Luận văn: Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung, dài hạn tại Ngân hàng Công thương Phúc Yên - Pdf 12


Trang 3
Luận văn
Một số giải pháp nâng cao
chất lượng tín dụng trung,
dài hạn tại Ngân hàng Công
thương Phúc Yên

Trang 4
Lời nói đầu

Theo tinh thần nghị quyết đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam
tháng 12 năm 1986, những năm qua, nền kinh tế nước ta đã và đang chuyển dần từ
nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có
sự quản lí, điều tiết của Nhà nước. Đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được
những thành tựu công nghiệp hoá rất quan trọng: Trong tổng GDP, tỷ trọng nông
lâm nghiệp, thuỷ sản là 23%, tỷ trọng công nghiệp xây dựng là 38% và tỷ trọng
dịch vụ là 39%.
Trên lộ trình mở cửa, tự do hoá thương mại với sự kiện ký kết Hiệp định
thương mại Việt-Mỹ và không đánh thuế hàng xuất nhập khẩu sắp tới hứa hẹn
nhiều cơ hội cũng như thách thức lớn cho Việt Nam. Trước những sức ép cạnh
tranh và đòi hỏi mới của thị trường, Nhà nước ta đã tạo mọi điều kiện cho sự phát
triển kinh tế toàn diện và mũi nhọn. Các doanh nghiệp Việt Nam phải tự tìm kiếm
cơ hội cho mình ngoài sự hỗ trợ của Nhà nước. Muốn thực hiện được điều này thì
nhu cầu vốn cho đầu tư là rất lớn, đặc biệt là đầu tư tài sản cố định và cơ sở hạ
tầng (đầu tư dài hạn), do đó, nhu cầu vốn trung, dài hạn là rất lớn.
Ngân hàng công thương Phúc Yên (NHCT Phúc Yên) là chi nhánh Ngân
hàng cấp 2 thuộc hệ thống Ngân hàng công thương Việt Nam. Tuy mới được thành

Ngân hàng thương mại được định nghĩa là loại hình tổ chức tài chính cung
cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là nhận gửi, cho
vay và dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất
kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Như vậy, hoạt động của ngân hàng thương mại có thể khái quát thành 3
nghiệp vụ chính là:
* Tạo lập nguồn vốn:
Cũng như bất kỳ một doanh nghiệp nào, để có thể hoạt động được thì cần
phải có vốn. Nguồn vốn của ngân hàng thương mại hình thành từ hai nguồn chủ
yếu:
- Nguồn vốn chủ sở hữu hình thành từ nguồn vốn pháp định và vốn bổ xung:
Để bắt đầu hoạt động ngân hàng (được pháp luật cho phép) chủ ngân hàng phải có
một lượng vốn nhất định. Đây là lượng vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình
thành nên các trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng. Nguồn hình thành và nghiệp
vụ hình thành từ loại vốn này rất đa dạng tuỳ theo tính chất sở hữu, năng lực tài
chính của chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị trường.
+ Vốn pháp định là khoản vốn bắt buộc phải có trước khi đi vào hoạt động.
Nguồn vốn này thường phụ thuộc vào tính chất, qui mô của từng loại ngân hàng.
Tuỳ theo tính chất của mỗi ngân hàng mà nguồn gốc hình thành vốn ban đầu khác
nhau. Ví dụ như Ngân hàng Công thương Việt Nam khi mới thành lập có nguồn

