Trang 1 Luận văn
Nâng cao chất lượng tín
dụng ngắn hạn tại Chi
nhánh NHCT khu vực
Chương Dương
Trang 2
LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước, hệ thống các ngân hàng thương mại
(NHTM) ở Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, lớn mạnh về mọi mặt,
kể cả số lượng, qui mô và chất lượng. Trong những năm qua, hoạt động ngân hàng
nước ta đã góp phần tích cực huy động vốn, mở rộng vốn đầu tư cho lĩnh vực sản
xuất phát triển. Như vậy hệ thống ngân hàng thương mại thực sự là ngành tiên
phong trong quá trình đổi mới cơ chế kinh tế, đóng góp to lớn vào công cuộc công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế xã hội ở nước ta.
Hiện nay ở nước ta thị trường chứng khoán chưa phải là kênh dẫn
vốn hiệu quả và chủ yếu, vậy nên vốn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của nền kinh tế vẫn phải dựa chủ yếu vào nguồn vốn tín dụng của
hệ thống ngân hàng thương mại. Các ngân hàng thương mại với lợi thế về
mạng lưới, đối tượng khách hàng của các ngân hàng thương mại không
phải chỉ là các công ty, doanh nghiệp mà còn có thành phần tư nhân hộ gia
đình. Một mặt họ là những người cho ngân hàng vay tiền, một mặt họ
cũng chính là những người vay tiền của hệ thống NHTM. Do vậy hệ thống
NHTM trở thành kênh cung ứng vốn hữu hiệu cho nền kinh tế trong gian
đoạn hiện nay. Từ đó vấn đề nghiên cứu chất lượng hoạt động tín dụng
thật sự trở thành vấn đề đang rất được quan tâm.
Trang 4
Chương I
TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN
DỤNG NGẮN HẠN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. Tín dụng ngân hàng thương mại.
1.1.1. Lịch sử ra đời và quá trình phát triển tín dụng NHTM.
Lịch sử ra đời và phát triển của tín dụng gắn liền với lịch sử phát
triển của phương thức sản xuất hàng hóa. Hình thức sơ khai nhất của tín
dụng là tín dụng nặng lãi. Người đi vay sẽ không những phải trả vốn mà
còn phải trả phần lãi rất lớn cho người cho vay. Hình thức này chỉ tồn tại
ở xã hội trước tư bản và mục đích của nó là để duy trì cuộc sống cho
những người cần vay.
Đến phương thức tư bản chủ nghĩa tín dụng nặng lãi không còn phù
hợp. Sản xuất phát triển, đi vay không những để cho tiêu dùng mà còn để
phát triển sản xuất. Lãi suất cho vay cũng phải thấp hơn do có nhiều người
cho vay hơn và để cho nhà tư bản đi vay đảm bảo việc sản xuất có lợi
nhuận. Vay mượn không chỉ đơn thuần là tiền mà còn là các máy móc
thiết bị, tư liệu sản xuất Từ đó lãi suất không còn do người cho vay đơn
phương áp đặt nữa mà phải có sự thỏa thuận giữa người vay và người cho
vay.
Từ đó ta có thể hiểu tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên
tắc hoàn trả. Đó là quan hệ giữa hai bên trong đó một bên chu cấp tiền hay
hàng hóa, dịch vụ cho bên kia và bên kia cam kết sẽ thanh toán lại trong
tương lai gồm cả khoản nợ gốc và khoản lãi.
Cùng với sự phát triển của sản xuất và hàng hóa, tín dụng ngày càng
có những phát triển cả về nội dung và hình thức. Và hình thái phát triển
cao nhất là tín dụng ngân hàng.
Trang 6
Vốn tín dụng ngắn hạn mà ngân hàng cấp cho khách hàng thường
được khách hàng dùng để mua nguyên vật liệu, trả lương, bổ xung vốn lưu
động nên số vốn vay thường là nhỏ.
Thời hạn thu hồi vốn nhanh, số vòng quay vốn tín dụng nhiều: Vốn
tín dụng ngắn hạn thường được sử dụng để bù đắp những thiếu hụt trong
ngắn hạn như đảm bảo cân bằng ngân quỹ, đối phó với chênh lệch thu chi
trong ngắn hạn Thông thường những thiếu hụt này chỉ mang tính tạm
thời hay mang tính thời điểm, sau đó khoản thiếu hụt này sẽ sớm thu lại
dưới hình thái tiền tệ vì vậy thời gian thu hồi vốn sẽ nhanh.
