Giải pháp phát triển quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ - Pdf 12

Mục lục
Nội dung Trang
Mục lục...............................................................................................................1
Danh sách các bảng và các khung ....................................................3
Danh mục các từ viết tắt.........................................................................4
Lời mở đầu.........................................................................................................6
Ch ơng I : những yếu tố hình thành nên quan hệ thơng mại
giữa Việt nam với Hoa Kỳ...........................................................................8
I. Bối cảnh quốc tế và tình hình kinh tế Việt nam nói chung..............8
II. Quan hệ Việt nam Hoa Kỳ qua từng thời kỳ lịch sử..............10
III. Lợi ích kinh tế trong quan hệ thơng mại giữa Việt nam với Hoa Kỳ. .................15
Ch ơng II : Thực trạng quan Hệ thơng mại Việt Nam - Hoa Kỳ
sau 10 năm bình thờng hoá......................................................................17
I. Khái quát chung về luật thơng mại Hoa Kỳ.....................................................17
II. Tình hình xuất nhập khẩu hàng hoá trong quan hệ thơng mại Việt Nam - Hoa
Kỳ......................................................................................................................
...........................................................................................................................21
1. Tình hình xuất khẩu hàng hoá của Việt nam sang thị trờng Hoa Kỳ....................22
2. Tình hình nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam từ thị trờng Hoa Kỳ.......................27
3. Nhận xét chung về xuất nhập khẩu của Việt Nam . .........29
III. Những thuận lợi và khó khăn trong quan hệ thơng mại Việt Nam - Hoa Kỳ.......31
1. Thuận lợi .. ..........31
2. Khó khăn ... .........34
Ch ơng III : Triển vọng và Các giải pháp phát triển quan hệ th-
ơng mại Việt Nam - Hoa Kỳ........................................................................41
I. Triển vọng phát triển quan hệ thơng mại giữa Việt Nam Hoa Kỳ
1. Đánh giá chung về triển vọng phát triển thơng mại giữa hai nớc
2
2. Triển vọng xuất khẩu của Việt Nam với Hoa Kỳ đối với một số mặt
hàng cụ thể
II. Một số giải pháp thúc đẩy quan hệ thơng mại giữa Việt Nam - Hoa Kỳ...............41

Asian Nation
Hiệp hội cá nớc đông nam á
VASEP Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ
sản việt nam
CFA Hiệp hội các nhà sản xuất catfish Mỹ
ASDA Hiệp hội các nhà phân phối thuỷ
sảnMỹ
SSA Liên minh tôm miên nam
AFTA Asean Free Trade Area Khu vực Mậu dịch tự do đông nam á
POW/MIA Prisoner Of War/Missing In
Action
Chơng trình tìm kiếm lính Mỹ mất
tích trong chiến tranh
Lời mở đầu
Kể từ khi Việt Nam và Hoa Kỳ bình thờng hoá từ năm 1994 đến nay, quan hệ
Việt - Mỹ đã có nhiều sự thay đổi. Đó là một trong những điểm mốc căn bản trong
quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc hiện
đại hoá đất nớc, trớc nhu cầu phát triển nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ
nghĩa, hội nhập với nền kinh tế thế giới, một mặt Việt Nam đã thực hiện triệt để ch-
ơng trình cải cách, đổi mới nền kinh tế... nhằm tạo môi trờng phát triển kinh tế thông
thoáng hơn.
Mặt khác, Việt Nam đã không ngừng mở rộng sự giao lu và hợp tác của mình
trong hầu hết tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là trong thơng mại. Các doanh nhân Mỹ sẽ
tìm thấy ở Việt Nam một thị trờng tiềm năng về lực lợng lao động dồi dào và khả
năng mở rộng các loại hình dịch vụ khác nhau... Ngợc lại doanh nhân Việt Nam hi
vọng quan hệ thơng mại bình thờng này sẽ giúp cho hàng hoá nớc mình có thể xâm
nhập vào thị trờng Mỹ nhiều hơn nữa cũng nh có điều kiện tiếp cận đợc với các ph-
ơng tiện kỹ thuật hiện đại, để cải tiến chất lợng sản phẩm.
Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội mở rộng thị trờng thì khó khăn, thách thức đối với
doanh nghiệp Việt Nam cũng rất lớn. Đó là việc hàng hoá Việt Nam sẽ phải cạnh

Sinh viên thực hiện
Đỗ Đức Toại
Lớp: K7 - LT1 - QHQT
Trờng ĐH Đông ĐôChơng I
Những yếu tố hình thành nên quan hệ thơng
mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ
I. Bối cảnh quốc tế và tình hình kinh tế Việt Nam nói chung.
Trong nửa thế kỷ XX, nền sản xuất thế giới đã và đang trải qua những biến
động hết sức sâu sắc. Trớc ngỡng cửa của thế kỷ mới, chúng ta đã chứng kiến một sự
điều chỉnh quan trọng và nhanh chóng trong mối quan hệ giữa các quốc gia trên thế
giới. Mỗi nớc đều cải cách chính sách quan hệ của mình nhằm tìm kiếm một ngôi vị
tốt nhất, đồng thời thiết lập một cơ cấu quan hệ mới ổn định và lâu dài, mối quan hệ
tơng hỗ bị phá vỡ và đang thúc đẩy từ một bối cảnh không cân bằng tới một bối cảnh
cân bằng. Tìm kiếm sự ổn định, hợp tác, loại bỏ những khác biệt, tránh đối đầu đã trở
thành một sách lợc hàng đầu trong mối quan hệ giữa các cờng quốc. Các cờng quốc
có xu hớng giải quyết tranh chấp của họ thông qua đối thoại và thoả hiệp để tránh
xung đột.
Các hội nghị cấp cao cũng nh các chuyến viếng thăm của những ngời đứng đầu
nhà nớc hay chính phủ ngày càng đóng vai trò trong việc thiết lập mối quan hệ lâu
dài và ổn định.
Cùng với xu thế mở rộng quan hệ, hợp tác lâu dài và ổn định thì xu thế quốc tế
hoá đời sống kinh tế thế giới diễn ra với quy mô ngày càng lớn, ở nhiều cấp độ, nhiều
lĩnh vực nh: Tổ chức sản xuất, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo...
Ngoài ra sự phát triển mang tính bùng nổ của cách mạng khoa học - công nghệ
đã tạo ra một sự đột biến trong tăng trởng kinh tế, đồng thời làm cho cơ cấu nền kinh
tế ở mỗi nớc biến đổi hết sức sâu sắc.
Nền kinh tế thế giới đang chuyển từ lỡng cực sang đa cực, với việc hình thành

yêu cầu tất yếu đặt ra cho tất cả các quốc gia. Và Việt Nam cũng không nằm ngoài
xu thế đó.
II. Quan hệ thơng mại Việt Nam - Hoa Kỳ qua từng thời kỳ
lịch sử.
1. Quan hệ thơng thơng mại Việt Nam - Hoa Kỳ những ngày đầu sơ khai.
Cách đây gần 200 năm, từ những ngày đầu trong lịch sử đất nớc Hoa Kỳ các tầu
buôn đầu tiên của nớc Mỹ độc lập dới thời Tổng thống Hoa Kỳ Andrew Jackson đã
vợt biển đi tìm đối tác giao thơng, và một trong những miền đất dầu tiên mà họ đặt
chân tới trong chuyến đi này là Việt Nam. Ông Edmund Robert George Thomas - với
t cách là đặc phái viên của tổng thống đã trình quốc th lên vua Minh Mạng về việc
thiết lập quan hệ buôn bán giữa hai quốc gia. Tiếc thay vào thời kỳ này, hầu hết các
nớc phong kiến Châu á còn rất dè dặt trong quan hệ ngoại thơng vì thế hiệp định
buôn bán giữa hai bên không đợc thiết lập. Tuy nhiên, đó cũng là dấu mốc đầu tiên
trong lịch sử thơng mại giữa hai quốc gia Việt Nam - Hoa Kỳ.
