Những Giải pháp phát triển quan hệ kinh tế - TM VN - Nhật Bản - Pdf 12

Lời mở đầu
Sau hơn 30 năm ra đời, xây dựng và phát triển, Hiệp hội các quốc
gia Đông Nam á, viết tắt là ASEAN (The Association of South East Asian
Nations) đã ngày một lớn mạnh. Từ một ASEAN gồm 5 nớc, đến nay
ASEAN đã trở thành một tổ chức gồm tất cả các nớc trong khu vực. Việt
Nam chính thức tham gia vào ASEAN tháng 7 năm 1995, nhng trớc đó đã
có mối quan hệ với từng nớc thành viên ASEAN và là quan sát viên của
ASEAN từ tháng 7/1992. Với sự chủ động hội nhập khu vực, Việt Nam đã
tận dụng và phát huy các lợi thế trong quan hệ hợp tác ASEAN, góp phần
hỗ trợ quan hệ song phơng với từng nớc thành viên ASEAN. Đặc biệt,
thông qua AFTA, Việt Nam sẽ có những điều kiện thuận lợi tăng cờng
quan hệ kinh tế, đầu t, thơng mại, giao lu văn hoá và nâng cao vị thế quốc
tế của Việt Nam. Sau 5 năm tham gia ASEAN quan hệ kinh tế giữa Việt
Nam và từng nớc thành viên ASEAN đã đợc mở rộng và đem lại một số
hiệu quả nhất định. Giá trị thơng mại, đầu t, các hợp tác kinh tế khác giữa
Việt Nam và ASEAN đã củng cố cho tiến trình liên kết kinh tế khu vực và
toàn cầu, nâng cao khả năng cạnh tranh của kinh tế Việt Nam với các nớc
trong khu vực. Phân tích đánh giá quan hệ kinh tế Việt Nam- ASEAN từ
đầu thập kỷ 90, đặc biệt từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức
của ASEAN (7/1995), thông qua các lĩnh vực hợp tác kinh tế cụ thể, từ đó
nêu lên một số triển vọng về quan hệ kinh tế giữa hai bên trong những năm
sắp tới là mục đích chủ yếu của khoá luận tốt nghiệp.
Cơ sở để thực hiện khoá luận:
Kế thừa và nghiên cứu một số công trình khoa học và bài báo,
đồng thời trớc khi làm khoá luận tác giả cũng có một chuyên đề thực tập
25 trang cùng đề tài này.
1
Phơng pháp nghiên cứu chính đợc sử dụng trong khoá luận là: ph-
ơng pháp thống kê, phân tích, tổng hợp; phơng pháp nghiên cứu so sánh, có
tính đến những nớc cụ thể và các giai đoạn phát triển cụ thể.
Đóng góp mới của khoá luận:

đầu giữa hai hệ thống xã hội. Các nớc ASEAN cũng bị tình hình trên tác
động mạnh và một số nớc, ở những mức độ khác nhau có những dính líu
vào cuộc chiến tranh Đông Dơng. Vào cuối những năm 60 đầu những năm
70 do những biến đổi của tình hình thế giới và khu vực đã buộc các nớc
ASEAN phải điều chỉnh lại chính sách đối ngoại của mình.
Tháng 11/1971, tại Cuala Lămpơ (Malaixia), Bộ trởng Ngoại
Giao các nớc ASEAN đã ký tuyên bố ZOPFAN và tìm cách thoát ra khỏi
sự dính líu vào cuộc chiến tranh Đông Dơng. Sau tuyên bố ZOPFAN, một
số nớc ASEAN đã bắt đầu thăm dò khả năng quan hệ với Việt Nam trên
một số lĩnh vực. Tuy nhiên, quan hệ hai bên lúc này cha có tiến triển gì
đáng kể.
Vào cuối những năm 1960 - đầu 1970, ở khu vực diễn ra một số
chuyển biến có tính chiến lợc, trong đó quan trọng nhất là thất bại trở nên
rõ ràng của Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Thắng lợi của các nớc
nớc Đông Dơng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ là những nhân tố tác
động sâu sắc tới cục diện Đông Nam á buộc các nớc ASEAN phải tính
toán lại chiến lợc của mình.
3
Một trong những biểu hiện đầu tiên của quá trình điều chỉnh chiến
lợc này là tháng 2 - 1969 Thủ tớng Malaixia đa ra khái niệm trung lập hoá
Đông Nam á. Các nớc ASEAN, nhất là những nớc có quan hệ chặt chẽ với
Mỹ đa quân vào Việt Nam đã không tán thành khái niệm này. Trong quan
hệ với Việt Nam tuyên bố này cũng đánh dấu chấm dứt việc các nớc
ASEAN ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Thực ra trớc đó, do
tình thế thất bại của Mỹ- Nguỵ quyền Sài Gòn, các nớc ASEAN đã phải
dần dần giảm sự dính líu của mình nh: tháng 10- 1969, Philippin công bố
kế hoạch rút quân một phần và tháng 12- 1969 đã rút hơn 1000 công dân
vụ khỏi Việt Nam; Thái Lan cũng bắt đầu rút 12 nghìn quân khỏi Việt
Nam.
Quan hệ Việt Nam - ASEAN giai đoạn này nói chung hết sức mờ

