đề tài phản biện tính hiệu quả từ luận đề những hình ảnh của nước (hay là yêu cầu cần phân biệt đặc điểm và giá trị của minh triết phương đông) - Pdf 12


Nghiên cứu triết học

Đề tài: PHẢN BIỆN TÍNH HIỆU QUẢ TỪ
LUẬN ĐỀ NHỮNG HÌNH ẢNH CỦA NƯỚC
(HAY LÀ YÊU CẦU CẦN PHÂN BIỆT ĐẶC
ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ CỦA MINH TRIẾT
PHƯƠNG ĐÔNG
PHẢN BIỆN TÍNH HIỆU QUẢ TỪ LUẬN ĐỀ "NHỮNG HÌNH ẢNH CỦA
NƯỚC" (HAY LÀ YÊU CẦU CẦN PHÂN BIỆT ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ
CỦA MINH TRIẾT PHƯƠNG ĐÔNG)

NGUYỄN HỮU SƠN (*)
Thông qua những so sánh đối chiếu của F.Jullien trong tác phẩm
Bàn về tính hiệu quả, tác giả đã đi đến phân tích luận đề “những
hình ảnh của nước” với tư cách hình ảnh đặc sắc phản ánh tư tưởng
của Lão Tử. Lão Tử đã xem xét một phẩm chất của nước – “bất
tranh” và từ đó khái quát thành quan điểm nhân sinh, thành phẩm
chất ứng xử được coi là đặc trưng của tâm thức phương Đông – “vi
vô vi”. Theo tác giả, quan điểm nhân sinh này thiên về khái quát đặc
điểm kinh nghiệm, ứng xử hơn là định hướng tiến bộ xã hội, nên khó
có thể coi là giá trị.

1. Tuy cách đặt vấn đề và điểm nhìn khác nhau, song, chúng tôi nhận
thấy có những điểm tương đồng nhất định trong cách hình dung của

phương Tây.
2. Trước hết, theo chúng tôi, cần lược thuật lại những điểm quan
trọng nhất liên quan tới vấn đề trên trong công trình Xác lập cơ sở
cho đạo đức (Đối thoại của Mạnh Tử với một nhà triết học Khai
sáng) của F.Jullien đã được giới thiệu ở Việt Nam từ nửa thập kỷ
trước. Công trình Xác lập cơ sở cho đạo đức tập trung so sánh
những phương diện căn bản nhất trong quan niệm về triết học và đạo
đức học giữa hai nhà tư tưởng thuộc hai thời đại và hai phương trời
cách biệt nhau: Mạnh Tử (385 - 304 TCN ?) và J.Rousseau (1712 -
1778). Qua 15 chương sách, tác giả đã làm nổi bật được những
tương quan, những mẫu số chung, những mối quan tâm chung của
hai nhà tư tưởng về cội nguồn của đạo đức - lòng trắc ẩn, sự huyền
bí của tình thương và những dấu hiệu của ý thức đạo đức. Trên cơ sở
đời sống vật chất - văn hoá - xã hội, tác giả tiếp tục khảo sát và so
sánh các phương diện, như tranh luận về bản tính con người, về việc
khẳng định nhân tính - “bản tính thiện” như là đức nhân - cội rễ của
tình đoàn kết, mối quan tâm “lo cho thiên hạ” và ước vọng về “sự
công bằng ngự trị trên trần gian” Từ điểm nhìn của một trung tâm
văn hoá châu Âu hiện đại, học giả F.Jullien vừa thâm nhập vào nền
văn hoá Trung Hoa cổ đại, vừa tạo nên sự đối sánh với mong muốn
tạo lập một cách hình dung mới về những tương quan, sự đồng dạng,
ý nghĩa phổ quát của chân lý đạo đức: “Nếu như tôi chọn trình bày
những ý tưởng của Mạnh Tử là người đầu tiên trình bày một cách rõ
ràng tư duy đạo đức của người Trung Hoa thì đó là để đem lại cho
suy tư đạo đức của phương Tây hiện đại bấy lâu nay bị giam hãm
trong lịch sử của chính mình cơ hội của một sự đối chiếu giáp mặt”.
Phân tích hệ thống tư tưởng đạo đức của Mạnh Tử, F.Jullien nhấn
mạnh cả những phương diện tạo nên bản chất giá trị nhân văn có ý
nghĩa nhân loại lẫn những phương diện bộc lộ rõ giới hạn lịch sử của
một thời đại, một trình độ văn hoá - xã hội cụ thể. Rõ ràng là, từ tư

