đề tài “haecceitas” (sở ngã tính) và “dasein” (hiện tính thể) trong quan niệm của j.d.scotus và m.heidegger - Pdf 12


Nghiên cứu triết học

Đề tài: " “HAECCEITAS” (SỞ NGÃ TÍNH)
VÀ “DASEIN” (HIỆN TÍNH THỂ) TRONG
QUAN NIỆM CỦA J.D.SCOTUS VÀ
M.HEIDEGGER "
“HAECCEITAS” (SỞ NGÃ TÍNH) VÀ “DASEIN” (HIỆN TÍNH THỂ)
TRONG QUAN NIỆM CỦA J.D.SCOTUS VÀ M.HEIDEGGER

ALEXIS TRẦN ĐỨC HẢI (*)
Nghiên cứu so sánh hai khái niệm “Haecceitas” (Sở ngã tính) và “Dasein”
(Hiện tính thể) trong quan niệm của J.D.Scotus và M.Heidegger, làm rõ sự
tương đồng và khác biệt trong quan niệm của các ông về hai khái niệm này,
trong bài viết này, tác giả đã cho thấy, cả D.Scotus lẫn M.Heidegger đều muốn
nhấn mạnh cá nhân tính, độc nhất tính, tính cao cả và phẩm giá con người.

học của hai người: “Dasein” và “Haecceitas”. Qua hai thuật ngữ này, Scotus
và Heidegger đều muốn nhấn mạnh đến cá nhân tính, độc nhất tính, tính cao cả
và phẩm giá con người. Tuy nhiên, do hai bối cảnh lịch sử và văn hóa rất khác
xa nhau, “nhất là do khái niệm con người có về chính bản thân mình”(8) có thể
đã không xuất hiện một số khác biệt trong quan điểm tác động lên thái độ hiện
sinh của hai vị trong cuộc sống? Sau đây, tôi sẽ lần lượt trình bày Haecceitas,
Dasein của Scotus và Heidegger để sau đó, so sánh hai khái niệm này trên một
số điểm chính.
1. Haecceitas(9)
1.1. Định nghĩa
Xét về từ nguyên, từ Latinh này – một từ ngữ của triết học Trung cổ, do Duns
Scotus đặt ra – thường được dịch là “this-ness” (“sở ngã tính”, từ chữ haec,
nghĩa là "cái này"), đối lập với chữ “quidditas”, "whatness" (“yếu tính”, từ chữ
quid, có nghĩa là "cái gì") để nói lên các phẩm chất riêng, đặc tính hoặc đặc
điểm của một vật và làm cho vật ấy trở nên một vật đặc biệt, nghĩa là lý do tại
sao cá nhân này là cá nhân này chứ không thể là cá nhân khác(10). “Thisness”
(sở ngã tính) là yếu tố quyết định, riêng biệt cho cá nhân ấy, làm cho cá nhân
ấy vốn là cá nhân hóa thành một người, chẳng hạn biết người ấy chắc chắn là
Socrates, chứ không thể là Plato, hoặc Aristotle. Chẳng hạn, Socrate-tính có
thể diễn tả “haecceity” của Socrates; Platon-tính là “haecceity” của Plato, v.v
Nói tóm lại, đó là tính độc nhất, sự hoàn hảo duy nhất, tính độc đáo(11) tạo
cho mỗi người và mỗi vật có một giá trị nội tại và miên viễn. Triết gia Gabriel
Marcel có lý khi nói: “Điều hiện hữu và đáng kể, đó là cá nhân này, là thực tại
cá nhân tôi”(12). Allan B. Wolter tóm lược về “chức năng hai mặt của
“Haecceity” (Sở ngã tính) hoặc “Thisness” (Sở ngã) như sau: (1) nó làm cho
mỗi cá nhân là độc nhất và không thể có bản sao, ngay cả bởi Thiên Chúa toàn
năng; và (2) nó phân biệt tận gốc và tận cùng cá nhân này với cá nhân khác, dù
các cá nhân này khác biệt hoặc giống nhau trong chủng loại”(13).
1.2. Tính chất đa chiều của Haecceitas (Sở ngã tính)
1.2.1. Di sản linh đạo Phan Sinh