1
)
Giai đoạn từ 1990 - 1995:
Là thời kỳ tiếp cận và bình thờng hoá quan hệ hai bên. Tại Đại hội
Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VII (1991) đã khẳng định chủ chơng
thực hiện đờng lối đối ngoại rộng mở, đa phơng hoá, đa dạng hoá, trong đó
nhấn mạnh việc phát triển quan hệ hữu nghị với các nớc Đông Nam á và
Châu á- Thái Bình Dơng, phấn đấu vì một Đông Nam á hoà bình, hữu
nghị và hợp tác. Đờng lối đó đã đợc cụ thể hoá trong Nghị quyết Hội Nghị
Trung Ương lần thứ III, khoá VII (tháng 6/1992) trong đó nói rõ: Việt
Nam tham gia Hiệp ớc Bali, tham gia các diễn đàn đối thoại với ASEAN,
tích cực nghiên cứu mở rộng quan hệ với ASEAN trong tơnglai . Sau khi
Việt Nam tuyên bố muốn tham gia Hiệp ớc Bali (tháng 2/1989), các nớc
ASEAN đều lên tiếng ủng hộ và ngày 28/1/1992, Hội Nghị cấp cao
1
. Phạm Đức Thành. Việt Nam ASEAN. NXB KHXH, 1996, tr 37.
5
ASEAN lần thứ IV tại Xingapo (1992) đã tuyên bố rõ điều đó. Vì vậy, tới
ngày 22/7/1992 tại Hôi Nghị lần thứ 25 Bộ trởng Ngoại Giao các nớc
ASEAN, Việt Nam chính thức tham gia Hiệp ớc Bali và trở thành quan sát
viên của ASEAN. Việc Việt Nam trở thành quan sát viên của ASEAN đã
thể hiện sự cố gắng không mệt mỏi, với tinh thần khép lại quá khứ, hớng
tới tơng lai của các bên, nhằm xây dựng một Đông Nam á hoà bình, hữu
nghị, hợp tác để phát triển. Vào thời điểm này, nhận thức của các nớc
ASEAN về việc Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ của ASEAN cũng
biểu hiện ở những khía cạnh khác nhau, tuỳ theo lợi ích của mỗi quốc gia.
Inđônêxia, Malaixia cho rằng Việt Nam nói riêng và các nớc Đông Dơng
nói chung, tham gia ASEAN sẽ có tác dụng chủ yếu trong lĩnh vực hoà
bình, an ninh khu vực. Theo các nớc này, Việt Nam là một nớc lớn thứ hai
ở khu vực, là nớc láng giềng của Trung Quốc, có tiềm lực quốc phòng