Trang 7
vốn pháp định là 200 tỷ VNĐ. Nguồn vốn pháp định có thể do Nhà nước cấp đối
với các Ngân hàng thương mại quốc doanh hoặc do các chủ sở hữu cấp đối với các
Ngân hàng thương mại cổ phần. Tuy nhiên thì vốn pháp định vẫn có thể được điều
chỉnh tăng hoặc giảm tuỳ theo mục đích của từng ngân hàng.
+ Vốn bổ xung: vốn pháp định chỉ là khoản vốn ban đầu, hàng năm các
Ngân hàng thương mại phải bổ xung vốn bằng cách trích từ lợi nhuận kinh doanh
hoặc bằng mức đóng góp của các chủ sở hữu.
Trong điều kiện thu nhập ròng lớn hơn không thì chủ ngân hàng có xu

này giúp trang trải những thua lỗ về tài chính và nghiệp vụ cho tới khi các vấn đề
được giải quyết và đưa ngân hàng trở lại hoạt động sinh lời. Vốn này cũng là điều
kiện bắt buộc để ngân hàng có thể huy động tiền gửi chỉ với tỷ lệ quy định. Vốn
càng lớn thì càng tạo niềm tin cho công chúng vào sự đảm bảo đối với chủ nợ về
sức mạnh tài chính của ngân hàng. Và hơn thế, vốn cung cấp năng lực tài chính
cho sự tăng trưởng và phát triển của các hình thức dịch vụ mới, cho những trương
trình và thiết bị mới - điều kiện sống còn cho ngân hàng trong xu thế phát triển như
vũ bão của xã hội.
- Nguồn vốn thứ hai là nguồn huy động vốn nhàn rỗi từ xã hội:
Thu hút vốn nhàn rỗi trong xã hội là nhiệm vụ hàng đầu của nghiệp vụ tạo
lập nguồn vốn và là chức năng cơ bản của Ngân hàng thương mại. Phương thức
này tạo ta nguồn vốn chủ lực cho ngân hàng thương mại. Ngân hàng không thể tồn
tại nếu không huy động nguồn vốn này.
Các Ngân hàng thương mại thường huy động vốn dưới nhiều hình thức như
nhận tiền gửi (tiền gửi giao dịch, tiền gửi tiết kiệm), phát hành trái phiếu (tín phiếu
ngân hàng, kỳ phiếu ngân hàng, trái phiếu ngân hàng ) và đi vay. Nguồn vốn này
là cơ sở chính cho các khoản vay và do đó, nó là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận
và sự phát triển ngân hàng.
Tiền gửi khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng
lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng. Để gia tăng tiền gửi trong môi trường
cạnh tranh mạnh mẽ và có được nguồn tiền có chất lượng ngày càng cao, các ngân
hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động vốn khác nhau:

Trang 9
+ Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch): đây là nguồn tiền mà các doanh
nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng để nhờ ngân hàng giữ và thanh toán hộ.
Lãi suất của khoản tiền này rất thấp, có khi bằng không nhưng bù lại khách hàng
có thể được hưởng những dịch vụ ngân hàng với mức phí thấp.
+ Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội: Các tổ chức
xã hội hay các doanh nghiệp có nhiều khoản thu không phải thanh toán ngay nên

càng được đa dạng phong phú hơn. Hiện nay, các ngân hàng thương mại có hướng
sử dụng vốn chủ yếu là:
- Cho vay:
Tín dụng là chức năng kinh tế hàng đầu của ngân hàng, là hình thức sử
dụng vốn quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng chủ yếu trong toàn bộ tài sản có của
ngân hàng thương mại, đây là các tài sản mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng
thương mại nên chất lượng các khoản vay giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại
và phát triển của ngân hàng.
Để quản lý các khoản cho vay người ta thường phân loại chúng dựa trên
nhiều tiêu thức khác nhau. Nếu căn cứ vào thời hạn cho vay thì có thể phân loại
thành các hình thức: cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và cho vay dài hạn.
+ Cho vay ngắn hạn: Đây là loại cho vay truyền thống, nhằm bổ xung sự
thiếu hụt tạm thời vốn lưu động cho các doanh nghiệp và cho vay tiêu dùng. Cụ thể
là ở những dạng như: triết khấu các giấy tờ có giá, ứng trước theo hợp đồng, khấu
trừ chi qua tài khoản vãng lai thời hạn cho vay ngắn hạn ở Việt Nam là không
quá 12 tháng.
+ Cho vay trung, dài hạn: Được thực hiện đối với những chương trình, dự
án phát triển kinh tế xã hội. Đối tượng cho vay trung và dài hạn thường là để xây
dựng cơ bản, mua sắm tài sản cố định, đổi mới và mở rộng hoạt động kinh doanh
và các đối tượng khác có chu kỳ sản xuất kinh doanh dài ngày. Hiện nay ở Việt
Nam cho vay trung hạn từ 1 đến 5 năm, còn cho vay dài hạn là trên 5 năm. Tỷ
trọng cho vay trung, dài hạn hiện nay còn thấp nhưng theo xu hướng công nghiệp
hoá - hiện đại hoá thì chắc chắn tỷ trọng này sẽ càng tăng.

