TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
**********************
KHÓA LUẤN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ GIỮA CÁC THƯƠNG NHÂN BẰNG
TRỌNG TÀI VÀ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS. Hoàng Ngọc Thiết
Sinh viên thực hiện : Lý Thị Tiến
Lớp : Pháp 1 - K38E
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI
BẰNG TRỌNG TÀI Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ CÓ LIÊN
QUAN 50
3.1. Qui định hiện hành về trọng tài ở Việt Nam 50
3.1.1. Các văn bản pháp luật đề cập tới việc giải quyết tranh chấp thương
mại bằng trọng tài đang được áp dụng ở Việt Nam hiện nay 50
3.1.2. Pháp lệnh trọng tài thương mại ngày 25/2/2003 của Việt Nam 55
3.2. Thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế giữa các thương
nhân bằng trọng tài ở Việt Nam 60
3.2.1. Khái quát chung về trọng tài thương mại ở Việt Nam 60
3.2.2. Thực tiền giải quyết tranh chấp thương mại tại VIAC 65
3.3. Một số kiến nghị có liên quan đến giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
ở Việt Nam 73
3.3.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam 73
3.3.2. Kiến nghị đối với các trung tâm trọng tài ở Việt Nam 75
3.3.3. Kiến nghị đối với các doanh nghiệp khi giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài 76
KẾT LUẬN 81
LỜI NÓI ĐẦU
Phương pháp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại đã và đang
phát triển và phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới theo nền kinh tế thị
trường và xu hướng sử dụng các biện pháp ngoài toà án (ADR) đã mang tính
toàn cầu. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó.
TRONG LÀM ĂN KINH TẾ, TRANH CHẤP LÀ ĐIỀU TẤT YẾU KHÔNG THỂ
TRÁNH KHỎI NHẤT LÀ TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ DO CÁC BÊN CÓ SỰ
KHÁC BIỆT VỀ NGÔN NGỮ, VĂN HOÁ, TẬP TỤC, TRÌNH ĐỘ, QUYỀN VÀ LỢI
ÍCH NGOÀI RA CHƯA KỂ ĐẾN CÁC GIAN LẬN TRONG QUAN HỆ HỢP TÁC. ĐỂ
văn bản pháp luật với phạm vi rộng. Các quan hệ thương mại được phân
biệt với các quan hệ dân sự ở mục đích sử dụng của nó: các quan hệ
thương mại là các quan hệ nhằm mục đích thu lợi nhuận còn các quan hệ
dân sự là các quan hệ chỉ nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu cá nhân. Ví
dụ nếu như người mua khiếu nại người bán thì được coi là quan hệ
thương mại, nhưng nếu người tiêu dùng khiếu nại người bán thì lại được
coi là quan hệ dân sự.
Luật Thương mại Việt Nam quy định rõ trong điều 5 rằng “hoạt động
thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi của thương nhân, bao
gồm việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt
động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện
các chính sách kinh tế xã hội. Dịch vụ thương mại gồm những dịch vụ
gắn liền với việc mua bán hàng hoá. Xúc tiến thương mại là hoạt động
nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ
thương mại”. Như vậy là Luật thương mại quy định khái niệm “thương
mại” theo nghĩa hẹp, tức là chỉ các hoạt động mua bán hàng hoá và những
hoạt động gắn với việc mua bán hàng hoá.