Tinh thần coi trọng sự tự xét mình và sự tự giác trong hành vi đạo
đức cùng một bản chất với tinh thần coi trọng sự xem xét độc lập và
sự quyết định độc lập của chính mình trong hành động” (xi), v.v
3. Quay lại vấn đề, luận đề về "những hình ảnh của nước" được
F.Jullien xem như một nội dung quan trọng trong tư tưởng phương
Đông và, theo ông, được thể hiện sâu sắc trong học thuyết của Lão
Tử (thế kỷ V TCN). Để làm rõ quan điểm của F.Jullien, trước hết,
chúng tôi tổng thuật lại suy tư "những hình ảnh của nước" trong Đạo
đức kinh.
- "Thượng thiện nhược thuỷ. Thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh
( ). Phù duy bất tranh, cố vô vưu" (Thượng thiện giống như nước.
Nước làm lợi cho vạn vật mà không tranh Ôi, vì không tranh nên
không sai lầm - Chương 8).
- "Đại quốc giả hạ lưu, thiên hạ chi giao, thiên hạ chi tẫn " (Nước
lớn như ở hạ lưu vốn là chỗ hợp lại của thiên hạ và cũng là giống cái
trong thiên hạ - Chương 61).
- "Giang hải sở dĩ năng vi bách cốc vương giả dĩ, kỳ thiện hạ chi"
(Sông và biển sở dĩ làm vua của trăm hang bởi vì khéo ở dưới nó -
Chương 66).
- "Thiên hạ nhu nhược mạc quá ư thuỷ, nhi công kiên cường giả mạc
chi năng thắng" (Trong thiên hạ chẳng có gì mềm yếu hơn nước
nhưng cũng chẳng gì có thể vượt hơn nước trong việc công phá cái
kiên cường - Chương 78).
Từ những đặc tính trên của nước, Lão Tử ca ngợi phẩm chất "bất
tranh" của nước; phổ quát hoá đức khiêm tốn, khiêm nhượng và
nghệ thuật sống khiêm nhu; nâng "nhu đạo" và một phương diện
thích hợp của lối ứng xử "nhu thắng cương, nhược thắng cường" trở
thành phương châm chỉ đạo cả các lĩnh vực hoạt động chính trị, quân
sự và ngoại giao.
Khi xem xét luận đề về "những hình ảnh của nước", F.Jullien nhấn

tìm được nơi có thể tiến dễ dàng nhất"(5).
Liên hệ với học thuyết của Lão Tử, có thể nghĩ tới hai vấn đề chính.
Thứ nhất, hình ảnh của nước được hiểu như một biểu trưng triết học
về sức mạnh của cái "yếu", "mềm yếu", "nhu thuật", "nhu đạo",
"thiên hạ chi chí nhu", "thuận theo tự nhiên" và như thế thì tốt nhất
phải là tránh được giao tranh. Chính Lão Tử đã hướng đạo: "Dụng
binh hữu ngôn: Ngô bất cảm vi chủ nhi vi khách, bất cảm tiến thốn
nhi thoái xích Kháng binh tương gia, ai giả thắng hỹ" (Phép dụng
binh có câu: Ta không dám làm chủ, chỉ làm khách, không dám tiến
một mà chỉ lùi mười Hai bên giao tranh, kẻ nhường là thắng -
Chương 69). Đó là quan điểm hiệu quả lý tưởng song lại trở nên
tuyệt đối không tưởng trong thực tế; hoặc nói đúng hơn, được coi là
phương châm xử thế, phương châm cảnh báo nhưng rất hiếm có cơ
hội thi hành.
Thứ hai, xét trên phương diện mục đích và tính hiệu quả, cách hiểu
về nước giữa Lão Tử và Tôn Tử khác xa nhau. Với Lão Tử, ưu thế
và giá trị của nước là ở chỗ "thiện nhược", "thiện hạ", "nhu nhược",
"bất tranh" và sự chiến thắng của nó là ở ý nghĩa, khả năng chứ
không phải chỉ ở mục đích cụ thể, trước mắt; với Tôn Tử, sức mạnh
của nước được vận dụng như một kỹ xảo, phương thuật, chiến thuật
trong một điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, nhằm đến mục đích và hiệu
quả cụ thể (tránh chỗ vững chắc, đánh chỗ yếu kém, nơi cạn lương
thảo, nơi dễ dàng ).
Đoạn so sánh trên cho thấy sự khác biệt giữa Lão Tử và Tôn Tử trên
cả hai phương diện tính mục đích và tính hiệu quả khi cùng vận
dụng "những hình ảnh của nước". Rõ ràng, Lão Tử chung hơn, phổ
quát hơn, triệt để hơn, lý tưởng và ảo tưởng hơn (hay diễn đạt như
F.Jullien, nước theo cách hiểu của Lão Tử "đưa chúng ta vào con
đường của Đạo, nó đưa chúng ta ngược lên tới cõi chưa phân hoá",
"là thực tại ít thực tại hoá hơn cả") - do đó, ông là nhà triết học.