Trớc thế chiến thứ hai, Hoa Kỳ cha chú ý nhiều tới các nớc thuộc bán đảo
Trung ấn tuy nhiên vào thời kỳ những năm trong chiến tranh thế giới thứ hai Hoa Kỳ
đã trở thành một quốc gia tiêu thụ các sản phẩm xuất khẩu từ Việt Nam quan điểm
của Hoa Kỳ từ sau chiến tranh đã dần thay đổi. Hoa Kỳ đã bắt đầu quan tâm hơn tới
các quốc gia khu vực Châu á này.
2. Thời kỳ chiến tranh từ 1954 đến 1975.
Tất cả những quan điểm chung trong mối quan hệ gần hai trăm năm này đã bị
che phủ bởi một cuộc xung đột thảm khốc mà ngời Mỹ gọi là cuộc chiến tranh Việt
Nam và ngời Việt Nam gọi là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc, kể từ khi ngời
Mỹ nhảy vào cuộc kháng chiến chống Mỹ năm 1954. Suốt cả thời kỳ đau thơng này
đã cớp đi trên 3 triệu sinh mạng chiến sỹ và dân thờngViệt Nam cùng hơn 58.000
lính Mỹ. Dĩ nhiên ngời Mỹ có mặt ở Việt Nam vào thời kỳ này không phải vì mục
đích thơng mại. Họ rót tiền vào Việt Nam để chi viện cho cuộc chiến của mình. kim
ngạch thơng mại hai nớc thời kỳ này do vậy cũng không lớn. Các mặt hàng xuất
khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ chủ yếu gồm: cao su, gỗ, hải sản, đồ gốm với số l-
ợng không đáng kể.

MIA tại Hà Nội (ngày 8-7-1991), phía Hoa Kỳ đã có nhiều nới lỏng cho Việt Nam.
Hoa Kỳ chính thức bỏ việc hạn chế các nhóm du lịch, cựu chiến binh, nhà báo và
doanh nhân tới Việt Nam (17-11-1991). Với những chuyển biến tích cực này, ngày
22-11-1991, thứ trởng ngoại giao Việt Nam Lê Mai và trợ lý ngoại trởng Mỹ
R.Solimim đã tiến hành cuộc đàm phán chính thức đầu tiên về bình thờng hoá Việt
Nam - Hoa Kỳ.
Tới tháng 12-1992, Tổng thống Mỹ G.Bush đã cho phép các công ty Mỹ mở
văn phòng đại diện tại Việt Nam. Một loạt các phái đoàn doanh nghiệp Mỹ đã sang
Việt Nam tìm hiểu và khảo sát thị trờng chuẩn bị cho quan hệ buôn bán mới.
Năm 1993, sau khi lên nắm chính quyền, Tổng thống B. Clinton đã tán thành và
cam kết tiếp tục bản lộ trình của chính quyền tiền nhiệm. Mỹ đã bãi bỏ quyền phủ
quyết đối với các khoản cho vay mới với Việt Nam và ngừng phản đối các nớc giúp
Việt Nam trả nợ quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) vào ngày 2-7-1993. Sự kiện hết sức quan
trọng trong mối quan hệ lịch sử giữa hai nớc cuối cùng cũng đã diễn ra vào ngày
3-2-1994 khi Tổng thống Clinton tuyên bố chính thức bãi bỏ lệnh cấm vận kinh tế
đối với Việt Nam. Các doanh nhân Hoa Kỳ kể từ đây đợc quyền kinh doanh buôn
bán tại Việt Nam. Lịch sử quan hệ ngoại giao và thơng mại giữa hai quốc gia từ đây
bớc sang một chơng mới tốt đẹp hơn.
Song song với những nỗ lực cải thiện quan hệ của hai Chính phủ, hoạt động th-
ơng mại của hai nớc thời kỳ này đã có những bớc tiến ban đầu. Theo số liệu thống kê
của Bộ thơng mại năm 1991, Hoa Kỳ đã xuất sang Việt Nam lợng hàng hoá trị giá
4,485 triệu USD, trong đó hàng xuất khẩu từ thiện là 3,7 triệu USD, thiết bị truyền
thông và camera là 76.000 USD, thiết bị sản xuất khí hoá lỏng và máy pháp điện là
16.000 USD. Năm 1993 kim ngạnh nhập khẩu từ Hoa Kỳ của Việt Nam đã đạt đợc
6,9 triệu USD trong đó chủ yếu là phân bón (2,7triệu USD), hàng xuất khẩu từ thiện
(hơn 2 triệu USD), các loại thuốc men (76.000 USD) thiết bị y tế (190.000 USD)
[16]. ( xem bảng 1).