cha đợc chín muồi. Đối với các nớc lớn, các nớc ASEAN đặc biệt quan tâm
đến thái độ của Trung Quốc về việc Việt Nam gia nhập ASEAN.
Việc Việt Nam tham gia vào Hiệp ớc Bali thể hiện cam kết của Việt
Nam với những nguyên tắc đợc Việt Nam nêu ra trớc đó trong chính sách 4
điểm của mình năm 1976. Điều đó cũng làm tăng sự tin cậy của các nớc
ASEAN và các nớc ngoài khu vực đối với Việt Nam. Trong giai đoạn này,
quan hệ Việt Nam - ASEAN phát triển mạnh mẽ cả trong lĩnh vực song ph-
ơng và đa phơng. Thơng mạiViệt Nam- ASEAN tăng từ 989 triệu USD năm
1990 lên 2.441 triệu USD năm 1994.
Ngày 11/7.1993, ông Gô- Chốc- Tông, Thủ tớng nớc Cộng Hoà
Xingapo đã trả lời phỏng vấn ASEAN không và sẽ không trở thành một
khối quân sự. Thế nhng, những tham khảo giữa các quan chức quốc phòng
7
và quân sự sẽ tạo ra một môi trờng tin cậy lẫn nhau. Một điều tế nhị là
ASEAN không muốn trở thành một số nớc chống Trung Quốc. Do vậy,
ASEAN buộc phải thận trọng khi Việt Nam muốn gia nhập ASEAN.
Những ý kiến trên đây cho đến trớc Hội Nghị Ngoại trởng thờng kỳ
lần thứ 27 của ASEAN đợc xem là những quan điểm của các nớc ASEAN
cha nhất trí để Việt Nam gia nhập ASEAN.
Từ năm 1993, ASEAN lập cơ chế họp hiệp thơng giữa ASEAN và
Việt Nam nhân dịp Hội Nghị Ngoại trởng ASEAN. Tại Hội Nghị Ngoại tr-
ởng ASEAN lần thứ 26 tại Xingapo năm 1993, Việt Nam đã đợc mời tham
dự diễn đàn an ninh khu vực ASEAN (ARF: ASEAN Regional Forum) để
bàn về các vấn đè trính trị và an ninh khu vực châu á - Thái Bình Dơng.
Việt Nam đợc coi là trong những nớc sáng lập diễn đàn này. Ngoài ra,
ASEAN cũng còn mời Việt Nam tham gia các chơng trình và dự án hợp tác
ASEAN trên 5 lĩnh vực khoa học- công nghệ, môi trờng, y tế, văn hoá,
thông tin và du lịch.
Để tạo môi trờng thuận lợi hơn nữa cho sự tham gia của Việt Nam
vào quá trình hợp tác khu vực, nhất là vào ASEAN, từ tháng 2/1993, các vị

Thủ tớng Xingapo Gô - Chốc - Tông cho rằng có đợc ASEAN với toàn thể
10 nớc thành viên khu vực Đông Nam á là hãnh diện , ASEAN phải vơn
tới đội hình lớn để giành lấy sự kính trọng của thế giới (
1
). Trong buổi
gặp gỡ giữa Ngoại trởng Việt Nam với Ngoại trởng các nớc ASEAN ngày
23/7/1994, Ngoại trởng Xingapo là G. Gêyacuma phát biểu: việc Việt
Nam gia nhập ASEAN sẽ là một đóng góp quan trọng vào việc xây dựng
Đông Nam á hoà bình, hợp tác và phồn vinh (2).
1
. Phạm Đức Thành. Việt Nam - ASEAN. NXB KHXH, 1996, trang 38.
1
(1) , (2). Quan hệ kinh tế thơng mại Việt Nam - ASEAN. NXB Thống Kê 1997, trang 36, 37.
9
Năm 1994, quan hệ Việt Nam - ASEAN phát triển toàn diện. Trung
bình mỗi tháng có 2 cuộc viếng thăm cấp cao giữa hai bên. Cho đến nay có
khoảng 40 Hiệp định hợp tác song phơng và đa phơng đã đợc ký kết. Buôn
bán hai chiều 6 tháng đầu năm 1994 đạt trên 1 tỷ USD, trong đó cân bằng
xuất và nhập. Đầu t của ASEAN vào Việt Nam đến hết quý II năm 1994 là
1,433 tỷ USD. Tháng 9/1994 Thủ tớng Võ Văn Kiệt đã ký quyết định Vụ
ASEAN thuộc Bộ Ngoại Giao để phối hợp hoạt động giữa Việt Nam và
ASEAN. Ngày 25/4/1994, lần đầu tiên Việt Nam tham dự Hội Nghị Bộ tr-
ởng kinh tế ASEAN lần thứ 26 ở Chiềng - Mai (Thái Lan). Tại Hội Nghị
này, những vấn đề chuẩn bị cho Việt Nam gia nhập ASEAN đã đợc đề cập
một cách rộng rãi. Đồng chí Nguyễn Mạnh Cầm Uỷ viên Bộ Chính Trị
Đảng Cộng Sản Việt Nam, Bộ Trởng Bộ Ngoại Giao cho biết: chúng ta cần
phải tiếp tục tìm hiểu sâu hơn và làm quen hơn nữa với toàn bộ cơ cấu tổ
chức, các quy định, thủ tục và cơ chế hoạt động của ASEAN. Điều khá
quan trọng là chuẩn bị một đội ngũ đông đảo cấp cao, các ngành có năng
lực và có trình độ tiếng Anh đủ để tham gia công việc của các Uỷ ban, thực