Hình thức phong phú: Để đáp ứng nhu cầu hết sức đa dạng của khách
hàng, phân tán rủi ro, đồng thời để tăng cường sức cạnh tranh trên thị
trường tín dụng, các ngân hàng thương mại không ngừng phát triển các
hình thức tín dụng ngắn hạn của mình. Điều đó đã làm cho các hình thức
tín dụng ngắn hạn rất phong phú như: nghiệp vụ ứng trước, nghiệp vụ thấu
chi, nghiệp vụ chiết khấu
1.2. Chất lượng Tín dụng ngắn hạn Ngân hàng thương mại.
Trong quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng, dù môi trường
kinh doanh có thay đổi nhưng hoạt động tín dụng vẫn luôn là hoạt động cơ
bản, chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ hoạt động của các ngân hàng thương
mại và là hoạt động sinh lời chủ yếu của các ngân hàng thương mại. Cùng
với quá trình phát triển của thị trường, hoạt động tín dụng ngày càng được
mở rộng và phát triển đa dạng với sự tham gia của nhiều thành phần kinh
tế. Do đó quan hệ tín dụng cũng được mở rộng cả về đối tượng và quy mô
làm cho hoạt động tín dụng của NHTM càng trở nên khó khăn. Để hệ
thống ngân hàng thương mại thể tồn tại và đứng vững trong điều kiện cạnh
tranh ngày càng gay gắt cũng như để phục vụ tốt hơn cho nền kinh tế thì
các NHTM phải nâng cao chất lượng các khoản tín dụng.
1.2.1. Khái niệm về chất lượng tín dụng ngắn hạn.
bảo được tính cạnh tranh trên thị trường, cũng như đảm bảo được nguyên
tắc hoàn trả đúng thời hạn và có lãi.
Đối với sự phát triển kinh tế xã hội: tín dụng phục vụ sản xuất và
lưu thông hàng hóa, góp phần giải quyết công ăn việc làm, thúc đẩy quá
trình tập trung và tích tụ sản xuất, giải quyết tốt nhất mối quan hệ giữa
tăng trưởng tín dụng với tăng trưởng kinh tế.
Vậy ta phải hiểu thế nào là khoản tín dụng ngắn hạn có chất
lượng cao ?
Xét trên khía cạnh nền kinh tế, căn cứ vào sự thể hiện của chất lượng
tín dụng ta có thể hiểu khoản tín dụng ngắn hạn có chất lượng cao là khi
khoản vốn huy động được ngân hàng sử dụng đúng mục đích, tạo được số
tiền lớn, ngân hàng thu được cả vốn và lãi. Còn doanh nghiệp vừa trả được
nợ ngân hàng đúng hạn vừa bù đắp được chi phí và có lợi nhuận. Như vậy,
ngân hàng vừa tạo ra hiệu quả kinh tế, vừa đem lại hiệu quả xã hội.
Và ngược lại một khoản tín dụng ngắn hạn không có chất lượng, hay
chất lượng không cao là khi khách hàng không sử dụng khoản tín dụng
đúng theo mục đích ban đầu, không tạo ra số tiền để trả lãi, gốc đúng thời
hạn cho ngân hàng, không đem lại hiệu quả kinh tế xã hội nói chung.
Hiểu đúng bản chất, phân tích, đánh giá, xác định chính xác các
nguyên nhân ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng ngắn hạn sẽ giúp ngân
hàng tìm được các biện pháp quản lý thích hợp để có thể đứng vững trong
nền kinh tế thị trường.
Trang 9
1.2.2. Sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn
ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường thì hoạt động tín dụng là kênh dẫn vốn
chủ yếu để thúc đẩy tiến trình phát triển của cả xã hội. Với đòi hỏi nền
kinh tế xã hội phát triển ngày càng mạnh mẽ thì vấn đề chất lượng tín
dụng nói chung và chất lượng tín dụng ngắn hạn nói riêng luôn và sẽ dành
năng tạo tiền của hệ thống ngân hàng thương mại. Đó là thông qua việc
cho vay chuyển khoản, thanh toán không dùng tiền mặt, các ngân hàng
thương mại có khả năng mở rộng số tiền ghi sổ lên rất nhiều lần so với số
tiền thực tế mà Nhà nước bỏ vào lưu thông. Như vậy khi chất lượng tín
dụng được nâng lên tạo khả năng giảm bớt lượng tiền trong lưu thông, góp
phần hạn chế lạm phát, ổn định tiền tệ.
