm và lợi nhuận của doanh nghiệp. Như vậy, chi phí có ảnh
hưởng trực tiếp đến lợi nhuận.
- Đối với kế toán, chi phí là căn cứ để xác định giá thành sản phẩm, lợi nhuận
kinh doanh và lập báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
Nguyễn Thị Thuỳ Dung
9
Khoa kế toán Luận văn tốt nghiệp
- Đối với các nhà quản lý, các chi phí phát sinh trong kỳ là cơ sở để xem xét
tình hình sản xuất và đưa ra các biện pháp, kế hoạch chiến lược nhằm thu được
lợi nhuận tối đa.
1.2 Khái niệm và vai trò của giá thành:
1.2.1 Khái niệm:
Giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp là gía trị các hao phí về
lao động và tư liệu sản xuất được biểu hiện bằng tiền có liên quan đến công
trình, hạng mục công trình, khối lượng công việc đã hoàn thành theo tiến độ thi
+
-
Khoa kế toán Luận văn tốt nghiệp
Đối với những phần hạng mục công trình hoàn thành ngay trong một kỳ, không
có sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ thì chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm hoàn thành trùng nhau.
1.2.2 Vai trò của giá thành:
Giá thành là phần quan trọng trong doanh thu của sản phẩm sản xuất. Được
cấu tạo nên từ chi phí sản xuất sản phẩm phát sinh trong kỳ, gía thành có ảnh
hưởng trực tiếp đến lợi nhuận thu được. Tuỳ theo những tiêu thức khác nhau, ta
có thể phân loại giá thành, mỗi loại có vai trò riêng và quan trọng đối với hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Giá thành sản phẩm thực tế phát sinh là căn cứ để xây dựng nên giá bán
hàng hoá.
- Giá thành sản phẩm của doanh nghiệp ở mỗi kỳ kế toán thường không
giống nhau, có điểu đó là do sự biến động giá cả trên thị trường hoặc các
chính sách tài chính của công ty, giá thành sản phẩm sản xuất trong kỳ là
căn cứ để ban quản lý xác định được hiệu quả và hiệu năng sản xuất của
doanh nghiệp trong kỳ.
- Đặc biệt, giá thành kế hoạch, giá thành định mức cũng có vai trò quan
trọng, đây là loại giá thành được xác định trước khi bước vào tiến hành
công việc sản xuất kinh doanh trong kỳ. Vì vậy, đây là căn cứ để đề ra kế
hoạch sản xuất của doanh nghiệp, so sánh với giá thành thực tế phát sinh,
đây là căn cứ để đánh giá hiệu quả sản xuất và đề ra mục tiêu hoạt động
cho kỳ sản xuất sắp tới.
- Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng cơ
bản, xác định giá thành sản phẩm sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng. Vì
Nguyễn Thị Thuỳ Dung
11
3. Ý nghĩa, nhiệm vụ hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:
Ý nghĩa của hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là phải tổ
chức hạch toán khoa học để cung cấp các thông tin cần thiết cho quản lý, giúp
quản lý nắm rõ tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó đề xuất kiến nghị
nhằm cải thiện tình hình. Cụ thể:
- Hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm chính xác là phản ánh
trung thực tình hình tài chính của công ty, là cơ sở để xác định lợi nhuận
của doanh nghiệp.
- Ghi nhận chi phí sản xuất đầy đủ từ đó tính chính xác ra giá thành sản
phẩm tạo điều kiện cho nhà quản lý nắm rõ được tình hình sản xuất, từ đó
tìm ra biện pháp nâng cao lợi nhuận, đảm bảo đứng vững trên thương
trường. Thông qua thông tin về chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm do bộ phận kế toán cung cấp, những nhà quản lý doanh nghiệp có
thể nắm được chi phí và giá thành trực tiếp của từng hoạt động, từng công
trình, hạng mục công trình cũng như kết quả của toàn bộ hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp để phân tích đánh gía tình hình thực
hiện các định mức chi phí và dự đoán chi phí, tình hình sử dung tài sản,
vật tư, lao động, tiền vốn, và tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản
phẩm để có quyết định hợp lý.
Nguyễn Thị Thuỳ Dung
13
Khoa kế toán Luận văn tốt nghiệp
- Các chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ và giá thành sản phẩm là cơ sở để
kế toán lập báo cáo tài chính, phản ánh một cách trung thực chi phí phát
sinh là điều mà các nhà đầu tư rất quan tâm.