biển chỉ có việc tiếp nhận chúng. Nhưng dưới cái nghĩa này len vào
nghĩa khác có tính chiến lược khôn khéo hơn, dù có phải như là
ngược lại với chiến lược, thậm chí dập tắt cả khả năng chiến lược:
chảy về chỗ thấp, nước chẳng bao giờ phải "tranh" với vật nào (Lão
Tử, th.8). Để được ở dưới thấp, người ta không cần phải đánh nhau.
Chiến lược tốt nhất là bắt đầu bằng việc làm cho mọi chiến lược đối
địch từ bỏ quyết tâm thi thố, loại trừ cạnh tranh, và hiệu quả này thật
là quỷ quyệt. Vì không đấu tranh với ai cho nên không ai tranh giành
với mình được (Lão Tử, th.22). Không những người ta không nghĩ
đến tranh giành mà người ta thậm chí không thể tranh giành được -
vì làm gì có ai, có chuyện để mà tranh giành. Bằng việc có ý thức
đặt ta vào chỗ thấp hơn, chỗ mà kẻ khác không thèm đặt chân, thế là
ta tước bỏ của y khả năng đối diện và kình địch và từ đó ta tháo kíp
nổ sự chống cự của y; làm cho chính sự đối kháng bị nhỡ tàu và mất
đi; ta làm trước việc tước vũ khí của kẻ khác"(6).
Rõ ràng, F.Jullien đã chú ý tới cả hai phương diện của nước. Trước
hết, "nước chảy chỗ trũng" là một thuộc tính tự nhiên, một hiện
tượng tự nhiên, một bản tính - vô thức và mang "một nghĩa tự
nhiên"; hay nói khác đi, phẩm chất của nước được Lão Tử nhận thức
như một kinh nghiệm tự nhiên và cũng chỉ lựa chọn lấy một khía
cạnh của quy luật tự nhiên ("chảy chỗ trũng") mà thôi. Như thế, Lão
Tử không nhằm khám phá, khai thác, tìm hiểu bản chất tự nhiên
(nước) mà chỉ mượn hiện tượng tự nhiên "nước chảy chỗ trũng", tận
dụng "những hình ảnh của nước" để khái quát thế ứng xử đạo đức và
xã hội, phổ quát hoá thế ứng xử trong chiến tranh, quyền lực và lời
nói. Tựa như kinh nghiệm của tục ngữ, Lão Tử đã tuyệt đối hoá cái
quy luật tự nhiên "nước chảy chỗ trũng" vốn chính xác trăm phần
trăm (100%) để rồi mặc định thành quy luật xã hội, thành suy tư có ý
nghĩa triết học. Xét từ trong bản chất, một sự mặc định như thế mang
đầy tính ngụy biện, phiếm chỉ, cảm tính và hình thức chủ nghĩa. Để