- Cuối cùng chất lượng tín dụng nâng cao góp phần làm lành mạnh
hóa quan hệ tín dụng. Giảm thiểu rồi đi đến xóa bỏ tình trạng cho vay
nặng lãi, tín dụng đen đang rất phổ biến hiện nay. Mà gắn liền với tình
trạng tín dụng không lành mạnh này là những vấn đề xã hội phức tạp.
1.2.2.2. Đối với khách hàng:
- Cung cấp kịp thời nhu cầu về vốn cho khách hàng: Chất lượng tín
dụng cao sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng mở rộng thị trường, cung cấp tín
dụng kịp thời, đáp ứng yêu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh của khách
hàng.
- Lành mạnh hoá tình hình tài chính của khách hàng: Để đảm bảo chất
lượng tín dụng thì Ngân hàng tiến hành việc kiểm tra, kiểm soát việc sử
dụng vốn tín dụng của khách hàng qua đó cùng với khách hàng uốn nắn và
chấn chỉnh kịp thời những thiếu sót trong hoạt động tài chính và kinh
doanh của họ. Do vậy việc nâng cao chất lượng tín dụng góp phần phát
triển chất lượng sản xuất kinh doanh cũng như làm lành mạnh hoá tình
hình tài chính của khách hàng.
1.2.2.3. Đối với ngân hàng thương mại:
Trang 11
Nâng cao Chất lượng tín dụng là sự cần thiết khách quan vì sự tồn tại
và phát triển lâu dài của hệ thống Ngân hàng thương mại:
- Nâng cao chất lượng tín dụng tức là tăng khả năng quay vòng vốn
tín dụng, qua đó mở rộng được các hình thức dịch vụ cung cấp cho khách
hàng cũng như mở rộng quy mô vốn tín dụng cho một khách hàng. Như
ra những hướng khắc phục hiệu quả.
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng. Ta có thể
chia thành hai nhóm nhân tố là nhóm nhân tố bên ngoài và nhóm nhân tố
bên trong.
1.3.1. Nhóm nhân tố bên ngoài:
Gồm 3 nhóm nhân tố là kinh tế, xã hội và pháp lý.
* Nhóm nhân tố kinh tế:
- Hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng ngắn hạn nói riêng có
hiệu quả cao thì nền kinh tế phải ổn định. Hoạt động tín dụng là hoạt động
“Vay để cho vay”. Khi nền kinh tế phát triển ổn định thì các doanh nghiệp
mới hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường, khi đó nhu cầu về vốn tín
dụng của doanh nghiệp mới thực sự là ổn định và an toàn. Mặt khác khi đó
ngân hàng cũng có thể huy động được nhiều nguồn vốn mở rộng hoạt động
cho vay, phục vụ cho việc phát triển kinh tế.
- Ngoài ra một nền kinh tế ổn định tạo điều kiện cho giá cả luôn giữ ở
mức ổn định, lành mạnh, tránh được tình trạng lạm phát hay giảm phát và
tránh cho ngân hàng khỏi phải chịu những thiệt hại lớn do mất giá của
đồng tiền, các doanh nghiệp không rơi vào khủng hoảng dẫn đến khó khăn
không trả được nợ tín dụng. Từ đó cũng tránh được sự giảm thấp chất
lượng tín dụng.
Tuy nhiên có một thực tế là hầu hết các quốc gia đều áp dụng mô
hình “ Mở rộng Ngân sách” , tức là các quốc gia này duy trì một mức lạm
phát vừa phải để kích thích đầu tư. Do vậy đây là vấn đề có tính hai mặt.
Một mặt là lạm phát sẽ làm phát sinh những rủi ro cho việc hoàn trả khoản
nợ tín dụng. Nhưng mặt khác, lạm phát kích thích đầu tư sẽ khiến nhu cầu
Trang 13
về vốn tín dụng tăng, tạo điều kiện kinh doanh tín dụng cho các ngân hàng
thương mại, khi đó sẽ có cơ hội tăng được lợi nhuận.
- Yếu tố Vốn nước ngoài cũng có ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng
hưởng tới hiệu quả tín dụng ngắn hạn của hệ thông ngân hàng thương mại.
* Nhóm nhân tố xã hội,chính trị: Đó là các nhân tố khách hàng và
ngân hàng.