Trong phần chú thích của Điều 1 Luật mẫu UNCITRAL, người ta cho
rằng “khái niệm thương mại cần phải được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm
các vấn đề phát sinh từ tất cả các quan hệ có bản chất thương mại, dù có
hợp đồng hay không. Quan hệ có bản chất thương mại bao hàm nhưng
không chỉ giới hạn với các giao dịch sau đây: bất kì giao dịch buôn bán
nào nhằm cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá hay dịch vụ, hợp đồng phân
phối; đại diện thương mại hay đại lý, các công việc sản xuất, thuê máy
móc thiết bị, xây dựng, tư vấn thiết kế cơ khí, li-xăng. đầu tư, ngân hàng,
tài chính, bảo hiểm, các hợp đồng khai thác hoặc chuyển nhượng, liên
doanh và các hình thức khác của hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh,
vận tải hàng hoá hoặc hành khách bằng đường không, đường biển, đường
sắt hoặc đường bộ”. Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng Luật mẫu
UNCTRAL đã đưa ra gợi ý về một phạm vi khái niệm thương mại rất
A/ TRỌNG TÀI ĐẶC BIỆT HAY TRỌNG TÀI VỤ VIỆC (AD-HOC ARBITRATION)
TRỌNG TÀI ĐẶC BIỆT LÀ LOẠI HÌNH TRỌNG TÀI MÀ DO CÁC BÊN TỰ
THÀNH LẬP ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ HỌ YÊU CẦU, SAU KHI GIẢI QUYẾT
XONG VỤ TRANH CHẤP THÌ GIẢI TÁN. NHƯ VẬY, TRỌNG TÀI ĐẶC BIỆT
HOÀN TOÀN PHỤ THUỘC VÀO SỰ TỰ DO THOẢ THUẬN CỦA CÁC BÊN
TRANH CHẤP. CÁC BÊN TRANH CHẤP CÓ TOÀN QUYỀN LỰA CHỌN BẤT KỲ
MỘT NGƯỜI NÀO LÀM TRỌNG TÀI VIÊN ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA
MÌNH. NGƯỜI NÀY CHỈ CẦN ĐƯỢC CÁC BÊN NHẤT TRÍ CHỨ KHÔNG BỊ GIỚI
HẠN BỞI BẤT KỲ MỘT ĐIỀU KIỆN NÀO NHƯNG NẾU CÁC BÊN THỐNG NHẤT
LỰA CHỌN MỘT NGƯỜI KHÔNG ĐỦ KHẢ NĂNG THÌ CHÍNH HỌ LÀ NGƯỜI SẼ
PHẢI GÁNH CHỊU HẬU QUẢ DO SỰ ĐỀ CỬ CỦA MÌNH ĐEM LẠI. DO ĐÓ,
TRỌNG TÀI VIÊN THƯỜNG LÀ NGƯỜI CÓ UY TÍN, KINH NGHIỆM, TINH
THÔNG NGHIỆP VỤ TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ CÔNG
MINH TRONG XÉT XỬ. NGOÀI RA, CÁC BÊN TRANH CHẤP CÒN CÓ TOÀN
QUYỀN TRONG VIỆC THOẢ THUẬN ĐỂ TỰ THIẾT LẬP NHỮNG THỦ TỤC,
NGUYÊN TẮC TỐ TỤNG RIÊNG SAO CHO PHÙ HỢP VỚI TRANH CHẤP CỦA
MÌNH CHỨ KHÔNG NHẤT THIẾT PHẢI TUÂN THEO BẤT KỲ MỘT NGUYÊN
TẮC SẴN CÓ NÀO. NHƯNG HỌ CŨNG CÓ THỂ THOẢ THUẬN CHẤP NHẬN
MỘT HỆ THỐNG QUY ĐỊNH MẪU VỀ TRỌNG TÀI, ĐIỂN HÌNH NHƯ BẢN QUY
TẮC TRỌNG TÀI CỦA UNCITRAL THÔNG QUA NGÀY 28/4/1976 HAY LUẬT
MẪU UNCITRAL THÔNG QUA NGÀY 21/6/1985. NHƯ VẬY, TỔ CHỨC VÀ TỐ
TỤNG CỦA TRỌNG TÀI ĐẶC BIỆT KHÁ ĐƠN GIẢN, CÓ THỂ TIẾT KIỆM ĐƯỢC
THỜI GIAN VÀ CHI PHÍ CỦA CÁC BÊN LIÊN QUAN. TUY NHIÊN TRÊN THỰC
TẾ, HÌNH THỨC TRỌNG TÀI ĐẶC BIỆT CHỈ THÍCH HỢP VỚI NHỮNG TRANH
CHẤP CÓ GIÁ TRỊ NHỎ, HOẶC GIỮA CÁC BÊN ĐƯƠNG SỰ AM HIỂU PHÁP
LUẬT, DÀY DẠN TRÊN THƯƠNG TRƯỜNG VÀ CÓ NHIỀU KINH NGHIỆM
TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP.