Bảng 1: Tổng kim ngạnh xuất nhập khẩu của Việt Nam - Hoa Kỳ (1986-1993)
Đơn vị: triệu USD
Năm 1986 1987 1988 1989 1990 1991 1992 1993

định, cam kết khuyến khích và bảo hộ đầu t trực tiếp từ nớc ngoài hơn nữa.
Ngày 10-12-2001, Hiệp Định Thơng Mại song phơng có ý nghĩa vô cùng quan
trọng trong quan hệ kinh tế giữa hai nớc đã có hiệu lực khi đợc phê chuẩn đầy đủ của
Quốc hội hai nớc Hoa Kỳ và Việt Nam. Việc ký kết Hiệp định thơng mại này sẽ giúp
hàng hoá Việt Nam xuất khẩu vào Hoa Kỳ sẽ đợc giảm thuế xuất rất nhiều, đồng thời
cũng kích thích buôn bán giữa hai quốc gia và tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp
Hoa Kỳ đầu t vào Việt Nam.
Về kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nớc, trong thời gian đầu khi lệnh trừng
phạt kinh tế đợc bãi bỏ và dù còn phải chịu mức thuế xuất cao nhng hàng hoá xuất
khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đã tăng lên nhanh chóng, tăng hơn 10 lần trong
vòng 5 năm, từ 50 triệu USD năm 1994 lên 553,4 triệu USD năm 1998. Sau khi Hiệp
định có hiệu lực, do Việt Nam đợc hởng ngay NTR của Hoa Kỳ nên kim ngạnh xuất
khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đã tăng lên ở mức kỷ lục liên tiếp khoảng 130%
trong vòng 2 năm 2002 - 2003. Năm 2004, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang
Hoa Kỳ đạt khoảng 5,2 tỷ USD tăng 15% so với năm 2003. Ước tính xuất khẩu của
Việt Nam sang Hoa Kỳ năm 2005 đạt 6,2 tỷ USD[17].
Ngày 11-3-1998, Tổng thống Mỹ B.Clinton tuyên bố áp dụng tu chính án
JackSon-Vanik
1
cho Việt Nam, kể từ đó tới nay năm nào Mỹ cũng áp dụng tu chính
án này đối với Việt Nam và với số phiếu năm sau cũng cao hơn năm trớc đặc biệt là
năm 2003 Quốc hội Mỹ đã không còn đa tu chính án ra để xem xét đối với Việt Nam
nữa. Mặc dù tu chính án xem xét chỉ là hình thức chiếu lệ song điều đó cũng chứng
tỏ rằng ngay đến những thủ tục nh vậy cũng không còn hợp thời nữa. Quan hệ Việt
Nam - Hoa Kỳ đã đi vào thực chất và có chiều sâu.
2
Nh vậy trải qua mối quan hệ lịch sử gần 200 năm giữa hai quốc gia Việt Nam
và Hoa Kỳ đã có nhiều giai đoạn thăng trầm sảy ra, song cho tới thời điểm này có thể
nói rằng mối quan hệ đó đặc biệt là mối quan hệ thơng mại đang diễn ra theo chiều
hớng rất tốt đẹp. Hai nớc đã thực sự nỗ lực cùng nhau vơn tới mục tiêu lâu dài là đem

kiện tiếp thu kinh nghiệm quản lý kinh doanh của Mỹ, các kinh nghiệm trong buôn
bán. Đó là điều kiện để cho các doanh nghiệp Việt Nam học hỏi phơng thức kinh
doanh kiểu Mỹ. Việc Việt Nam và Mỹ nối lại quan hệ với nhau không chỉ có lợi cho
Việt Nam mà Mỹ cũng có một lợi ích đáng kể. Mỹ nhận thấy rõ đợc vai trò, vị trí của
thị trờng Việt Nam ở khu vực Châu á và hạn hẹp hơn là khu vực Đông Nam á. Bên
cạnh đó, Mỹ cũng thấy đợc những lợi ích khi quan hệ với Việt Nam thông qua vai trò
và vị trí của Việt Nam.