Trang 11
Ngoài ra còn có các hình thức tín dụng khác như: cho vay, bảo lãnh, cho
thuê (dựa vào hình thức tài trợ tín dụng); tín dụng có bảo đảm và tín dụng không
có bảo đảm bằng tài sản thế chấp, cầm cố; tín dụng phân lợi theo rủi ro (khoản tín
dụng có độ an toàn cao, khá, trung bình và thấp); tín dụng theo ngành kinh tế
(công, nông nghiệp…) hoặc theo đối tượng tài trợ (hàng hoá, bất động sản…) hoặc

tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại rủi ro cao nhất . Tín
dụng là hoạt động tài trợ của ngân hàng cho khách hàng (còn được gọi là tín dụng
ngân hàng).

1.2.1. Khái niệm:
Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay (ngân
hàng) và bên đi vay (các cá nhân và thành phần kinh tế); trong đó bên cho vay
chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định kèm theo
các điều kiện bảo đảm thoả thuận giữa hai bên, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả
vốn gốc và lãi cho bên đi vay khi đến hạn thanh toán.
Có nhiều tiêu thức để phân loại tín dụng nhưng thông thường các ngân hàng
thường phân tín dụng theo thời hạn. Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng
đối với ngân hàng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và hiệu quả
cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng. Theo thời gian, tín dụng được phân
thành: tín dụng ngắn hạn và tín dụng trung dài hạn:
+ Tín dụng ngắn hạn: là những khoản tín dụng có thời hạn cho vay đến 12
tháng
+ Tín dụng trung hạn: là những khoản tín dụng có thời hạn cho vay từ trên
12 tháng đến 60 tháng.
+ Tín dụng dài hạn: là những khoản tín dụng có thời hạn cho vay từ trên 60
tháng trở lên.
Thời hạn những khoản tín dụng này phụ thuộc vào mục đích xin vay, chu
kỳ sản xuất kinh doanh của dự án.

Trang 13

1.2.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế
Nếu như huy động vốn là hoạt động tập chung vốn nhàn rỗi từ trong dân cư
thì hoạt động tín dụng lại chuyển giao vốn cho những người có nhu cầu sử dụng
vốn. Ngân hàng chính là trung gian dẫn chuyển vốn từ những người thừa vốn đến

trường hoạt động của các doanh nghiệp. Để thắng đối thủ cạnh tranh đạt hiệu qủa
kinh tế cao nhất, các doanh nghiệp phải chủ động tìm kiếm thị trường mới và thực
hiện các biện pháp như ứng dụng các thành tựu khoa học hay áp dụng công nghệ
mới để nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm. Muốn thực hiện được điều
này thì doanh nghiệp cần phải có nguồn vốn đầu tư lớn mà tín dụng ngân hàng
chính là nguồn tài trợ cho những nhu cầu này.
Bên cạnh đó, việc di chuyển hoạt động kinh doanh từ ngành này sang ngành
khác hay đầu tư vào một ngành mới đòi hỏi lượng vốn rất lớn. Tín dụng ngân hàng
là một biện pháp mà các doanh nghiệp thường sử dụng để đáp ứng cho nhu cầu
vốn lớn và tập chung đó. Với sự giúp đỡ này, các nhà sản xuất kinh doanh dễ dàng
chuyển từ ngành kinh doanh có lợi nhuận thấp sang ngành có lợi nhuận cao, tạo
điều kiện bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế nhằm hình thành nên
một cơ cấu kinh tế hợp lý.
- Tín dụng ngân hàng có vai trò quyết định đến sự ổn định lưu thông tiền tệ:
Trong nền kinh tế thị trường, việc chú trọng phát triển lưu thông hàng hoá
phải luôn gắn liền với ổn định lưu thông tiền tệ. Do tính ưu việt của mình, tín dụng
ngân hàng đóng cũng đóng vai trò quyết định tới sự ổn định lưu thông tiền tệ.
Trước hết ngân hàng là kênh quan trọng để đưa tiền vào lưu thông, có khả năng
kiểm soát được khối lượng tiền lưu thông phù hợp với lưu thông hàng hoá. Nếu
tín dụng ngân hàng hoạt động có hiệu quả thì khi cho vay sẽ đảm bảo cung ứng
lượng tiền vào lưu thông là phù hợp.
- Ngân hàng là cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với nước ngoài thúc đẩy
quá trình mở rộng, tăng cường mối quan hệ hợp tác kinh tế trong khu vực và thế
giới:

Trang 15
Trước xu hướng toàn cầu hoá hiện nay, nền kinh tế của bất kỳ quốc gia nào
cũng có quan hệ tương hỗ với nền kinh tế các quốc gia khác trên thế giới. Đầu tư
vốn ra nước ngoài hay thu hút vốn đầu tư nước ngoài, kinh doanh xuất nhập khẩu
hàng hoá đã và đang là hai lĩnh vực hợp tác kinh tế thông dụng giữa các nước. Yếu

vượt quá thời gian khấu hao cần thiết của tài sản hình thành từ vốn vay.

2.1 Đặc điểm tín dụng trung, dài hạn:
- Mục đích vay vốn tín dụng trung, dài hạn:
Mục đích vay vốn là để phát triển sản xuất kinh doanh như: cải tiến kỹ
thuật, mở rộng sản xuất, đầu tư xây dựng cơ bản mới, đầu tư cho các dự án phục
vụ đời sống. Muốn thực hiện được như vậy thì trước hết phải có vốn để trang trải
những chi phí cấu thành nên công trình, mua sắm thiết bị máy móc, đổi mới công
nghệ. Những chi phí này không thể thu hồi ngay được do đó cần có thời gian thu
hồi theo thời gian khấu hao tài sản của dự án, thường là trung và dài hạn.
- Thời hạn, rủi ro và lãi xuất trong cho vay trung, dài hạn:
Tín dụng trung dài hạn phân biệt với tín dụng ngắn hạn chính là thời hạn
của khoản tín dụng, là những khoản tín dụng có thời hạn trên 1 năm. Bởi thời hạn
cũng là một yếu tố của rủi ro, thời hạn càng dài thì rủi ro càng lớn và chính vì vậy
mà lãi suất càng cao để bù đắp rủi ro có thể xảy ra.
- Nguyên tắc cho vay trung dài hạn:
Nguyên tắc sử dụng vốn vay và hoàn trả nợ gốc và lãi là nguyên tắc chung
đối với mọi khoản tín dụng. Khách hàng phải đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục
đích, có hiệu quả kinh tế xã hội cao và hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đủ đúng hạn
đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Ngân hàng đảm bảo thường xuyên kiểm
tra, giám sát việc sử dụng vốn vay và đôn đốc khách hàng trả nợ gốc và lãi đầy đủ,
đúng hạn.
- Nguồn vốn để cho vay trung, dài hạn:
Nguồn vốn cho vay trung dài hạn được huy động từ các nguồn sau:

Trang 17
+ Nguồn vốn tự có : là nguồn vốn của bản thân ngân hàng, chủ yếu là trụ
sở, trang thiết bị máy móc , đây là nguồn vốn chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong nguồn vốn
cho vay trung dài hạn nhưng là một nguồn cho vay an toàn nhất.
+ Nguồn huy động trung dài hạn: là những nguồn huy động từ tiền gửi tiết