Ở VIỆT NAM, TRƯỚC ĐÂY CHƯA CÓ QUI ĐỊNH CỤ THỂ VỀ HÌNH THỨC
TRỌNG TÀI ĐẶC BIỆT NÀY. TUY NHIÊN, PHÁP LỆNH TRỌNG TÀI THƯƠNG
MẠI CÓ HIỆU LỰC TỪ NGÀY 01/7/2003 ĐÃ ĐƯA RA QUI ĐỊNH VỀ LOẠI HÌNH
Ở Việt Nam, Trung tâm trọng tài quốc tế bên cạnh phòng thương mại và
công nghiệp Việt Nam được thành lập theo quyết định số 204/TTG của Thủ
tướng Chính phủ ngày 28/4/1993, trên cơ sở hợp nhất Hội đồng trọng tài
hàng hải và Hội đồng trọng tài ngoại thương. Trung tâm trọng tài quốc tế
Việt Nam có nhiệm vụ xét xử các tranh chấp phát sinh từ quan hệ kinh tế
quốc tế và từ ngày 15/4/1996, Trung tâm được phép mở rộng thẩm quyền xét
xử sang các quan hệ kinh tế phát sinh trong nước. Trung tâm hoạt động theo
điều lệ riêng, xét xử theo quy tắc tố tụng riêng và là tổ chức trọng tài thương
mại có uy tín nhất hiện nay ở Việt Nam.
Ngoài ra, còn có các trung tâm trọng tài kinh tế được thành lập theo NĐ
116 tuy nhiên các trung tâm này hoạt động kém hiệu quả và ít được biết đến.
1.1.3. Thẩm quyền xét xử của trọng tài
Ở các nước trọng tài được lập ra để xét xử các tranh chấp phát sinh trong
thương mại và nhiều lĩnh vực khác. Nhưng đối với một tranh chấp cụ thể thì
trọng tài không có thẩm quyền đương nhiên. Trọng tài chỉ có thẩm quyền xét
xử khi các bên giao tranh chấp trong thương mại cho trọng tài giải quyết chứ
trọng tài không thể tự mình đem tranh chấp ra xét xử (trừ trường hợp Trọng
tài kinh tế Nhà nước ở Việt Nam nhưng hiện nay đã chấm dứt hoạt động).
Trong hoạt động ngoại thương, thẩm quyền xét xử của trọng tài đối với các
tranh chấp cụ thể có thể được quy định trong hợp đồng, trong một văn bản
thoả thuận riêng về trọng tài giữa các bên, hoặc trong điều ước quốc tế có
liên quan.
*/ Theo thoả thuận trọng tài
Thoả thuận trọng tài (còn được gọi là hiệp nghị trọng tài) là thoả thuận
giữa các bên cam kết đưa ra trọng tài để giải quyết tất cả hoặc một số loại
tranh chấp phát sinh giữa họ với nhau về một quan hệ pháp luật nhất định,
theo hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng. Thoả thuận trọng tài có thể dưới dạng
một điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc một văn bản thoả thuận riêng
(điều 7.1 Luật mẫu UNCITRAL)
Trong khi đàm phán, ký kết hợp đồng, các bên có thể thoả thuận điều
của thoả thuận trọng tài. Trong trường hợp này văn bản trọng tài thường
chính xác, chi tiết hơn so với điều khoản trọng tài vì các bên giao kết nắm
được đầy đủ nguyên nhân xảy ra tranh chấp. Nhưng đây cũng là lý do mà
văn bản trọng tài ít được xác lập trên thực tế, do vụ tranh chấp đã làm đối lập
quyền lợi của các bên, làm hạn chế đáng kể thoả thuận giữa họ.