loại”(19).
1.2.2. Sự độc nhất bí nhiệm
Tuy nhiên, nói chung, haecceitas được hiểu một cách sống động nhất trong
mối quan hệ giữa con người với con người. Nó liên can đến mỗi cá nhân, nhắc
đến thực tại sau cùng của mỗi hữu thể(20) vốn chỉ được một mình Chúa biết rõ
mà thôi. “Bằng cách loại bỏ thuyết yếu tính của Platon, Scotus đặt bước đầu
cho việc cá nhân hóa thực sự, mà nguyên lý không gì khác hơn là ultima
realitas entis(21) (thực tại sau cùng của hữu thể); và các loài thụ tạo tìm thấy
ở đây sự biện minh đầy đủ của mình”(22). Mỗi cá nhân là một hữu thể và vốn
dĩ đã phong phú hơn yếu tính riêng của mình. Như vậy, Haecceitas là sự hoàn
hảo sau cùng của một vật, một sự hoàn hảo cần thiết cho sự hiện hữu cụ thể
của một vật. Cá nhân chỉ hiện hữu trong ý nghĩa đầy đủ của hạn từ như thế, bởi
chỉ một mình nó là hữu thể đích thực(23), có một “nỗi cô đơn tột cùng”(24) và
do vậy, nó tạo nên sự bí nhiệm của căn tính mỗi cá nhân. Ingham đã diễn tả
tuyệt vời căn tính duy nhất bí nhiệm này của mỗi con người qua mọi thời gian,
như sau: “Haecceitas nêu ra được điều không thể diễn tả trong mỗi hữu thể.
Tính thánh thiêng của mỗi người, và cả của mỗi hữu thể, được diễn tả một
cách triết học trong từ ngữ Latinh này. Theo Scotus, trật tự được tạo thành…,
được phú cho một ánh sáng nội tâm, và ánh sáng này chiếu rọi ra ngoài từ tận
nguồn mạch bên trong của nó… Nguồn ánh sáng này đã được Đấng Tạo hoá
ban cho mỗi hữu thể. Mỗi hữu thể trong trật tự sáng tạo đã sở hữu một phẩm
giá nội tại; phẩm giá này được Thiên Chúa yêu thương ban tặng cùng với một
sự thánh thiện vượt quá khả năng hiểu biết của chúng ta”(25).
Việc nhấn mạnh vào tính cao cả và phẩm giá của con người - cái vốn làm
thành chiều kích hiện sinh của học thuyết Scotus đã giúp Scotus đồng thời
nhấn mạnh cả sức mạnh tự quyết nội tại (ab intrinseco) của ý chí đối với sự
thiện được khám phá - và điều này được ý chí thể hiện một cách tự tại -, để rồi,
sau đó ông mới nhấn mạnh đến sự tự do và tình yêu(26). Sự tự do không phải
là cái gì khác hơn ngoài lý do mà nhờ đó, sức mạnh ý chí nổi trội trong phẩm
giá, là điều kiện sine qua non (không thể không có) của ý chí. Thánh Âu Tinh