- Cho vay theo dự án:
Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phục vụ đời sống
Đây là hình thức cấp tín dụng dựa trên cơ sở dự án sau khi đã xem xét và
khẳng định tính hiệu quả, khả thi của nó. Như vậy cho vay của ngân hàng không
chỉ đơn thuần là cho vay mà còn phải thẩm định các vấn đề như: phương án sản
xuất kinh doanh có hiệu quả không, tư cách khách hàng, khả năng tài chính của
khách hàng, tài sản đảm bảo Việc cấp một khoản tín dụng sẽ ràng buộc ngân
hàng với người vay trong một khoảng thời gian dài về quyền lợi và trách nhiệm
nên cần phải nghiên cứu hết sức kĩ càng, cẩn thận.
- Tín dụng hợp vốn (tín dụng đồng tài trợ):
Việc đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng là quá trình cho vay - bảo lãnh
của một nhóm tổ chức tín dụng (từ 2 trở lên) cho một dự án, do một tổ chức tín
dụng làm đầu mối phối hợp các bên tài trợ để thực hiện, nhằm nâng cao năng lực
và hiệu quả trong hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp và của các tổ
chức tín dụng. Phương thức này được sử dụng cho nhu cầu vay vốn hoặc bảo lãnh
để thực hiện dự án vượt giới hạn tối đa cho phép cho vay hoặc được phép bảo lãnh
của một tổ chức tín dụng; cho nhu cầu phân tán rủi ro của các tổ chức tín dụng
hoặc khả năng nguồn vốn của một tổ chức tín dụng không đáp ứng được nhu cầu
vốn của dự án.
- Tín dụng tuần hoàn (cho vay theo hạn mức tín dụng):
Hình thức cho vay này được ngân hàng căn cứ vào phương án, kế hoạch sản
xuất, kinh doanh, nhu cầu vay vốn của khách hàng, tỷ lệ vay vốn tối đa so với giá
trị tài sản bảo đảm tiền vay, khả năng nguồn vốn của ngân hàng để thoả thuận với
khách hàng một hạn mức tín dụng duy trì trong một thời hạn nhất định hoặc theo
chu kỳ sản xuất kinh doanh. Trong thời hạn duy trì hạn mức tín dụng, khách hàng

Trang 19
được rút vốn phù hợp với tiến độ và yêu cầu sử dụng vốn thực tế nhưng phải bảo
đảm không vượt quá hạn mức tín dụng đã ký kết. Trong thời hạn duy trì hạn mức

3. Chất lượng tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng thương mại
Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng là một nghiệp vụ mang lại phần lớn
doanh lợi cho ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ mang nhiều rủi ro nhất. Ngay cả
với một khoản vay có tài sản cầm cố, thế chấp thì khả năng xảy ra rủi ro vẫn rất
cao. Mục đích cuối cùng của hoạt động kinh doanh ngân hàng chính là lợi nhuận,
do đó ngân hàng nào cũng muốn đạt hiệu quả hoạt động kinh doanh tốt nhất.
Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt hiện nay, các ngân hàng không hoạt
động theo chức năng riêng của mình nữa mà hoạt động của các ngân hàng thương
mại nào cũng có hầu hết các loại hình nghiệp vụ là như nhau. Chỉ có khác nhau là
mỗi ngân hàng đều có thế mạnh riêng nhất định trong các nghiệp vụ của mình mà
thôi. Ví dụ như ngân hàng Nông Nghiệp & Phát triển nông thôn thì tập chung ở
cho vay nông nghiệp nhưng hiện nay họ đã vươn ra tất cả các loại hình nghiệp vụ
khác, là đối thủ cạnh tranh lớn đối với Ngân hàng công thương và các ngân hàng
khác. Các ngân hàng muốn nâng cao hiệu quả hoạt động, muốn tăng lợi nhuận của
mình thì đòi hỏi ngân hàng phải nâng cao chất lượng tín dụng của mình.
Vậy nên hiểu khái niệm chất lượng tín dụng là như thế nào?.
Chất lượng tín dụng được hiểu theo đúng nghĩa là vốn vay ngân hàng đáp
ứng đầy đủ kịp thời cho doanh nghiệp và được doanh nghiệp đưa vào quá trình sản
xuất kinh doanh một cách có hiệu quả nhất nhằm tạo ta một lượng tiền lớn hơn để
trang trải đủ chi phí, có lợi nhuận và hoàn trả cho nợ ngân hàng đầy đủ, đúng hạn
cả gốc lẫn lãi.
Tín dụng trung, dài hạn là một phần trong nghiệp vụ tín dụng của ngân
hàng. Chất lượng tín dụng trung, dài hạn là sự thoả mãn yêu cầu hợp lý của
khách hàng có lựa chọn.
Việc đáp ứng kịp thời yêu cầu hợp lý của doanh nghiệp phải đầy đủ các
phương diện: lãi suất hợp lý, thủ tục đơn giản, không gây phiền hà, thu hút được
khách hàng mà vẫn đảm bảo đúng nguyên tắc và quy chế tín dụng; phù hợp với tốc