công cuộc đổi mới, xây dựng kinh tế và bảo vệ đất nớc. Tham gia ASEAN
đã bổ trợ cho các mối quan hệ song phơng của ta với các nớc láng giềng
trong khu vực, tăng cờng hiểu biết và thông cảm lẫn nhau, góp phần cải
thiện cơ bản và thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ hữu nghị hợp tác của nớc ta với
các nớc này. Mặt khác, trở thành thành viên của ASEAN, Việt Nam có cơ
hội thúc đẩy và tăng cờng hơn nữa mối quan hệ tay đôi với các nớc ngoài
ASEAN, các tổ chức quan trọng và khu vực khác, trên các lĩnh vực chính
trị - an ninh, kinh tế - xã hội; tham gia các Hiệp định hợp tác của ASEAN
với các bên đối thoại nh: EU, Canađa, ôtxtrâylia, ... cũng nh hàng trăm các
dự án hợp tác cụ thể đợc các bên đối thoại tài trợ.
11
Thông qua các hình thức hợp tác kinh tế, Việt Nam có thể tiếp cận
đợc những biện pháp quản lý trong một số lĩnh vực vốn là thế mạnh của
một số nớc ASEAN. Ngoài ra, Việt Nam có thể học đợc những kinh
nghiệm của từng nớc nh kinh nghiệm của Thái Lan, Philippin về nông
nghiệp và công nghiệp chế biến, nông sản; kinh nghiệm của Malaixia và
Xingapo về du lịch, dịch vụ, kinh nghiệm của Xingapo về tổ chức thị trờng
vốn, kinh nghiệm của Malaixia về chế biến và xuất khẩu khoáng sản...
Nh vậy, việc Việt Nam gia nhập ASEAN đã thể hiện một sự cam kết
mạnh mẽ đối với các mục đích và mục tiêu của ASEAN. Sự cam kết này đã
góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy hoà bình và ổn định ở Đông Nam
á.
Chơng II
Thực trạng quan hệ kinh tế Việt Nam - ASEAN
từ 1990 đến nay
I. Quan hệ thơng mại Việt Nam - ASEAN từ 1990 đến nay:
1.Ngoại thơng Việt Nam với ASEAN:
Sau khi tình hình thế giới có những biến chuyển lớn (sự sụp đổ của
Liên Xô và các nớc Đông Âu), với chính sách mở cửa của Đảng và Nhà n-
ớc ta, thị trờng ngoại thơng Việt Nam đã có sự chuyển hớng cơ bản: từ thị

Tỷ lệ % so với tổng
kim ngạch của Việt
Nam với thế giới (%)
1995 1,112 2,378 3,490 23,9
1996 1,364 2,788 4,152 33,4
1997 1,911 3,166 5,077 25,5
1998 2,372 3,749 6,122 29,7
1999 2,463 3,288 5,751
Nguồn: Hội thảo 5 năm Việt Nam tham gia ASEAN, Học Viện Quan hệ Quốc tế
Hà Nội, 20/6/2000.
Đến cuối năm 1996, chỉ hơn một năm sau khi Việt Nam trở thành
thành viên chính thức của ASEAN thì tổng kim ngạch buôn bán giữa Việt
Nam và ASEAN đã tăng lên đến 4,152 tỷ USD tơng đơng với 33,4 % tổng
kim ngạch buôn bán của Việt Nam với thế giới, tăng gấp 1,2 lần về số tơng
đối và tăng xấp xỉ 0,7 tỷ USD về số tuyệt đối so với năm 1995. Riêng về
13
danh mục hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam vào thị trờng ASEAN hàng
năm cũng gia tăng nhanh chóng. Từ con số 0 đến nay chúng ta đã có tới
200 mặt hàng đợc đánh giá là có khả năng tạo đợc chỗ đứng trên thị trờng
quốc tế. Các mặt hàng chủ yếu Việt Nam xuất sang các nớc ASEAN nh
sau:
- Với Xingapo: Việt Nam thờng xuất các mặt hàng nh: thiếc, dầu thô, cao
su, hạt tiêu, tôm đông lạnh, cà phê, chè. Ngợc lại, Xingapo bán cho Việt
Nam: xăng, dầu, thép, phân bón hoá học, xăm lốp ô tô.
- Với Thái Lan: Việt Nam xuất khẩu: than, thiếc và mua của Thái Lan
các mặt hàng: phân bón hoá học, xe gắn máy, tân dợc.
- Với Malaixia: Việt Nam xuất khẩu: gạo, cao su, than và mua các mặt hàng của
Malaixia: phân bón hoá học, xăng dầu các loại.
- Với Philippin: Việt Nam có rất ít các hàng xuất khẩu, chủ yếu là gạo và
nhập khẩu: phân bón hoá học.