giá trị hay chưa lại là chuyện khác.
Từ việc khảo sát "những hình ảnh của nước" trong học thuyết của
Lão Tử và chiếu ứng với binh pháp Tôn Tử được hiểu như một bước
dịch chuyển "thực tại hoá" từ lý thuyết đến hiện thực, F.Jullien đi
đến nhận xét: "Đã không thể mô hình hoá được xung đột, vì nó
thường xuyên thay đổi, chẳng còn "lời phát biểu" nào khác ngoài lời
phát biểu về biến số (variable): không quan tâm lắm đến việc xây
dựng một lý thuyết về những hình thức, tư tưởng Trung Hoa coi
trọng hơn cả việc dựng lên một hệ thống những sự khác biệt; có
nghĩa là đáng lẽ ra chú tâm rút ra những nét chung ít nhiều có tính
chất cố định, ít nhiều có tính chất ổn định, nó lại làm công việc khai
thác xem những khả năng biến hoá có thể đi đến đâu. Đối với nó,
vấn đề không phải là nhận dạng trong sự tìm tòi những bản chất,
cách làm giống như lối mòn quen thuộc hằn lại khá đậm trong siêu
hình học của chúng ta, mà nó thiên về kiểm kê (các phương sách,
phương tiện)”(8). Có thể hiểu rằng, F.Jullien đã xác định được một
vài đặc điểm cơ bản trong tư tưởng Trung Hoa. Đó là việc "không
thể mô hình hoá được xung đột" nên phải thay thế bằng lời phát biểu
chung về những biến số. Đó là việc "không quan tâm lắm đến việc
xây dựng một lý thuyết về những hình thức" nên chỉ tập trung khai
thác xem những khả năng biến hoá có thể đi đến đâu. Đó là vấn đề
"không phải là nhận dạng trong sự tìm tòi những bản chất", mà lại
thiên về kiểm kê các phương sách, phương tiện. Xin nhắc lại, tất cả
những điều đó đều là "đặc điểm", song đã đạt tới "giá trị" hay chưa lại
là chuyện khác!
5. Về mặt ngữ nghĩa, các khái niệm đặc điểm và giá trị là khác biệt
nhau. Đặc điểm mới chủ yếu nói lên nét riêng về mặt hình thức và
không phải bao giờ cũng bao hàm cả phần nội dung, chất lượng; giá
trị thì trước hết là sự khẳng định nội dung, chất lượng và bao gồm
các đặc điểm của chất lượng. Tiếp nhận các hệ thống tư tưởng quá

thực thi trong hiện thực, chúng thuộc về tính lý tưởng hoá hơn là
hiện thực hoá. Điều đó có nghĩa là, Đạo của nước (Lão Tử) trong
thành phần minh triết phương Đông thiên về khái quát đặc điểm kinh
nghiệm ứng xử hơn là giá trị định hướng tiến bộ xã hội.r (*) Phó giáo sư, tiến sĩ, Viện Văn học, Viện Khoa học xã hội Việt
Nam.
(1) Xem: Cao Xuân Huy. Tư tưởng phương Đông gợi những điểm
nhìn tham chiếu. Nxb Văn học, Hà Nội, 1995, tr.83-85.
(2) F.Jullien. Bàn về tính hiệu quả (Hoàng Ngọc Hiến dịch và giới
thiệu). Nxb Đà Nẵng, 2002, tr.3.
(3) F.Jullien. Xác lập cơ sở cho đạo đức (Đối thoại của Mạnh Tử với
một nhà triết học Khai sáng) (Hoàng Ngọc Hiến dịch và giới thiệu).
Nxb Đà Nẵng, 2000, tr.27, 219-220, 233. Xem thêm: Nguyễn Hữu
Sơn. Đọc "Xác lập cơ sở cho đạo đức ". Tạp chí Văn hoá Nghệ
thuật, số 9, 2001, tr. 107-108.
(4) F.Jullien. Bàn về tính hiệu quả. Sđd., tr. 229.
(5) F.Jullien. Sđd., tr. 231-232
(6) F.Jullien. Sđd., tr.232-233.
(7) F.Jullien. Sđd., tr.233-234.
(8) F.Jullien. Sđd., tr.239-240.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status