Việt Nam nằm ở khu vực Đông Nam á và cũng là nớc thuộc khu vực Châu -á -
Thái Bình Dơng - Là khu vực kinh tế năng động của thế giới. Nơi đợc đánh giá là có
những nớc có tiềm năng phát triển rất lớn nh: Singapo, Inđônexia, Thái Lan... và
trong tơng lai không xa là Việt Nam. Việt Nam có một vị trí địa lý rất thuận lợi cho
phát triển kinh tế lâu dài, Việt Nam giáp biển Đông rộng lớn có nhiều tiềm năng kinh
tế biển, dầu mỏ ở thềm lục địa... Đây là một trong những điều kiện thuận lợi để cho
các công ty Mỹ vào Việt Nam .
Hơn nữa các bạn hàng truyền thống của Việt Nam nh: Nga, và các nớc Xã Hội
Chủ Nghĩa Đông Âu trớc đây cũng đang muốn cải thiện kinh tế - thơng mại của
mình ở đây. Điều này có ảnh hởng đến lợi ích của Mỹ trong khu vực này, đòi hỏi Mỹ
phải đẩy mạnh phát triển quan hệ với Việt Nam. Tạo điều kiện cho hàng hoá Mỹ vào
Việt Nam có khả năng cạnh tranh với hàng hoá của các nớc khác và rộng hơn là tăng
tính cạnh tranh của kinh tế Mỹ với kinh tế các nớc. Từ đó nhằm củng cố vai trò kinh
tế của Mỹ ở khu vực này.
Chơng II
Thực trạng quan hệ thơng mại Việt Nam-Hoa Kỳ sau 10
năm bình thờng hoá.
I. Khái quát chung luật thơng mại Mỹ.
Luật thơng mại của Mỹ là sự thể hiện tập chung của chính sách thơng mại Mỹ
vì thơng mại gắn liền với chính trị, là một bộ phận của hệ thống chính trị Mỹ. Về mặt
lịch sử, công cụ chủ yếu của chính sách thơng mại đã và đang đợc chính phủ Mỹ sử
dụng là thuế quan. Nhng những năm gần đây, do quá trình tự do hoá thơng mại đang
ngày càng đợc thúc đẩy, nó đang đợc thay thế nhiều hơn bởi các hàng rào phi thuế

MFN phải đáp ứng hai yêu cầu cơ bản:
Tuân thủ các điều khoản Jackson - Vanik của luật thơng mại năm 1974, trong
đó yêu cầu tổng thống phải xác định là quốc gia đó không từ chối hoặc ngăn cản
quyền hoặc cơ hội của công dân nớc đó đợc di c.
Đã ký hiệp định thơng mại song phơng với Mỹ, một số quốc gia phải đợc tổng
thống Mỹ bãi nại hoặc gia hạn bãi nại hàng năm để tiếp tục chế độ MFN của họ. Tuy
nhiên, cũng có những quốc gia có chế độ buôn bán MFN những hoạt động thơng mại
với các nớc đó lại bị cấm vận bởi các một số luật khác của Mỹ nh: Iran, Iraq, Lybia.
Luật Jackson - Vanik đợc quốc hội Mỹ đa ra nhằm ngăn cấm việc dành quy chế
MFN cho các nớc xã hội chủ nghĩa và không cho phép các quốc gia này tham gia
vào các chơng trình của chính phủ Mỹ, trong đó bao gồm các hoạt động cung cấp
tín dụng, bảo đảm tín dụng và bảo đảm đầu t dới mọi hình thức, trực tiếp hay gián
tiếp. Tuy nhiên, trong một số trờng hợp cụ thể, điều luật này cho phép các nớc nói
trên đợc hởng quy chế MFN và tiếp cận các chơng trình hỗ trợ tài chính của Chính
phủ Mỹ nếu đáp ứng đợc một số điều kiện do phía Mỹ đặt ra. Điều luật này đợc áp
dụng đối với Việt Nam từ hơn 20 năm qua, theo đó chính phủ Mỹ không đợc dành
quy chế MFN cho Việt Nam. Trong trờng hợp hai nớc ký hiệp định thơng mại song
phơng, phía Mỹ cũng cha đợc triển khai hiệp định đó. Điều luật này cũng ngăn cấm
ngân hàng Eximbank cấp tín dụng cho các công ty Mỹ xuất khẩu hàng hoá và dịch
vụ sang Việt Nam hoặc tài trợ trực tiếp cho Việt Nam để mua hàng hoá của Mỹ. Nó
cũng không cho phép OPIC của Mỹ thực hiện dịch vụ bảo hiểm và hỗ trợ đầu t cho
các công ty Mỹ làm ăn tại Việt Nam.