1.145,8
1.739,3
67,3
1.250,0
2.032,6
3.322,6
69,7
1,080
2,437
3.517
57,4
822
1,883
2.705
47,0
Nguồn: Tổng cục Thống Kê, Hà Nội, 1999.
Trong giai đoạn 1990 - 1998 kim ngạch buôn bán giữa hai nớc liên
tục tăng nhanh và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong kim ngạch tổng kim ngạch
xuất nhập khẩu của Việt Nam với ASEAN. Năm 1990 là 77,8%; năm 1992
là 80,5%; năm 1996 là 69,7%; năm 1998 là 54,4% và năm 1999 là 47%.
Có thể thấy kim ngạch hai chiều tăng hơn 1,5 lần từ năm 1993 đến năm
1998 (2,1 tỷ USD Singapore năm 1993 lên 3,2 tỷ USD năm 1998). Nhng từ
năm 1997 - 1998 do cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực,
buôn bán hai chiều giảm đi: năm 1997 là 17% thì năm 1998 giảm xuống
còn 16,1% và năm 1999 là 11,7%. Mặc dù vậy, hiện nay Xingapo vẫn là
bạn hàng lớn nhất của Việt Nam với tổng kim ngạch mậu dịch hai chiều
năm 2000 đạt 3,31 tỷ USD. Giá trị xuất khẩu của Việt Nam tăng nhanh,
năm 1996 đạt mức cao nhất là 1.290 triệu USD. Việt Nam tăng cờng xuất
khẩu sang Xingapo vì Xingapo là thị trờng thơng mại tự do, có tỷ lệ thuế
quan u đãi. Chính phủ Xingapo chỉ đánh thuế thấp đối với một số mặt hàng

Chè
Hải sản
Rau quả
Hạt điều
Linh kiện điện tử
TCMN
Linh kiện vi tính
Dầu thô
Giày dép
Dệt may
USD
Tấn
Tấn
Tấn
Tấn
Nghìn USD
Nghìn USD
Nghìn USD
NghìnUSD
Nghìn USD
Nghìn USD
Nghìn tấn
Nghìn USD
55.416
684.744
49.151
55.681
1.705
28.051
2.073

Tấn
Bộ
Nghìn USD
Nghìn USD
Nghìn USD
Nghìn USD
Nghìn USD
Chiếc
5.792.795
706.549
53.178
2.566
108.000
157.000
50.000
9.700
28.000
97
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu t, Hà Nội, 1999,
Năm 1999 Xingapo là nớc có giá trị hàng hoá nhập khẩu vào Việt
Nam lớn nhất, chiếm 16,2% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu. Từ năm 1990
đến nay, trong quan hệ buôn bán giữa hai nớc, Việt Nam luôn ở tình trạng
nhập siêu và mức độ nhập siêu tăng trong những năm 1990 - 1997, năm
1990 là 302,5 triệu USD, năm 1995 là 735,4 triệu USD, năm 1997 là 902,1
triệu USD, năm 1998 là 1,357 triệu USD, năm 1999 là 1,061 triệu USD. Do
ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ khu vực nên năm 1999 so với năm
1998 mức nhập siêu có giảm xuống. Tuy vậy, tỷ trọng hàng Việt Nam chỉ
chiếm 0,92% kim ngạch buôn bán của Xingapo với thế giới. Hàng hoá đa
vào Xingapo luôn phải đơng đầu với nhiều đối thủ cạnh tranh có tầm cỡ
quốc tế nh: Nhật Bản, Mỹ, Hồng Kông,... Nếu nh hàng hoá không đạt tiêu