Trang 21
độ tăng trưởng nền kinh tế xã hội đảm bảo sự tồn tại và phát triển ngân hàng và

được từ nguồn này là thấp. Ta có hai chỉ tiêu phản ánh sau:

Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng trung, dài hạn
(1)
Dư nợ tín dụng trung dài hạn bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của các khoản tín dụng trung dài
hạn của ngân hàng, cho biết một đồng dư nợ cho vay trung, dài hạn mang lại bao
nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ lệ cao tức lợi nhuận tín dụng trung dài hạn lớn, chất
lượng cao.

Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng trung dài hạn
(2)
Tổng lợi nhuận từ hoạt động ngân hàng
Chỉ tiêu này cho biết mức độ đóng góp của hoạt động tín dụng trung dài hạn
vào toàn bộ kết quả sản xuất kinh doanh của ngân hàng. Tỷ lệ cao phản ánh chất
lượng tín dụng khả quan nhưng đồng nghĩa với việc ngân hàng chấp nhận đối mặt
với nguy cơ rủi ro tiềm tàng.
- Số lượt khách hàng tham gia hoạt động tín dụng trung dài hạn:
Lượng khách hàng trung dài hạn có hiệu quả tăng chứng tỏ ngân hàng đã
làm tốt công tác nâng cao chất lượng tín dụng, thu hút khách hàng hiện tại và tiềm
năng chính là một lợi thế cạnh tranh cho các ngân hàng.
- Chỉ tiêu lãi suất:
Khách hàng vay vốn đều mong muốn được sử dụng khoản vốn với chi phí
thấp nhất. Do đó lãi suất là một chỉ tiêu cho sự lựa chọn ngân hàng vay của khách
hàng và đồng thời cũng là một yếu tố cạnh tranh mạnh mẽ giữa các ngân hàng. Với

Trang 23
một chiến lược lãi xuất hợp lý thì ngân hàng mới có thể thu hút được khách hàng
mà vẫn đảm bảo có lợi nhuận tăng trưởng mong đợi.
- Mức tăng trưởng dư nợ tín dụng trung, dài hạn:

Chỉ tiêu này phản ánh trực tiếp chất lượng tín dụng trung dài hạn của ngân
hàng. Chỉ tiêu này càng thấp (< 5%) thì chất lượng cho vay càng cao chứng tỏ hoạt
động tín dụng ngân hàng có chất lượng cao và ngược lại khi chỉ tiêu này cao (>
5%) thì chất lượng tín dụng của ngân hàng thấp.