Thoả thuận trọng tài là cơ sở để khẳng định thẩm quyền của trọng tài đối
với tranh chấp trong thương mại quốc tế. Trọng tài chỉ có thẩm quyền khi
thoả thuận trọng tài có hiệu lực. Vậy thì khi nào thoả thuận trọng tài có hiệu
lực? Thoả thuận trọng tài có hiệu lực khi nội dung và hình thức của nó phù
hợp với luật pháp. Về nội dung thì một thoả thuận trọng tài phải hàm chứa
các nội dung sau
Cơ quan giải quyết tranh chấp
Quy tắc tố tụng trọng tài đước áp dụng
Trọng tài viên được chỉ định để giải quyết tranh chấp
Địa điểm giải quyết tranh chấp
Hầu hết luật pháp các nước đều quy định thoả thuận trọng tài phải được
lập bằng văn bản, tuy nhiên có những nước qui định thoả thuận trọng tài
có thể lập bằng miệng. Công ước New york 1958, công ước Châu Âu
1961 đều qui định rằng: thoả thuận trọng tài phải được lập thành văn bản
tuy nhiên lại có cách giải thích khác nhau về hình thức văn bản của thoả
thuận trọng tài. Công ước New york 1958 khẳng định: “một thoả thuận
trọng tài bằng văn bản được hiểu là điều khoản trọng tài trong một hợp
đồng bằng văn bản thoả thuận trọng tài được các bên ký kết bằng văn bản
độc lập với hợp đồng hoặc được ghi nhận trong việc trao đổi thư từ hoặc
điện tín”. Công ước Châu Âu 1961 mở rộng qui định hình thức văn bản
của thoả thuận trọng tài còn bao gồm cả thoả thuận trọng tài hàm chứa
trong Telex. Trong Pháp lệnh trọng tài thương mại Việt Nam 2003 qui
định thoả thuận trọng tài phải được làm băng văn bản, bao gồm cả những
hình thức như thư từ, tài liệu trao đổi giữa các bên. Những qui định không
giống nhau này làm phát sinh khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp
CỦA CÁC TRUNG TÂM TRỌNG TÀI QUỐC TẾ ĐỀU CÓ XU THẾ XÍCH LẠI GẦN
VỚI QUY TẮC CỦA TRỌNG TÀI ICC VÀ QUY TẮC CỦA LUẬT MẪU UNCITRAL.
QUÁ TRÌNH TỐ TỤNG TẠI TRỌNG TÀI QUỐC TẾ THƯỜNG BAO GỒM CÁC
BƯỚC NHƯ: ĐƠN KIỆN, CHỌN VÀ CHỈ ĐỊNH TRỌNG TÀI VIÊN, CÔNG TÁC
ĐIỀU TRA TRƯỚC KHI XÉT XỬ, PHIÊN HỌP XÉT XỬ, KẾT THÚC XÉT XỬ
THEO MỘT CÁCH THÔNG THƯỜNG NHẤT, TỐ TỤNG TRỌNG TÀI SẼ BẮT
ĐẦU KHI ĐƠN KIỆN CỦA NGUYÊN ĐƠN ĐƯỢC GỬI TỚI TRUNG TÂM TRỌNG
TÀI. TRUNG TÂM TRỌNG TÀI XEM XÉT ĐƠN YÊU CẦU VÀ BẢN TƯỜNG
TRÌNH NỘI DUNG TRANH CHẤP, NẾU THẤY TRANH CHẤP LÀ ĐỐI TƯỢNG
CỦA THOẢ THUẬN TRỌNG TÀI VÀ THOẢ THUẬN TRỌNG TÀI GIỮA CÁC BÊN
LÀ CÓ GIÁ TRỊ HIỆU LỰC PHÁP LÝ THÌ QUÁ TRÌNH TỐ TỤNG SẼ BẮT ĐẦU
VÀ TIẾP TỤC VỚI VIỆC HÌNH THÀNH MỘT HỘI ĐỒNG TRỌNG TÀI (HAY CÒN
GỌI LÀ UỶ BAN TRỌNG TÀI).
HỘI ĐỒNG TRỌNG TÀI ĐƯỢC CHỌN VÀ THÀNH LẬP THEO ĐÚNG THOẢ
THUẬN CỦA CÁC BÊN. TRONG VIỆC HÌNH THÀNH HỘI ĐỒNG TRỌNG TÀI THÌ
VIỆC QUAN TRỌNG NHẤT LÀ VIỆC CHỌN VÀ CHỈ ĐỊNH TRỌNG TÀI VIÊN.
THỜI GIAN CHỌN LỰA VÀ CHỈ ĐỊNH TRỌNG TÀI VIÊN CÓ THỂ DO CÁC
BÊN THOẢ THUẬN. THỜI GIAN NÀY PHẢI HỢP LÝ, ĐẢM BẢO CHO CÁC BÊN
LỰA CHỌN ĐƯỢC TRỌNG TÀI PHÙ HỢP ĐỒNG THỜI VẪN ĐẢM BẢO CHO
QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DIỄN RA NHANH CHÓNG. NẾU CÁC
BÊN KHÔNG THOẢ THUẬN VỀ VẤN ĐỀ NÀY THÌ SẼ CĂN CỨ THEO QUI TẮC
TỐ TỤNG HOẶC LUẬT TRỌNG TÀI CÓ LIÊN QUAN. VÍ DỤ THEO LUẬT MẪU
UNCITRAL, CÁC BÊN TRONG VÒNG 30 NGÀY KHÔNG CHỈ ĐỊNH TRỌNG TÀI
SẼ MẤT QUYỀN CHỈ ĐỊNH TRỌNG TÀI VÀ KHI ĐÓ TÒA ÁN HOẶC CƠ QUAN
CÓ THẨM QUYỀN KHÁC SẼ THAY MẶT CÁC BÊN CHỈ ĐỊNH TRỌNG TÀI VIÊN.