Nhiệm vụ của công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:
- Phải căn cứ vào đặc điểm quy trình công nghệ, đặc điểm tổ chức sản xuất
sản phẩm của doanh nghiệp để xác định đối tượng tập hợp chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm thích hợp.
trong sản xuất, cũng có thể được chi tiết hoá theo nội dung kinh tế cụ thể của
chúng. Toàn bộ chi phí sản xuất trong kỳ đối với doanh nghiệp xây lắp được chia
thành các yếu tố sau:
- Yếu tố chi phí nguyên vật liệu: Là những chi phí về nguyên vật liệu,
không phân biệt là chi phí trực tiếp hay chi phí gián tiếp, chi phí nguyên
vật liệu chính hay phụ như: xi măng, sắt thép, cát, đá sỏi…
- Yếu tố chi phí nhiên liệu động lực sử dung vào quá trình sản xuất kinh
doanh trong kỳ, các yếu tố chi phí này phải loại bỏ phần dùng không hết
nhập lại kho và phần phế liệu thu hồi.
- Yếu tố chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp lương: là những chi phí
về tiền lương và các khoản phụ cấp mang tính chất lương mà doanh
nghiệp phải trả cho người lao động.
- Yếu tố chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn: đây là
khoản trích theo lương mà doanh nghiệp phải trích cho người lao động
Nguyễn Thị Thuỳ Dung
15
Khoa kế toán Luận văn tốt nghiệp
theo quy định của Nhà nước dựa trên cơ sở là tổng số lương chính và phụ
cáp lương trả cho người lao động.
- Yếu tố chi phí khấu hao tài sản cố định: Bao gồm toàn bộ giá trị khấu hao
TSCĐ mà doanh nghiệp phảI trích cho tất cả tàI sản cố định sử dụng cho
sản xuất kinh doanh của doạnh nghiệp, không phân biệt tàI sản đó được
dùng cho hoạt động sản xuất hay quản lý.
- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: Là giá trị của các dịch vụ mua ngoài sử
dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp như tiền
điện, tiền nước, tiền tư vấn, sửa chữa lớn, thuê ngoài…
- Chi phí khác bằng tiền: Bao gồm các chi phí dụng cho hoạt động sản xuất
kinh doanh ngoài các yếu tố chi phí đã nêu trên.
Việc phân loại chi phí theo yếu tố có ý nghĩa lớn trong quản lý. Nó cho biết
xuất, công nhân điều khiển máy thi công.
- Chi phí sử dụng máy thi công: Là các chi phí có liên quan tới việc sử
dụng máy thi công sản phẩm xây lắp, bao gồm chi phí nhiên liệu động lực
cho máy thi công, tiền khấu hao máy, tiền lương công nhân điều khiển
máy thi công .
Do hoạt động của máy thi công trong xây dựng cơ bản mà chi phí sử dụng
máy thi công chia làm hai loại:
+ Chi phí tạm thời: Là những chi phí liên quan đến việc lắp ráp, chạy thử,
vận chuyển máy phục vụ sử dụng máy thi công trong từng thời kỳ (phân bổ theo
tiêu thức thời gian sử dụng)
Nguyễn Thị Thuỳ Dung
17
Khoa kế toán Luận văn tốt nghiệp
+ Chi phí thường xuyên: Là những chi phí hàng ngày cần thiết cho việc sử
dụng máy thi công bao gồm tiền khấu hao máy móc thiết bị, tiền thuê máy, tiền
lương công nhân điều khiển máy, nhiên liệu động lực,.vật liệu dùng cho máy, chi
phí sửa chữa thường xuyên và các chi phí khác.
- Chi phí sản xuất chung: Bao gồm các khoản chi phí trực tiếp phục vụ cho
sản xuất đội, công trình xây dựng nhưng không thể tính cho từng đối
tượng cụ thể. Chi phí này gồm: Tiền lương và các khoản tính theo lương
của bộ phận quản lý đội, khấu hao TSCĐ dùng cho quản lý đội, chi phí
công cụ, dụng cụ và các chi phí khác phát sinh trong kỳ liên quan đến
hoạt động của đội.
- Chi phí bán hàng: gồm tất cả các chi phí phát sinh liên quan đến tiêu thụ
sản phẩm, hàng hoá, lao vụ.
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: là những chi phí phát sinh liên quan đến
quản trị kinh doanh và quản lý hành chính trong doanh nghiệp.
Cách phân loại này giúp nhà quản lý xác định được cơ cấu chi phí nằm trong
giá thành sản phẩm từ đó thấy được mức độ ảnh hưởng của từng khoản mục chi
- Chi phí tham gia vào chức năng quản lý: Chi phí quản lý doanh nghiệp:
lương nhân viên quản lý, chi phí cho các công cụ dụng cụ dùng cho văn phòng.
Nguyễn Thị Thuỳ Dung
19
Khoa kế toán Luận văn tốt nghiệp
Cách phân loại này giúp ta biết chức năng của chi phí tham gia vào quá
trình sản xuất kinh doanh, xác định chi phí vào giá thành hoặc trừ vào kết quả
của doanh nghiệp.
Trên đây là một số cách phân loại chi phí chủ yếu trong kế toán tài chính
của doanh nghiệp. Trong các doanh nghiệp xây lắp thì cách phân loại chi phí
theo nội dung của chi phí và phân theo khoản mục tính giá thành được áp dụng
nhiều nhất.