Nợ quá hạn được chia làm hai loại:
+ Nợ quá hạn do định kỳ trả nợ ngắn hơn chu kỳ sản xuất kinh doanh của
ngân hàng hoặc vì một lý do nào đó chưa thu được tiền bán hàng nên đến kỳ trả nợ
khách hàng chưa có tiền trả. Ngân hàng buộc phải chuyển nợ quá hạn, loại nợ quá
hạn này ngân hàng có khả năng thu hồi nợ cao.
+ Nợ quá hạn do khách hàng vay vốn bị phá sản hoặc kinh doanh thua lỗ, bị
thiên tai, lừa đảo hay bị chết không còn khả năng trả nợ cho ngân hàng, buộc ngân
hàng phải chuyển sang nợ quá hạn chờ sử lý. Loại nợ quá hạn này được gọi là nợ
khó đòi, khả năng thu hồi nợ này rất thấp.
Từ hai loại nợ này ta còn phải xem xét chỉ tiêu khả năng thu hồi nợ của
ngân hàng:
Nợ trung, dài hạn khó đòi
Khả năng thu hồi nợ trung, dài hạn = x 100%
Nợ trung dài hạn quá hạn
Nếu chỉ tiêu này trên 50% thì tình hình hoạt động tín dụng trung, dài hạn có
chiều hướng gặp khó khăn, nợ khó đòi có thể trở thành nợ không có khả năng thu
hồi. Do đó, ngân hàng cần theo dõi chặt chẽ hai chỉ tiêu này để có biện pháp kịp
thời thu hồi nợ tránh rủi ro. Trang 25
4.2 Chỉ tiêu định tính:
Có thể nói thước đo chất lượng tín dụng của một ngân hàng chính là sự hài
lòng của khách hàng, đồng thời ngân hàng cũng phải đảm bảo hài hoà với an toàn
và đạt hiệu quả tín dụng cao nhất.

chuyên môn tốt nhằm đưa ra những quyết định chính xác trong khoảng thời gian
nhanh nhất đồng thời đảm bảo an toàn và hiệu quả trong những khoản vay đó thì
mới đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng.
- Tinh thần thái độ phục vụ, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng:
Khi cho vay, nếu cán bộ tín dụng có tinh thần thái độ, đạo đức nghề nghiệp
tốt thì trong quá trình tiếp cận phục vụ khách hàng sẽ tạo cho khách hàng niềm tin
và tạo một hình ảnh tốt trong mỗi khách hàng.
Năng lực trình độ chuyên môn, kinh nghiệm của cán bộ tín dụng có ảnh
hưởng rất lớn đến chất lượng các món vay. Với năng lực trình độ chuyên môn và
kinh nghiệm cao thì khi thẩm định cho vay sẽ đưa ra được những quyết định đúng
đắn, có hiệu quả, khả năng gặp rủi ro thấp.
- Cơ sở vật chất, công nghệ hiện đại của ngân hàng cũng ảnh hưởng tích
cực đến chất lượng tín dụng:
Một cơ sở tốt có ảnh hưởng tốt tới tâm lý khách hàng, phục vụ cho các hoạt
động nghiệp vụ của ngân hàng một cách chính xác và nhanh nhất; một cơ sở vật
chất tốt sẽ tạo hứng khởi cho chính cán bộ tín dụng thực hiện tốt công việc của
mình.
Việc ứng dụng các công nghệ hiện đại giúp cho ngân hàng có thể tiếp cận
được những thông tin phục vụ cho công tác thẩm định tốt nhất trên các mặt: thông
tin về khách hàng, thông tin về dự án (tính hiệu quả của dự án, xu hướng phát triển
đối với sản phẩm của dự án, thông tin về thị trường, giá cả, cạnh tranh ) một cách
nhanh chóng và chuẩn xác nhất, thông tin quản lý đối với các khách hàng lớn vay
vốn của nhiều tổ chức tín dụng. Độ tin cậy của các thông tin này là yếu tố trước
tiên để cán bộ tín dụng ra quyết định cho vay và ảnh hưởng rất lớn đến độ an toàn
của món vay.

Trang 27
Để hoạt động kinh doanh của ngân hàng có hiệu quả, chất lượng tín dụng
ngân hàng nói chung và chất lượng tín dụng trung, dài hạn nói riêng cao thì ngân
hàng phải luôn luôn quan tâm tới các chỉ tiêu trên. Các chỉ tiêu thường xuyên được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status