THEO QUY TẮC CỦA HIỆP HỘI TRỌNG TÀI HOA KỲ THÌ THỜI GIAN NÀY LÀ
10 NGÀY, THEO QUY TẮC TỐ TỤNG CỦA TRUNG TÂM TRỌNG TÀI QUỐC TẾ
VIỆT NAM THÌ THỜI HẠN NÀY LÀ TỪ 30 NGÀY ĐẾN 2 THÁNG.
PHÁP LUẬT TRỌNG TÀI CỦA CÁC NƯỚC KHÁC NHAU CŨNG QUY ĐỊNH
CÁCH THỨC LỰA CHỌN TRỌNG TÀI VIÊN KHÁC NHAU. THÔNG THƯỜNG
THỂ KHÔNG VÔ TƯ TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP. MỖI BÊN CHỈ
CÓ THỂ KHƯỚC TỪ TRỌNG TÀI VIÊN MÀ MÌNH ĐÃ CHỌN. ĐIỀU 11 QUY TẮC
TỐ TỤNG VIAC CŨNG QUY ĐỊNH: “CÁC BÊN ĐƯƠNG SỰ CÓ QUYỀN KHƯỚC
TỪ TRỌNG TÀI VIÊN… NẾU ĐƯƠNG SỰ NGHI NGỜ VỀ SỰ VÔ TƯ CỦA
TRỌNG TÀI VIÊN.”
THỦ TỤC CỦA VIỆC KHƯỚC TỪ TRỌNG TÀI VIÊN DO CÁC BÊN THOẢ
THUẬN HOẶC TUÂN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT. THÔNG THƯỜNG,
VIỆC KHƯỚC TỪ SẼ DO THÀNH VIÊN KHÁC CỦA UỶ BAN TRỌNG TÀI XEM
XÉT VÀ QUYẾT ĐỊNH. NẾU THÀNH VIÊN KHÔNG ĐI ĐẾN QUYẾT ĐỊNH HOẶC
NẾU TRƯỜNG HỢP 2 TRỌNG TÀI VIÊN HOẶC TRỌNG TÀI VIÊN DUY NHẤT BỊ
KHƯỚC TỪ THÌ CHỦ TỊCH TRUNG TÂM TRỌNG TÀI SẼ QUYẾT ĐỊNH. VIỆC
KHƯỚC TỪ TRỌNG TÀI VIÊN CŨNG ĐỂ LẠI HẬU QUẢ PHÁP LÝ NHẤT ĐỊNH;
NẾU ĐƠN KHƯỚC TỪ ĐƯỢC CHẤP NHẬN THÌ VIỆC CHỌN VÀ CHỈ ĐỊNH
TRỌNG TÀI VIÊN THAY THẾ SẼ ĐƯỢC TIẾN HÀNH.
THAY THẾ TRỌNG TÀI VIÊN KHÁC KHƯỚC TỪ TRỌNG TÀI VIÊN Ở CHỖ:
KHƯỚC TỪ DO CÁC BÊN ĐƯƠNG SỰ ĐỀ XUẤT DỰA TRÊN CÁC CĂN CỨ
LUẬT ĐỊNH CÒN THAY THẾ TRỌNG TÀI VIÊN DO CÁC ĐIỀU KIỆN KHÁCH
QUAN VÀ CHỦ QUAN KHIẾN TRỌNG TÀI VIÊN KHÔNG THỂ TIẾP TỤC THAM
GIA GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP (VÍ DỤ NHƯ CHẾT, ỐM ĐAU, ĐI CÔNG TÁC,
CÓ QUAN HỆ GẦN GŨI VỚI ĐƯƠNG SỰ MÀ TRƯỚC ĐÓ ĐƯƠNG SỰ KHÔNG
BIẾT…)
SAU KHI THÀNH LẬP HỘI ĐỒNG TRỌNG TÀI, HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG
TRỌNG TÀI SẼ ĐƯỢC TIẾP TỤC VỚI THỦ TỤC CHUẨN BỊ XÉT XỬ. ĐỊA ĐIỂM
XÉT XỬ VÀ NGÔN NGỮ XÉT XỬ CŨNG LÀ MỘT TRONG NHỮNG YẾU TỐ
QUAN TRỌNG TRONG QUÁ TRÌNH TỐ TỤNG, CHI PHÍ ĐI LẠI VÀ PHIÊN DỊCH
CÓ THỂ SẼ LÀ KHÔNG NHỎ NẾU CÁC BÊN KHÔNG KHÔN KHÉO TRONG VẤN
ĐỀ NÀY. TUY NHIÊN, NẾU CÁC BÊN KHÔNG THỂ THỐNG NHẤT ĐƯỢC VẤN
ĐỀ NÀY THI HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SẼ QUYẾT ĐỊNH.
TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI, NGUYÊN ĐƠN PHẢI ỨNG TRƯỚC LỆ PHÍ
TRỌNG TÀI THEO QUY ĐỊNH CỦA BIỂU PHÍ TRỌNG TÀI. LỆ PHÍ TRỌNG TÀI
DỨT HOẶC KHI VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ KIỆN TRỎ THÀNH VIỆC KHÔNG CẦN
THIẾT, KHÔNG THỰC HIỆN ĐƯỢC.
1.2.2. Sự khác biệt giữa tố tụng trọng tài và tố tụng toà án trong giải quyết
tranh chấp trong thương mại quốc tế.
TRỌNG TÀI VÀ TOÀ ÁN ĐỀU LÀ NHỮNG CƠ QUAN TÀI PHÁN. MỤC ĐÍCH
ĐỀU NHẰM GIẢI QUYẾT NHỮNG TRANH CHẤP PHÁT SINH. MỖI PHƯƠNG
PHÁP ĐỀU CÓ NHỮNG ƯU ĐIỂM RIÊNG MÀ TRONG TỪNG VỤ VIỆC CỤ THỂ,
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÀY HAY PHƯƠNG PHÁP KIA SẼ PHÁT HUY ĐƯỢC
LỢI THẾ CỦA CHÚNG. KHI NGHIÊN CỨU VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT
SINH TỪ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ QUỐC TẾ BẰNG PHƯƠNG PHÁP
TRỌNG TÀI, VIỆC NẮM BẮT NHỮNG ƯU ĐIỂM KHÁC NHAU CỦA PHƯƠNG
PHÁP NÀY SO VỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TOÀ ÁN
LÀ RẤT CẦN THIẾT.
*/ Về thẩm quyền xét xử
Trọng tài và toà án đều không có thẩm quyền đương nhiên đối với những
tranh chấp trong thương mại quốc tế giữa các thương nhân. Tuy nhiên, điểm
khác biệt là ở chỗ khi tranh chấp phát sinh trong thương mại quốc tế, muốn
kiện ra toà án, các bên đương sự phải kiện theo qui định theo pháp luật về
thẩm quyền theo vụ việc, thẩm quyền theo giá trị vụ kiện, thẩm quyền theo
lãnh thổ toà án. Do đó, sự lựa chọn toà án là rất hạn chế. Còn trong tố tụng
trọng tài tại các trung tâm trọng tài, thẩm quyền giải quyết tranh chấp không
phụ thuộc vào quốc tịch của các bên tranh chấp, nơi có trụ sở thương mại,
nơi cư trú của các bên hoặc nơi có tài sản của các bên.
*/ Về thủ tục tố tụng
Đây là điểm khác biệt quan trọng giữa hai hình thức. Bản chất của trọng
tài là dựa trên cơ sở sự thoả thuận của các bên tham gia tranh chấp, do đó,
trong suốt quá trình tố tụng trọng tài, sự thoả thuận của các bên luôn được
coi trọng. Các bên có quyền lựa chọn trọng tài viên cũng như có quyền thoả
thuận về thủ tục tố tụng. Trung tâm trọng tài chỉ định trọng tài viên trong
trường hợp các bên không thể lựa chọn được.
Và chính đây là một trong những ưu điểm nổi bật nhất khiến các thương
nhân ưa chuộng hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.