Quan hệ tín dụng được thực hiện dựa trên có sở sự tín nhiệm, lòng
tin, uy tín giữa khách hàng và ngân hàng thương mại. Vì vậy chất lượng
tín dụng ngắn hạn tùy thuộc vào sự kết hợp giữa ba yếu tố: Nhu cầu tín
dụng của khách hàng, khả năng của ngân hàng và sự tín nhiệm giữa hai
bên. Uy tín của ngân hàng trên thị trường càng cao thì sẽ thu hút được
càng nhiều khách hàng tin tưởng gửi tiền vào ngân hàng và thường có thể
huy động vốn với mức lãi suất thấp hơn mặt bằng chung. Uy tín ngân hàng
nâng cao cũng sẽ hấp dẫn được nhiều khách hàng đến xin vay ngân hàng
thương mại. Đây chính là biện pháp chiếm lĩnh thị trương của các ngân
hàng thương mại, tạo ra sự cạnh tranh quyết liệt với các ngân hàng thương
mại khác để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường.
Khách hàng, với tư cách là người cung ứng vốn, Người gửi tiền có
lòng tin đối với ngân hàng sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng huy động khoản
tiền gửi một cách ổn định, qua đó đáp ứng ổn đinh nhu cầu vốn tín dụng
ngắn hạn của người vay. Vì vậy chất lượng tín dụng ngắn hạn sẽ tăng lên.
Với tư cách là người đi vay vốn, nếu nhu cầu vay ngắn hạn của khách
hàng được thực hiện đơn giản, nhanh chóng thì Ngân hàng đã tạo được sự
hấp dẫn đối với khách hàng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín
dụng ngắn hạn.
Về phía Ngân hàng, chất lượng tín dụng ngắn hạn phụ thuộc vào quy
mô, phạm vi hoạt động tín dụng, phụ thuộc vào nguồn vốn tự có của các
ngân hàng, khả năng huy động nguồn tiền gửi cả về quy mô cũng như thời
hạn tiền gửi.
Khi xét đến các nhân tố xã hội ta không thể không nhắc đến yếu tố
tác động đến chất lượng tín dụng nói chung và chất lượng tín dụng ngắn
Trang 15
Trang 16
dụng; Thanh tra, kiểm tra, kiểm soát nội bộ; Thông tin tín dụng; Chất
lượng cán bộ công nhân viên.
1.3.2.1. Chính sách tín dụng ngắn hạn:
Không những chỉ có ngành ngân hàng mà tất cả các ngành, các lĩnh
vực muốn hoạt động hiệu quả để tồn tại và phát triển đều cần phải có một
chiến lược phù hợp với tình hinh thực tế. Do vậy ta có thể thấy chính sách
tín dụng ngắn hạn có ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng ngắn hạn ngân
hàng.
Chính sách tín dụng ngắn hạn là hệ thống những biện pháp được ban
lãnh đạo Ngân hàng phổ biến tới từng cấp, từng bộ phận của ngân hàng
liên quan đến việc khuyếch trương hoặc hạn chế những khoản tín dụng
ngắn hạn để đạt được mục tiêu đã hoạch định của Ngân hàng Thương mại
đó.
Chất lượng hoạt động tín dụng ngắn hạn tốt hay xấu là tuy thuộc vào
chính sách tín dụng ngắn hạn được ban lãnh đạo Ngân hàng xây dựng, ban
hành có đúng đắn hay không. Nếu chính sách tín dụng ngắn hạn được
hoạch định phù hợp với thực tế sẽ thu hút được nhiều khách hàng, đảm
bảo được khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng, phân tán rủi ro, tuân
theo chấp hành tốt luật pháp và đường lối chính sách của Nhà nước. Cũng
vì lẽ đó nên khi hoạch định chính sách tín dụng ngắn hạn, ban lãnh đạo
của các ngân hàng thương mại luôn coi trọng việc đảm bảo an toàn như là
một mục tiêu mà chính sách đó phải đạt được.
Ta rút ra kết luận là: Bất cứ ngân hàng thương mại nào nếu muốn nâng
cao chất lượng tín dụng ngắn hạn đều phải có chính sách tín dụng ngắn
hạn rõ ràng, thích hợp.
1.3.2.2. Công tác tổ chức ngân hàng:
Đây là hoạt động mà mọi NHTM đều phải quan tâm, luôn tiến hành
công tác đổi mới, hiện đại hóa tổ chức ngân hàng. Công tác tổ chức ngân
hàng được thức hiện tốt thể hiện là sự phối hợp nhịp nhàng giữa các phòng
có những biện pháp xử lý nợ chính xác, nhanh chóng sẽ giảm thiểu những
Trang 18
rủi ro có thể xảy ra và hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại khi rủi ro tín
dụng xảy đến, qua đó chất lượng tín dụng ngắn hạn sẽ nâng cao.