“Da-sein” theo nghĩa đen là “hiện hữu ở đó” (da: ở đó; sein: hiện hữu). Tuy
vậy, trong quá trình phân tích và trình bày tư tưởng của Heidegger, từ ngữ này
đã đón nhận nhiều tính chất phong phú nói lên cách nhìn cơ bản của Heidegger
về ý nghĩa của sự hiện hữu con người và vốn đã được ông diễn tả một cách
xuất sắc trong Being and Time (Thể tính và Thời tính, 1927)
“Chữ “Da-” hoặc “ở đó” trong từ ngữ Dasein có nghĩa rằng, nó không phải là
một thực thể khép kín mà là thực thể cởi mở, một cái gì đó “ex” hoặc bên
ngoài với chính nó, để làm cho “Dasein” và “hiện hữu” hướng về cùng một
hiện tượng. Dasein là nơi mà các hữu thể gặp gỡ. Nó cũng có nghĩa là “sự hiện
hữu ở đó” của Dasein cho chính nó trong sự tự nhận thức. Tuy nhiên, sự tự
nhận thức này không phải là sự tự tỏ bày đời sống tinh thần…, mà là sự nhận
thức tình cảm và thực tiễn được chính bản thân tạm thời khai mở, liên can đến
các khả năng riêng của nó, các chọn lựa, cũng như các bất khả thể, các dự
phóng và nỗi lo sợ, các hoàn cảnh, quá khứ và các giới hạn; tất cả mọi hình
thái nhận thức này đều không thể quan niệm được ngoài đặc điểm thời tính của
Dasein”(31).
Nói tóm lại, Da là “mở” (nghĩa là, mở ra cho mọi hình thái hiện hữu, hoặc
“là”); Dasein là “sự mở ra”, nghĩa là hữu-thể-mở ra, hữu-thể-mở, hoặc “sự
kiện chúng-ta-mở-ra”.
Theo Heidegger, thời tính và bối cảnh lịch sử là những nét chính yếu của sự
hiện hữu thật sự của Dasein, thế giới của sinh hoạt hàng ngày. Như vậy,
Dasein trong cấu trúc cơ bản của nó là “tại thế” (Weltlich), “tại-thể-tính” (In-
der-Welt-Sein). Tình trạng cơ bản này của Dasein đã được Heidegger quan
niệm như một hiện tượng đơn vị nhất thống, bởi Dasein không có lợi thế để từ
đó, nó có thể nhìn nhận thế giới như một vật thể và đồng thời xem nó như một
vật thể khác: nó là tại-thể-tính(32). Tom Nenon đã giải thích rõ hơn tính cách
cơ bản của “tại-thể-tính” như sau: “Vì bối cảnh này hoặc “thế giới” này bao
gồm trước hết một nhóm các cách thức mà Dasein có thể tự ứng xử (thậm chí
thụ động theo nghĩa có cái gì đó xảy ra trong nó), thứ đến là sự tự hiểu chính
mình của Dasein - nghĩa là sự hiểu biết về sự hiện hữu của nó, xét về các khả