225,7
323,3
12,5
107,4
494,5
601,9
12,6
295,3
648,0
943,3
15,4
313
556
869
15,1
Nguồn: Tổng cục thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu t, 1999.
Hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam sang Thái Lan tơng tự nh Xingapo
chỉ trừ hai loại hàng là chè và hạt tiêu. Nhng khác với Xingapo là một nớc
công nghiệp mới, Thái Lan là một nớc đang phát triển, có tiềm năng lớn về
phát triển công nghiệp, xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới và còn xuất khẩu
cao su tự nhiên đứng nhất nhì thế giới. Ngoài ra, Thái Lan còn xuất khẩu
hàng nông sản, hải sản. Hàng công nghiệp xuất khẩu chủ lực của Thái Lan
hiện nay là dệt và quần áo, máy tính và cấu kiện máy vi tính, đồ điện, đồ
trang sức, xe gắn máy, xe hơi,... Trong danh mục đó có rất nhiều loại hàng
có khả năng cạnh trang cao hơn hàng xuất khẩu cùng loại của Việt Nam,
19
do hàng Thái có trình độ công nghệ và chất lợng cao hơn. Do đó, có nhiều
hàng Việt Nam xuất sang Thái Lan đợc họ tái chế để nâng cao chất lợng
hoặc bổ xung vào khối lợng hàng xuất khẩu của họ. Năm 1999 hàng xuất
khẩu của Việt Nam vào Thái Lan đạt giá trị cao nhất là linh kiện vi tính,

5,0
0,8
5,8
0,6
68,4
35,9
104,3
6,9
64,8
66,1
103,9
5,1
77,7
200,3
278,0
5,8
115
239
354
5,7
257
309
566
9,8
164
164
328
Nguồn: Tổng cục Thống Kê, Bộ Kế hoạch và Đầu t, 1999
Giá trị xuất nhập khẩu của Việt Nam với Malaixia tăng nhanh
trong giai đoạn 1990 - 1999, từ 5,8 triệu USD lên 565 triệu USD, tăng 97,5

1990 1992 1994 1996 1998 1999
Xuất khẩu
Nhập khẩu
Tổng số
% trong
ASEAN
14,6
9,8
24,4
2,7
19,9
39,8
40,7
2,7
35,3
116,3
151,6
5,9
45,7
149,0
194,7
4,1
316
257
573
9,4
421
285
706
12,3

% trong
ASEAN
57,0
3,6
60,6
6,8
1,0
0,5
1,5
0,1
3,6
15,0
18,6
0,7
132,0
28,9
160,9
3,4
392,7
59,0
451,7
7,4
393
46
493
7,6
Nguồn: Tổng cục Thống kê, sđd
Bộ Kế hoạch và Đầu t, 1999.

Buôn bán giữa Việt Nam và Philippin năm 1990 đạt 57 triệu USD

Nhập khẩu 3,9 7,7 102,9 68,1 104,0 195
Tổng số 20,5 23,7 123,8 93,0 177,3 359
Nguồn: Tổng cục Thống kê, sđd
Bộ Kế hoạch và Đầu t, 1999
Từ năm 1997 trở về trớc, kim ngạch buôn bán giữa hai nớc tăng
giảm thất thờng. Năm 1994 đạt mức cao nhất là 123,8 triệu USD, năm
1995 - 1997 lại giảm xuống còn 104,6 triệu USD năm 1995, 93 triệu USD
năm 1997. Hai năm gần đây, kim ngạch hai chiều tăng lên, đạt 177,3 triệu
USD năm 1998 và 359 triệu USD năm 1999.
Việt Nam xuất khẩu sang Lào hàng công nghệ phẩm nh: đồ nhựa,
hàng dân dụng, may mặc, chất tẩy rửa, hàng điện tử, hải sản, gạo,...
Việt Nam cũng nhập khẩu từ Lào: phụ liệu dệt da, nguyên liệu chất
dẻo, thạch cao,...
g. Quan hệ thơng mại Việt Nam - Campuchia:
Bảng 10: Xuất nhập khẩu Việt Nam - Campuchia
Đơn vị: triệu USD và %
1990 1992 1994 1996 1998 1999
Xuất khẩu 9,1 6,4 77,3 99,0 75 91
Nhập khẩu 7,7 6,7 17,7 17,7 36 13
Tổng số 16,8 13,1 95,0 116,9 111 104
Nguồn: Tổng cục Thống kê, sđd
Bộ Kế hoạch và Đầu t, 1999
Quan hệ thơng mại Việt Nam - Campuchia cũng mới đợc đẩy
mạnh trong những năm gần đây. Giá trị xuất nhập khẩu giữa hai nớc tăng
từ 16,8 triệu USD năm 1990 lên 104 triệu USD năm 1999, tăng gấp 6,2 lần.
25

Trích đoạn Việc Việt Nam tham gia AFTA (ASEAN Free Trade Area: khu vực buôn bán tự do ASEAN). 1.Số lợng dự án và vốn đầu t: *Sau khi Việt Nam gia nhập ASEAN: 2.Cơ cấu lĩnh vực và hình thức đầu t: Hợp tác giao thông vận tải ASEAN:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status