4.2 Phân loại giá thành sản phẩm :
4.2.1 Căn cứ vào thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành:
Thông thường, trong các doanh nghiệp xây lắp, có các loại giá thành sau:
- Giá thành dự toán: là tổng chi phí dự toán để hoàn thành khối lượng xây
lắp công trình. Loại giá thành này được xác định dựa trên định mức và
khung giá quy định áp dụng cho từng vùng, lãnh thổ.
- Giá thành kế hoạch; là giá thành xác định căn cứ vào những điều kiện cụ
thể của mỗi đơn vị xây lắp trên cơ sở biện pháp thi công, các định mức
đơn giá áp dụng cho mỗi đơn vị. Giá thành kế hoạch bao gồm giá thành
dự toán và mức hạ giá thành dự toán.
- Giá thành thực tế: là toàn bộ các chi phí thực tế mà doanh nghiệp chi ra
để xây dựng công trình, hoàn thành bàn giao khối lượng xây lắp mà đơn
vị đã ký kết với chủ đầu tư. Giá thành thực tế được xác định theo số liệu
trên sổ kế toán.
4.2.2 Căn cứ theo phạm vi phát sinh chi phí:
- Giá thành sản xuất: là chỉ tiêu phản ánh tất cả các chi phí phát sinh trong
quá trình sản xuất sản phẩm theo từng công xưởng sản xuất, bộ phận sản
21
Khoa kế toán Luận văn tốt nghiệp
bộ quá trình sản xuất có thể là nhóm sản phẩm (nếu sản xuất nhiều thứ
sản phẩm tương tự nhau). Còn đối tượng hạch toán giá thành sản phẩm là
sản phẩm hoàn thành cuối cùng sản xuất ra.
- Loại hình sản xuất: sản xuất đơn chiếc, sản xuất nhỏ hay sản xuất hàng
loạt với khối lượng lớn.
- Yêu cầu và trình độ quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh: dựa trên cơ sở
trình độ tổ chức quản lý, trình độ và yêu cầu của nhà quản lý để xác định
đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.Với trình
độ cao, có thể chi tiết đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm chi tiết theo từng góc độ khác nhau, còn với trình độ thấp,
mức độ chi tiết có thể giản bớt, các đối tượng có thể bị hạn chế và thu hẹp
lại.
Ngoài ra còn có thể căn cứ vào các đặc điểm sau để xác định đối tượng hạch
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm chính xác:
- Đặc điểm của chi phí (đặc tính kỹ thuật, đặc điểm sử dụng, đặc điểm
thương phẩm...).
- Yêu cầu kiểm tra, kiểm soát chi phí và yêu cầu hạch toán kinh tế nội bộ
của doanh nghiệp.
- Yêu cầu tính giá thành theo các đối tượng tính giá thành
Mặt khác, đặc điểm của các doanh nghiệp xây lắp là:
- Sản phẩm các doanh nghiệp này làm ra đều có quy mô lớn, kết cấu phức
tạp mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất kéo dài.
Nguyễn Thị Thuỳ Dung
22
Khoa kế toán Luận văn tốt nghiệp
- Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá đã ký kết trong
hợp đồng với chủ đầu tư.
liệu về chi phí sản xuất đã tập hợp được trong kỳ là cơ sở để căn cứ để tính giá
thành.
Mối quan hệ giữa đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá
thành có thể được biểu hiện trong các trường hợp sau:
- Tương ứng với một đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là nhiều đối tượng
tính giá thành có liên quan.
- Tương ứng với nhiều đối tượng tập hợp chi phí sản xuất chỉ có một đối
tượng tính giá thành.
- Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành tương ứng
phù hợp nhau.
Cũng do chính các đặc điểm của công ty xây lắp mà đối tượng tính giá thành
thường trùng hợp với đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, đó có thể là: Công
trình, hạng mục công trình hay khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao.
5.2 Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Giống như các doanh nghiệp sản xuất khác, trong các doanh nghiệp xây lắp,
phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là một phương pháp hay hệ thống
phương pháp được sử dụng để tập hợp và phân loại chi phí sản xuất trong phạm
vi giới hạn của đối tượng hạch toán chi phí. Thực chất của việc hạch toán chi phí
Nguyễn Thị Thuỳ Dung
24
Khoa kế toán Luận văn tốt nghiệp
sản xuất trong công tác kế toán hàng ngày là mở sổ, thẻ chi tiết để theo dõi các
chi phí phát sinh theo đối tượng đã xác định.
Phương pháp tính giá thành sản phẩm là một phương pháp, hệ thống phương
pháp được sử dụng để tính giá thành của đơn vị sản phẩm, mang tính chất thuần
tuý kỹ thuật tính toán chi phí cho từng đối tượng tính giá thành. Có các phương
pháp tính giá thành sản phẩm sau:
- Phương pháp trực tiếp (phương pháp giản đơn): phương pháp này được
áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất giản đơn, số lượng sản phẩm ít,