hữu thể duy nhất mà sự hiện hữu có đặc tính là cởi mở, hướng về hữu thể khác.
Những con người, nam cũng như nữ, cũng có thể quay mặt lại với sự hiện diện
của mình, quên cả bản thân mình và tự đánh mất tính nhân bản của mình. Vì
vậy, thái độ lưu tâm là điều cần thiết để phù hợp với cấu trúc thời tính của “tại-
thể-tính” của Dasein, nghĩa là hiện tượng của các dự phóng có mục đích và
hướng về tương lai mà Heidegger mô tả như là “dự phóng bị ném đi”. Nói
đúng hơn, trách nhiệm của chúng ta trong các dự phóng cần được hiểu là “sự
hàm chứa trong một mạng lưới rộng lớn hơn về các mối tương quan thực tiễn,
vốn đã chỉ định công cụ cho bối cảnh, công tác, mục tiêu và cho điểm quan
trọng cuối cùng của việc chúng ta đang làm mà Heidegger gọi là “vì lợi ích của
tất cả”(35). Trái lại, một sự hiện hữu không trung thực sẽ diễn ra khi “Dasein
không lấy trách nhiệm về việc công nhận chính mình như nền tảng sau cùng
của ý nghĩa, mà chỉ biết thích ứng với bất kỳ hoàn cảnh nào đã diễn ra trong
lịch sử và chấp nhận chúng một cách chung chung”(36). Bằng cách này, khi
một người chấp nhận sự sa ngã và hữu hạn tính của đời người, nghĩa là khi anh
ta quyết định chấp nhận toàn bộ cuộc đời của mình, chấp nhận cuộc sống của
mình đang đối diện với cái chết, đối diện với sự vô nghĩa của hiện hữu, người
đó đang chứng tỏ mình sở hữu một sự hiện hữu thực sự trung thực. Khi đó, cái
chết của tôi là biến cố duy nhất trong đời tôi, độc nhất trong đời tôi: nó là
eigenlich (“trung thực, thật sự”), bởi vì nó là eigen (“của riêng tôi”). Heidegger
kiên trì lập luận rằng, chúng ta không bao giờ có thể hiểu được sự chết qua cái
chết của người khác và ông dùng sự việc này để khẳng định rằng, cái chết vẫn
luôn là một chuyện có tính cá nhân. Trong nỗi xao xuyến, lo âu (Angst), tôi dự
báo được cái chết sắp tới; nhờ việc "định hướng về sự chết", chúng ta có thể
nhìn thấy quá khứ của mình như của riêng ta và có khả năng, lần đầu tiên, sở
hữu nó như của riêng ta. Nỗi lo sợ có thể đem lại cho con người sự tự do riêng
có cho mình, biến các phi lý ngoại lai của sự kiện ương ngạnh này thành một
khả năng chính yếu cho sự hiện hữu của mình - đó gọi là “tính-thể-qui-tử”
(Sein zum Tode), là “lối thoát khỏi mọi ảo tưởng của “chúng” trong sự tự do
đam mê, tự tin và âu lo hướng về cái chết”(37). (Xem tiếp >>>)

tự ngẫu nhiên; nó hiện hữu để rồi ra đi, bởi không có gì liên can đến nó yêu
cầu nó phải hiện hữu”(42). Phát hiện này làm cho con người lo âu, xao
xuyến, khiếp hãi, bởi vào cuối đời mình, con người phải đối diện với hư vô!
Quan điểm này đã có ảnh hưởng lớn đối với các triết gia hiện sinh thời hiện
đại (Albert Camus, Simone de Beauvoir, nhất là Jean-Paul Sartre với L'Être
et le Néant (Tồn tại và hư vô) ), những người đã trải nghiệm không chỉ
phẩm giá con người, sự tự do, mà còn cảm nhận sự cô đơn của hoàn cảnh
con người, tính không phương hướng của tự do, sự hủy diệt khủng khiếp tình
yêu, sự hư không và phi lý của hiện hữu, như triết gia Schopenhauer đã mô
tả một cách chí lý: “Đúng là sự khác biệt nằm giữa sự bắt đầu và sự kết thúc
của chúng ta! Chúng ta khởi đầu từ sự điên rồ, ham muốn nhục dục và đam
mê lạc thú, chúng ta kết thúc trong sự tiêu tan mọi phần cơ thể mình và mùi
hôi thối của thây ma. Và, chặng đường từ phần này tới phần kia là toàn đi
[…] xuống dốc một cách đều đặn”(43).
Với Duns Scotus, do luôn ca ngợi vẻ đẹp của trật tự ngẫu nhiên như một
tặng phẩm của tình yêu thần linh, nên ông không chỉ yêu thích giá trị tuyệt
đối và không thể thay thế của mỗi sở ngã tính (haecceitas), mà còn khám
phá sự mầu nhiệm của con người trong “ultima solitudo” (nỗi cô đơn tột
cùng của mình)(44). Thật ra, mỗi người đều phải sống cuộc sống riêng của
mình, không ai sống thay cho ai được, dù là chồng sống thay cho vợ, hay là
mẹ sống thay cho con yêu dấu chăng nữa… Đây là sự sở hữu bản thân trong
tính duy nhất độc đáo, riêng có của mình(45). Theo Scotus, “hữu thể con
người là một người sống trong thế giới tự nhiên khô cứng và hợp pháp trong
nỗi cô đơn tột cùng của mình”(46) và với nỗi cô đơn này, người ta có thể
cảm nhận sâu sắc hơn khi đối diện với sự chết: nó là của riêng mình (eigen),
như Heidegger nói thật có lý. Tuy nhiên, như chúng ta đã nói, nỗi cô đơn tột
cùng này không là cô độc, không là cô lập; không có gì phải sợ sự chết. Là
môn đệ của thánh Phanxicô Átxidi, Scotus đã đón nhận “Chị Chết” như một
phần cuộc đời con người và như ngưỡng cửa đưa vào cuộc sống mới cái
vượt sức tưởng tượng của chúng ta. “Chúng ta đều chào đón lời Chị ca hát