1.3.2.4. Thanh tra, kiểm tra, kiểm soát nội bộ:
Kiểm soát nội bộ là một trong những nghiệp vụ giúp cho ngân hàng
nâng cao chất lượng tín dụng. Thực hiện tốt công tác này sẽ giúp cho ban
lãnh đạo ngân hàng có được nhanh chóng mọi thông tin về tình trạng kinh
doanh. Như vậy ngân hành có thể kịp thời phát hiện ra những sai phạm,
sai sót liên quan đến nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn để khắc phục, sửa chữa.
1.3.2.5. Thông tin tín dụng:
Thực tế là hoạt động tín dụng ngắn hạn có chất lượng luôn đòi hỏi
phải có hệ thống thông tin hữu hiệu phục vụ nghiệp vụ tín dụng này đi
kèm. Như vậy Thông tin tín dụng có vai trò rất quan trọng trong quản lý
chất lượng tín dụng ngắn hạn. Việc nắm không vững và đầy đủ các thông
tin có thể khiến các ngân hàng gặp phải sai lầm lựa chọn đối nghịch. Vì
trên thực tế, không phải doanh nghiệp nào cũng sử dụng vốn vay có hiệu
quả và đúng mục đích. Đó là chưa kể tới những hàng vi lừa đảo để vay
tiền ngân hàng, gây tổn thất cho ngân hàng.
Việc nắm được thông tin về khách hàng, cảnh báo khách hàng kịp
thời sẽ khiến khách hàng suy nghĩ kỹ hơn khi sử dụng từng đồng vốn được
ngân hàng cho vay, sẽ khó có thể sử dụng sai mục đích ban đầu, do đó
hiệu quả kinh tế sẽ là cao hơn, lợi nhuận ngân hàng cũng vì thế mà được
đảm bảo. Thông tin cũng khiến cho ngân hàng có những giúp đỡ kịp thời,
có những gợi ý sáng suốt tháo gỡ những khó khăn cho khách hàng trước
khi quá muộn, đảm bảo cho hiệu quả kinh tế của khoản tín dụng ngắn hạn.
1.3.2.6. Chất lượng cán bộ công nhân viên:
Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong hoạt động tín
dụng ngân hàng. Trong mọi hoạt động có tính quyết định đến chất lượng
Trong quản lý chất lượng tín dụng ngắn hạn của các ngân hàng
thương mại ta có thể đưa ra ba yêu cầu chủ yếu sau.
- Giảm thiểu rủi ro đối với các khoản cho vay: Để phòng ngừa rủi ro,
các ngân hàng thương mại chỉ đồng ý cấp tín dụng ngắn hạn cho khách
hàng trên nguyên tắc phân tán rủi ro, dự đoán được tình hình tài chính và
ý chí trả nợ của khách hàng trong tương lai.
- Đảm bảo tính lành mạnh của khoản tín dụng ngắn hạn: Điều này có
nghĩa là không cấp tín dụng ngắn hạn giúp cho khách hàng làm giàu bất
chính. Yêu cầu đảm bảo tính lành mạnh của khoản tín dụng ngắn hạn liên
quan chặt chẽ tới quá trình thẩm định dự án của khách hàng và việc kiểm
tra tình hình sử dụng vốn tín dụng của khách hàng sau khi cấp tín dụng.
- Chiếm lĩnh được thị trường một cách hợp pháp: Thực hiện được yêu
cầu này sẽ giúp ngân hàng tồn tại và phát triển. Suy cho cùng thì đây là
mục đích cao nhất mà các ngân hàng đều hướng tới.
1.4.2. Các biện pháp quản lý chất lượng tín dụng ngắn hạn của ngân
hàng thương mại.
Việc quản lý chất lượng tín dụng nói chung và chất lượng tín dụng
ngắn hạn nói riêng phải mang tính đồng bộ vì chất lượng tín dụng có được
là nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa những con người trong ngân hàng, giữa
Trang 21
những ngân hàng với những chủ thế kinh tế, chính tri, xã hội với nhau trên
cơ sở nguồn lực hiện có.