Chế độ u đãi thuế quan phổ cập (GSP) là một chơng trình đơn phơng đặc biệt
của Mỹ miễn thuế quan cho hơn 4450 sản phẩm từ khoảng 150 nớc và lãnh thổ đang
phát triển (nhiều mặt hàng nhạy cảm đã bị loại khỏi danh mục này) [15]. Mặc dù
mục tiêu ban đầu của chơng trình này đợc dựng nên cũng giống nh các quốc gia công
nghiệp khác là để nhằm giúp đỡ các nớc đang phát triển thúc đẩy xuất khẩu và phát
triển kinh tế, nhng thực ra nó có sự biến đổi rất lớn với từng danh mục sản phẩm, với
các nớc hởng lợi cũng nh những biện pháp bảo hộ thị trờng nội địa và việc làm ở nớc
cho u đãi. Hiện tại, hầu nh tất cả các nớc đang phát triển trừ Việt Nam, Trung Quốc,

những hoạt động buôn bán bất bình đẳng (ví dụ: những nớc mà Mỹ cho là vi phạm
quyền sở hữu trí tuệ hoặc không chịu mở cửa thị trờng tơng ứng cho hàng hoá Mỹ).
Ngoài ra, Mỹ cũng áp dụng những quy định bảo vệ môi trờng khá khắt khe và các
doanh nghiệp khi xuất hàng sang Mỹ cần lu ý đến luật luật trách nhiệm sản phẩm
của Mỹ. Khi doanh nghiệp bán hoặc bán chuyển tiếp sản phẩm của mình đều phải
chịu trách nhiệm về những thiệt hại do sai sót cuả sản phẩm, phải bồi thờng và bị
phạt. Một số sản phẩm có tính rủi ro cao nh thực phẩm, mỹ phẩm, dợc phẩm có thể
dẫn đến trách nhiệm sản phẩm vợt quá giá trị của sản phẩm nên cần tham gia mua
bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm để giảm thiểu hệ số rủi ro.
Một điểm phức tạp nữa là bên cạnh các bộ luật của chính quyền Trung ơng, tất
cả các bang của Mỹ đều có những quy định riêng của họ. Tổng cộng tại 50 bang của
nớc Mỹ có tới trên 2700 chính quyền địa phơng các cấp và các cơ quan đều có những
quy định riêng, đặc biệt là yêu cầu phải có giấy chứng nhận an toàn với tất cả các
loại sản phẩm đợc bán hoặc đợc lắp đặt tại địa phơng của họ. Các yêu cầu này thờng
không đợc công bố công khai. Đáng chú ý nhất là nhiều bang của Mỹ còn áp đặt
những tiêu chuẩn về bảo hộ môi trờng vợt quá rất nhiều so với quy định của chính
quyền Liên Bang. Các sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm cũng thờng gặp phải
nhiều quy định cụ thể của chính quyền các bang. Trên thực tế, có thể coi là những trở
ngại đối với thơng mại và đầu t nớc ngoài.
Sự khắt khe, nghiêm ngặt và phức tạp của hệ thống các luật thơng mại Mỹ là
một khó khăn trong quan hệ kinh tế - thơng mại Việt - Mỹ. Các doanh nghiệp Việt
Nam cần phải nắm đợc hệ thống luật của Mỹ thì mới có thể phát triển đợc quan hệ
làm ăn buôn bán với các doanh nghiệp Hoa Kỳ, từng bớc thâm nhập vào thị trờng
Hoa Kỳ.
II. Tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa trong quan hệ th-
ơng mại Việt Nam Hoa kỳ.
Ngày 12/7/1995, Mỹ đã tuyên bố bình thờng hóa quan hệ với Việt Nam và hai
nớc đã chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 6/8/1995. Việc bình thờng
hóa quan hệ thơng mại là cơ sở cho chúng ta thấy một bớc phát triển đáng kể trong
trao đổi thơng mại giữa hai nớc. Nh bảng 2 cho thấy kim ngạch buôn bán trong năm

7
4.554,
7
5.237,9
Nhập khẩu
172,
2
252,
9
616,
1
277,
8
274,
2
277,
3
330,5 393,8 551,9
1.324,
4
1.125,7
Tổng kim
ngạch
222,
7
451,
9
935,
1
666,

Đơn vị: triệu USD
Mặt hàng
2000 2001 2002 2003
giá trị
tốc độ
tăng %
Giá trị
tốc độ
tăng %
giá trị
tốc độ
tăng %
giá trị
tốc độ
tăng %
Thuỷ,hải sản 304,36 - 482,42 58,50 673,75 39,66 767,60 13,93
Gạo 10,57 - 7,15 -32,35 5,69 -20,42 54,24 853,25
Cà phê 69,92 - 60,01 -14,17 39,51 -34,16 76,50 96,62
Cao su 1,56 - 2,13 36,54 10,10 374,18 62,05 514,35
Hạt tiêu 7,08 - 5,41 -23,58 16,82 210,91 33,00 96,62
Hạt điều 44,70 - 44,07 -1,40 71,51 62,26 16,10 -77,48
chè các loại 0,37 - 0,79 113,43 1,74 120,25 20,00 1049,42
Dầu thô 91,37 - 225,16 146,43 147,12 -34,66 197,00 33,90
Dệt may 49,57 - 47,46 -4,26 975,77 1955,98 1.880 92,67
Giày dép các
loại
87,79 - 114,3 30,18 196,55 72,07 252,00 28,21
Nguồn: Tổng cục hải quan Việt Nam, Việt Nam Economic Reviiew, số 11,
năm 2003
Bảng 3 cho thấy thủy hải sản là một trong những mặt hàng chủ lực trong xuất

ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam đã tăng trởng mạnh với tốc độ tăng trởng t-
ơng đối bền vững qua các năm, mặt khác do sự chênh lệch giữa thuế xuất NTR và
thuế suất phi NTR không lớn, bên cạnh đó phần lớn các doanh nghiệp sản xuất giày
dép của Việt Nam có quy mô nhỏ, hoạt động chủ yếu theo phơng thức gia công và
phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu.
Mặt hàng dầu thô cũng đợc coi trọng là mặt hàng xuất khẩu quan trọng. Năm
2001 kim ngạch xuất khẩu dầu thô Việt Nam sang thị trờng Hoa Kỳ đạt 225,16 triệu
USD tăng so với năm 2000 là 133,79 triệu USD tức 146,43 triệu USD. Sang năm
2002 kim ngạch xuất khẩu đạt 147,12 triệu USD giảm so với năm 2001 là 78,04 triệu
USD tức 34,66%. Năm 2003 kim ngạch xuất khẩu dầu thô của Việt Nam vào thị tr-
ờng Hòa Kỳ đạt 197,00 triệu USD tăng so với năm 2002 là 49,88 triệu USD tức
33,90%.
Nh vậy dầu thô năm 2002 giảm vì do có sự giảm sút về nhu cầu của thị trờng
Hoa Kỳ và những biến động bất lợi khác, nên dầu thô năm 2002 giảm so với năm
2001. Nhng đến năm 2003 giá trị dầu thô lại tăng, do trong năm 2003 chính phủ Hoa
Kỳ đã tiến hành cuộc chiến tranh Irắc nên nhu cầu về dầu thô của Hoa Kỳ tăng cao
[26].