sự việc có quá nhiều triết gia hiện sinh tách rời giá trị được gán cho bản thể
và cho các hoạt động suy đoán của tư tưởng, chỉ biết nhìn nhận tính năng
động của loại tự do không chấp nhận có luật pháp, thì ý tưởng của họ về sự
tự sáng tạo, khi nó không là hỗn độn, vẫn chắn chắn là chưa trọn vẹn”(52).
Thật ra, Heidegger đã giải thích từ ngữ phusis (thiên nhiên) của người Hy
Lạp Cổ đại là “sự trỗi dậy tự đơm bông”, là “sự mở ra, sự bộc lộ”(53); trái
lại, ở thời Trung cổ, Kitô giáo quan niệm thế giới như ens creatum (hữu thể
được tạo thành), một thụ tạo đã tách ra khỏi vực thẳm nhờ vật chất của
nó(54). Đây là một quan điểm rất khác biệt với siêu hình học của thời kỳ
hiện đại, vốn đã làm cho chúng ta nhìn nhận thế giới như một hình ảnh
khách quan đối diện với một chủ thể suy tư. Điều này nói lên rằng, quan
điểm triết học của Scotus là khung sườn cho suy tư thần học của ông. “Nếu
đây là một thế giới được tạo thành và thêm nữa, nếu nó được tạo thành từ hư
vô, thì thế giới này hoàn toàn dựa vào bản tính của Thiên Chúa - Đấng Tạo
hoá quảng đại và yêu thương”(55). “Hiện hữu” trong thế giới này là quà tặng
của Thiên Chúa; nó “có mặt”, “xuất hiện” trong thế giới này là để đi ra khỏi
nỗi cô đơn tột cùng nhằm đạt đến sự thể hiện trọn vẹn chính mình”. Với tư
cách một cá nhân, “con người đi tìm kiếm siêu việt tính thật sự, bởi chỉ có
siêu việt tính mới cho thấy sự tương tác trên bình diện hữu thể giữa các hữu
thể với hữu thể vô cùng”(56). Nói cách khác, “trong khi đối với các tín đồ,
Thiên Chúa là một mầu nhiệm không thể hiểu thấu, một vực đen thẳm, mà
chỉ với lòng tín thác bền bỉ, họ mới cảm nhận được ở trong đó một bàn tay
yêu thương khôn lường. Nhưng, đối với Heidegger thì không có gì như thế,
bởi mầu nhiệm aletheia (chân lý khai mở) đối với ông không là mầu nhiệm
của một con người mà chúng ta không thể đạt được đến chiều sâu thẳm, mà
là trò chơi bí nhiệm của sự hiện diện và vắng mặt, của hữu thể xuất hiện như
một hiện diện cho chúng ta. Aletheia (Chân lý khai mở) của Heidegger
không phải là Thiên Chúa, thậm chí cả khi Thiên Chúa của tín đồ có một
chiều kích hợp lẽ với Chân lý khai mở (alethiological) đi nữa"(57).
Ngoài ra, Heidegger còn khởi đầu công việc của mình bằng cách đặt câu hỏi:

tự nhiên đối với Scotus, bởi với ông, “lý thuyết và cuộc sống, cái đầu và con
tim đều quy về một hướng"(60). Triết học thật là mạnh mẽ trong việc đưa ra
một sự giải thích có lý cho ý nghĩa cuộc đời, mặc dù đức tin mới là cái cung
cấp ý nghĩa đích thực cho cuộc đời! Vì cái này diễn tả trên mức độ khái niệm
điều mà cái kia “đang sống với”(61).
Nói tóm lại, “Hiện hữu” là cái phong phú về nội dung. Mặc dầu mỗi hữu thể
là tuyệt đối độc nhất và duy nhất, “tính duy nhất và dịp duy nhất có thể hiểu
được”- cụm từ thật đẹp của Heidegger -, nó vẫn cần phải được xem xét một
cách thận trọng, nghiên cứu, ngẫm suy… từ nhiều quan điểm khác nhau, vốn
đã làm cho nó hoặc trở thành một chủ đề cho một học thuyết triết học hay
một học thuyết giải thích khoa học, hoặc một hiện hữu đầy ý nghĩa và có sức
thu hút lạ lùng. Xét từ góc độ này, người ta có thể xem mỗi “tại-thể-tính”
hoặc là một cách tuyệt vọng, chẳng hạn như khi nói “Cuộc đời nào đáng gì
đâu”(62) hoặc, với một phản ứng tích cực, chẳng hạn như khi nhìn sự chết
không phải như nền tảng cho sự thất vọng, hay phi lý, nhưng như là sự khởi
đầu của một hành trình khám phá trong tình yêu thần linh. Cuối cùng, chính
“vấn đề ý nghĩa của hiện hữu tính”, như Heidegger đã chỉ ra, được quan tâm
đến. Và, vấn đề này, trong thực tại cụ thể của mỗi cuộc đời con người, vẫn
luôn là vấn đề về bản tính của hiện hữu: “Tại sao có cái này?”; Tại sao
“Dasein”? Tại sao “Haecceitas”?./.
Người dịch: NGUYỄN TRỌNG ĐA

(*) Tiến sĩ, Đại học Phụ Nhân, Đài Loan.
(1) John D. Caputo. Heidegger and Aquinas. An essay on Overcoming
Metaphysics, New York, Fordham University Press, 1982, 24: “Là sinh viên
tại Đại học Freiburg – và từ năm 1909 đến năm 1911 là chủng sinh Công
giáo”.
(2) Heidegger Martin. Trong The Shorter Routledge Encyclopedia of
Philosophy, 355.
(3) Caputo, 20.