*/ Kết thúc xét xử
Quá trình tố tụng tại một cơ quan tài phán bao giờ cũng kết thúc bằng văn
bản mang tính chất pháp lý. Tại toà án, quá trình tố tụng kết thúc khi
thẩm phán ra bản án có hiệu lực pháp luật hoặc đưa ra những quyết định
mà theo đó vụ án chấm dứt. Trong tố tụng trọng tài, quá trình tố tụng
chấm dứt bằng quyết định trọng tài (hay còn gọi là phán quyết trọng tài)
Các bản án và quyết định của toà án có thể bị kháng cáo và trải qua thủ
tục phúc thẩm do toà án cấp cao hơn thực hiện. Xuất phát từ đặc điểm xét
xử một lần, phán quyết của trọng tài có tính chung thẩm. Nó không bị xét
xử lại bởi vì các trung tâm trọng tài khác nhau thì độc lập với nhau,
không giống sự phân cấp, phân vùng như trong hệ thống toà án do đó một
vụ việc đã giải quyết ở trung tâm trọng tài này rồi không thể đem ra giải
quyết tài một trung tâm trọng tài khác. Hơn nữa, trong tổ chức của một
trung tâm trọng tài nhất định, thủ tục tố tụng là xét xử một cấp và thoả
thuận trọng tài mang tính đích danh.
1.2.3. Ưu thế của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài so với toà án
Qua việc phân tích những điểm khác biệt giữa tố tụng trọng tài và tố tụng
toà án trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh trong thương mại quốc tế, ta
có thể thấy những ưu thế nổi bật của tố tụng trọng tài. Đó là sự kết hợp hài
hoà giữa phương pháp hoà giải, thương lượng và phương pháp giải quyết tại
toà án. Những ưu thế của trọng tài so với toà án chính là những ưu điểm của
phương pháp hoà giải, thương lượng đã được lồng vào một cơ chế pháp lý
mới là trọng tài.
Với đặc trưng tôn trọng thoả thuận của các bên đương tụng, hình thức
giải quyết tranh chấp bằng trọng tài cho phép các bên có quyền tự định đoạt
khi có tranh chấp xảy ra. Các bên có quyền lựa chọn hình thức trọng tài, có
thể là trọng tài Ad-hoc hoặc trọng tài quy chế tuỳ thuộc vào điều kiện hoàn
cảnh giữa các bên, các bên có thể lựa chọn trọng tài viên, thời gian xét xử,
mại khác.
1.3. Phán quyết trọng tài
1.3.1. Khái niệm phán quyết trọng tài
Như đã nói, việc xét xử được kết thúc bằng một quyết định của uỷ ban
trọng tài. Quyết định trọng tài là quyết định chung thẩm, các bên tranh chấp
buộc phải thi hành.
Với ý nghĩa là một phán quyết của một cơ quan tài phán, quyết định trọng
tài kết thúc quá trình tố tụng. Về hình thức, quyết định trọng tài tạo ra một sự
kiện pháp lý mà theo đó tranh chấp chấm dứt. Về nội dung, quyết định trọng
tài đưa ra các kết luận khách quan về tranh chấp, qui định các quyền và
nghĩa vụ mà các bên tham gia tranh chấp phải thực hiện. Thông thường,
quyết định trọng tài hàm chứa các nội dung:
Các yêu sách, khiếu kiện của các bên đương sự
Phần giải thích nội dung sự việc trọng tài.
Các kết luận cuối cùng của trọng tài về vu việc tranh chấp.
Quyết định trọng tài đề cập đến những vấn đề liên quan đến tranh chấp,
phân tích nội dung tranh chấp, nghĩa vụ, trách nhiệm của bên vi phạm
v.v…từ đó thoả mãn hay không thoả mãn yêu cầu của bên đi kiện.
Trong một chừng mực nhất định, quyết định trọng tài đóng vai trò là một
căn cứ pháp lý, theo đó một bên có thể yêu cầu bên kia thực hiện đúng
những nghĩa vụ được qui định trong phán quyết hoặc có thể dùng phán quyết
như là một chứng cứ pháp lý để yêu cầu những cơ quan có thẩm quyền áp
dụng biện pháp cưỡng chế nếu như phán quyết không được tự nguyện thi
hành.
Điều 27 luật trọng tài Malayxia qui định: “Một quyết định trọng tài dựa
trên cơ sở một thoả thuận trọng tài, nếu được phép của toà án cấp cao sẽ
được thi hành theo thể thức giống như thi hành một bản án cuả toà án”.
Qui tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam cũng qui định:
Nếu phán quyết không được tự nguyên thi hành trong thời hạn qui định,
sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo pháp luật của nước nơi phán