Trong nhóm hàng nông sản thì cà phê, hạt điều, hạt tiêu và cao su là những mặt
hàng xuất khẩu chính sang thị trờng Hoa Kỳ từ năm 2002 thị trờng nông sản thế giới
đã có dấu hiệu khởi sắc hơn đối với các nớc xuất khẩu với việc giá các mặt hàng nh
cà phê, hạt điều, hạt tiêu và cao su, chè đã tăng dần trở lại sau thời kỳ sụt giảm mạnh
vào các năm 2000 và 2001. Mặc dù giá cà phê đã tăng tới 50% nhng xuất khẩu và cà
phê của Việt Nam sang Hoa Kỳ năm 2001 đạt 60,01 triệu USD giảm so với năm
2000 là 9,91 triệu USD tức 14,17% năm 2002 giá trị cà phê đạt 39,51 triệu USD. Hạt
tiêu giá trị sản lợng năm 2001 là 5,41 triệu USD giảm 1,67% triệu USD tức -
23,58%, hạt điều năm 2001 đạt 44,07 triệu USD giảm so với năm 2000 tức - 1,40%
nhờ giá cao hơn, đồng thời do các nớc sản xuất chính khác giảm diện tích trồng và
sản lợng vì bị thua lỗ ở các mùa vụ trớc. Một số mặt hàng khác đạt tốc độ tăng trởng
xuất khẩu rất cao nh cao su tự nhiên năm 2001 là 36,54% so với năm 2000, năm
2002 là 374,18% so với năm 2001, năm 2003 là 514,35% so với năm 2002 nhng mức

động gián tiếp của hiệp định trong việc tạo ra sự quan tâm của các nhà phân phối
Hoa Kỳ đến hàng hóa Việt Nam, cũng nh tạo áp lực và động lực đối với các doanh
nghiệp Việt Nam trong việc thâm nhập thị trờng Hoa Kỳ.
Một yếu tố có đóng góp không nhỏ cho sự khởi sắc của xuất khẩu hàng hóa Việt
Nam sang Hoa Kỳ là nỗ lực của nhiều doanh nghiệp Việt Nam trong việc nhanh
chóng thích ứng với điều kiện kinh doanh mới, tích cực đối mới thiết bị công nghệ,
đáp ứng các tiêu chuẩn chất lợng và an toàn vệ sinh theo yêu cầu của quốc tế và thị
trờng Hoa Kỳ, tăng cờng xúc tiến thơng mại và phát triển thị trờng, xây dựng và
quảng bá thơng hiệu sản phẩm, mạnh dạn đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trờng Hoa
Kỳ.
Bên cạnh những thành công đó thì xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Hoa
Kỳ còn bộc lộ nhiều mặt yếu kém. Có nhiều mặt hàng xuất khẩu sang Hoa Kỳ còn
thấp, hoặc cha xứng với những thuận lợi do hiệp định tạo ra một cách trực tiếp hoặc
gián tiếp. Chất lợng và mẫu mã nhiều mặt hàng cha phù hợp với yêu cầu và thị hiếu
của thị trờng Hoa Kỳ. Giá cả nhiều mặt hàng còn cao hơn nhiều so với giá của các
đối thủ cạnh tranh, nhât là Trung Quốc [24].
2. Tình hình nhập khẩu của Việt Nam từ thị trờng Hoa Kỳ.
Nhập khẩu của Việt Nam từ Hoa Kỳ tăng liên tục cùng với sự tăng trởng nhanh
của nền kinh tế, định hớng nhập khẩu của Việt Nam là phù hợp với quy mô và khả
năng xuất khẩu nhằm đáp ứng mục tiêu đổi mới, hiện đại hóa thiết bị, công nghệ
bằng cách chuyển nhanh sang nhập khẩu thiết bị kỹ thuật hiện đại, và một số mặt
hàng khác. Năm 1994 chỉ có một số nhóm hàng của Mỹ đợc phép xuất sang Việt
Nam với kim ngạch nhập khẩu là 50,5 triệu USD, thì ngay sau lệnh cấm vận đợc bãi

Trích đoạn Triển vọng phát triển quan hệ thơng mại giữa Việt Nam – Hoa Kỳ Nhóm giải pháp về phía các doanh nghiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status