lớn về danh tiếng trong thế kỷ XIII là nhờ việc các tu sĩ Phan Sinh đến Anh.”
(16) J.W. Thompson, The Middle Ages, New York, Alfred A. Knopf, 1931,
776. Cf. Luke 15, 1- 32.
(17) Eric Doyle, “Duns Scotus and Ecumenism”, trong De Doctrina Ioannis
Duns Scoti, Vol. III Acta Congressus Scotistici Internationalis Oxonii et
Edinburgi 11-17 Sep. 1966 celebrati. (Romae: Cura Commissionis
Scotisticae, 1968), 640.
(18) E. Doyle, O.F.M. “The Canticle of Brother Sun and the Value of
Creation”, trong Nothwehr, ed., Franciscan Theology of Environment: An
introductory Reader, 155-74. 1 Celano 81: “Mọi vật mang tên anh chị; trực
giác sâu sắc của tâm hồn ngài đi đến khám phá từ người khác một cách lạ
lùng và khó diễn tả mầu nhiệm mọi tạo vật, bởi vì ngài đã hưởng sự tự do
vinh hiển của con cái Chúa”.
(19) A.Wolter và B. O’Neill, “John Duns Scotus, Mary’s Architect”,
(Illinois: Franciscan Press, 1993), 84-5.
(20) Ordinatio II, d.3, n.188. (VII: 484).
(21) Ord. II, d.3, q.6, n.12, (ed. Vives XII 144b): “est ultima realitas entis”:
Gerard Sondag giải thích ý nghĩa của từ ngữ này như sau: Dựa vào sự phân
loại trong “cây Porphyry”, người ta lần lượt đi xuống từ đỉnh hữu thể bằng
sự phân biệt về chủng loại, Ví dụ: hữu thể tự nhiên giản lược thành hữu thể
sống động; từ hữu thể sống động đến động vật, từ động vật đến con người.
Tuy nhiên, một khi người ta đi đến “cá nhân”, tiến trình không thể được tiếp
tục, bởi vì cá nhân không thể chia nhỏ thành loài thấp hơn được nữa. Điều
này có nghĩa là không còn xác định được, hoặc có thể tiềm tàng xác định. Đó
là thực thể, hoặc một thực tại cuối cùng. Duns Scotus. La metaphysique de la
Singularite, (Paris: J.Vrin, 2005), 62.
(22) Beraud de Saint Maurice, “Existential import in the philosophy of Duns
Scotus”, trong Franciscan Studies, Vol.9, 1949, 288.
(23) Quaest. Metaph. I, 7, q.13, n.17: “Individuum est verissime ens et
unum”.

(39) McGrath, 9.; Caputo: 43 “Đó là lý do tại sao Heidegger thích Duns
Scotus hơn: “Ông tìm thấy sự gần gũi lớn lao và tinh tế hơn với sự sống thật
sự [haecceitas], với tính đa dạng và khả năng căng thẳng tinh thần, hơn so
với bất cứ triết gia Kinh viện nào trước thời ông. Đồng thời, ông biết cách
thức rời một cách thoải mái cuộc sống no đầy để đi vào thế giới trừu tượng
của toán học.” (FS2 203).
(40) Heidegger, “Der Zeitbegriff in der Geschichtswissenschaft”,
Gesamtaugabe (abbrev. GA) 1: 427; cf. McGrath, 9.
(41) GA 1: 125. Xin xem thêm Scotus, Quaestiones subtilissimae super
libros Metaphysicorum, lib.4, q.10, n.76: “Accipitur individuum substantia
et simul totum stricte, prout includit existentiam et tempus ut hic homo
existens et hic lapis existens”.
(42) Ingham, Scotus for Dunces, 39.
(43) Arthur Schopenhauer, Essays and aphorisms, do R.J. Hollingdale dịch
thuật (Harmondsworth: Penguin, 1970).
(44) “Solitudo”, Từ ngữ Latinh, phát sinh từ chữ solus: một mình, cô đơn.
(45) Nicholl, Recent thought, 77, lưu ý rằng Scotus, cùng với nhiều người
khác, được gọi là “triết gia hiện sinh”.
(46) Friedrich Heer, L’univers du Moyen Age, bản dịch từ tiếng Đức của
Maurice de Gandllac, (Paris: Fayard, 1970), 285. Heer cũng nói: “Người ta
có thể nói rằng Scot là cha đẻ của thuyết hiện sinh Kitô giáo”, ibid.
(47) D.M Nothwehr, The Franciscan view of human person. Some central
elements, (New York: St.Bonaventure University, 2005), 17.
(48) Helmut Kuhn, “Existentialisme and Metaphysics,” trong The review of
Metaphysics, tháng 12-1947, vol.I, n.2, 45-6.
(49) Cf. Caputo, 43-4.
(50) Điều này làm cho E. Gilson định nghĩa haecceitas như là “hành vi cuối
cùng giản lược mô thức của một loài thành tính đơn nhất của các cá nhân”,
History of Christian Philosophy in the Middle Ages”, (London 1962), 42.
(51) M.B. Ingham và M. Dreyer, The philosophical vision of Duns Scotus.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status