1.4.2.1. Phân loại tín dụng ngắn hạn:
Thực hiện tốt việc phân loại tín dụng ngắn hạn sẽ giúp cho ngân hàng
nghiên cứu việc vận dụng vốn tín dụng trong từng loại hình cho vay và là
cơ sở để đánh giá hiệu quả kinh tế của chúng. Từ đó có sự quản lý phù
hợp nhất để nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn.
Ta có một số cách phân loại chủ yếu sau:
Căn cứ vào mục đích sử dụng: Tín dụng ngắn hạn bao gồm tín dụng
Căn cứ vào đồng tiền cho vay: Tín dụng ngắn hạn bao gồm cho vay
bằng đồng nội tệ và cho vay bằng đồng ngoại tệ.
Căn cứ vào phương pháp cho vay: Tín dụng ngắn hạn được chia
thành tín dụng từng lần, tín dụng theo hạn mức.
Căn cứ vào tính chất của việc cấp vốn: Cho vay ngắn hạn gồm cho
vay thế vốn và cho vay ứng vốn.
- Cho vay thế vốn: Việc cho vay làm thay đổi hình thái vốn của khách
hàng sang tiền, như chiết khấu, bao thanh toán.
- Cho vay ứng vốn: Việc cho vay mang tính chất cấp thêm vốn cho
khách hàng như bổ sung vốn lưu động.
Căn cứ vào đối tượng sử dụng vốn vay: Tín dụng ngắn hạn chia
thành tín dụng trực tiếp và tín dụng gián tiếp.
- Tín dụng trực tiếp: Tiền vay được phát trực tiếp cho người vay
- Tín dụng gián tiếp: Tiền vay được phát đến một tổ chức trung gian,
sau đó mới tới tay người vay.
Căn cứ vào phương thức thanh toán: Người ta chia tín dụng ngắn
hạn thành tín dụng ngắn hạn hoàn trả một lần, tín dụng ngắn hạn hoàn trả
nhiều lần.
Trang 23
1.4.2.2. Tuân thủ 3 nguyên tắc tín dụng ngắn hạn:
- Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả.
- Vốn vay phải đảm bảo bằng giá trị vật tư hàng hoá tương đương.
- Vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi khi đến hạn.
1.4.2.3. Xây dựng tiêu chuẩn quản lý tín dụng ngắn hạn:
Đối với Ngân hàng, tiêu chuẩn quản lý tập trung vào sáu tiêu chuẩn
sau: Tình hình chấp hành các điều luật và nguyên tắc tín dụng ngắn hạn đã
quy định, Vòng quay vốn tín dụng, Khả năng sẵn sàng thanh toán, Mức độ
phân tác rủi ro, Tình hình chấp hành hạn mức tín dụng đã quy định, Kết
quả kinh doanh.
Chương II
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN
HẠN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG KHU VỰC
CHƯƠNG DƯƠNG
2.1. Giới thiệu chi nhánh ngân hàng công thương khu vực Chương
Dương.
2.1.1. Quá trình phát triển.
Theo quyết định 53 Hội Đồng Bộ Trưởng về việc thành lập hệ thống
Ngân hàng thương mại quốc doanh tháng 7 năm 1988. Hệ thống Ngân
Hàng Công Thương (NHCT) Việt Nam được thành lập trên toàn quốc.
Trang 25
Tháng 8 năm 1988 Ngân hàng Nhà Nước huyện Gia Lâm được tách
thành NHCT Chương Dương và Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển
nông thôn Châu Quỳ.
Ngân hàng Công thương Chương Dương có trụ sở tại số 32 Ngõ 289
đường Ngọc Lâm Quận Long Biên, Hà Nội. Nằm trên địa bàn tập trung
nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp, các hoạt động thương mại dịch vụ cũng
khá phát triển, mức sống dân cư cao so với mặt bằng chung của cả nước.
Là chi nhánh của NHCT Việt Nam nên chi nhánh NHCT Chương
Dương là đơn vị hạch toán phụ thuộc. Theo điều 30 của điều lệ về tổ chức
và hoạt động của NHCT Việt Nam thì chi nhánh NHCT Chương Dương là
đại diện uỷ quyền của NHCT, có quyền tự chủ kinh doanh theo phân cấp
của NHCT, chịu sự ràng buộc về nghĩa vụ và quyền lợi đối với NHCT.
NHCT chịu trách nhiệm cuối cùng về nghĩa vụ phát sinh do sự cam kết
của các đơn vị này. Được phép kí kết các hợp đồng kinh tế, được chủ động