Trường đại học ngoại thương
Khoa kinh tế Ngoại thương
Khoá luận tốt nghiệp TRIỂN VỌNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT
KHẨU GỐM SỨ NHÀ BẾP SANG THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN
SINH VIÊN THỰC HIỆN : BÙI THỊ VÂN NGA
LỚP : A9 - K38
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN : PGS. NGƯT. VŨ HỮU
TỬU
Hà nội – 2003
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản
Năm
Kim ngạch
xuất khẩu
692,7
4,66
-30,54
1986
34
789,1
4,31
5,26
1987
51,1
854,2
5,98
50,29
1988
60,7
2188,9
32,86
111,37
1992
833,9
2917,7
28,58
15,93
1993
936,9
2985,2
31,38
12,35
1994
1179,3
9484,3
17,66
8,34
1998
1514,5
9306,8
16,27
-9,60
1999
1786,2
11541,3
15,48
17,94
2000
2397,3
1998
(Triệu USD)
Tỷ trọng
trong tổng
kim ngạch (%)
Tổng kim ngạch
1614,6241481,3491. Hải sản 360,413
22,3
347,103
23,4
2. Dệt may 325,049
20,1
320,923
21,7
1,8
7. Rau quả 8,484
0,5
6,571
0,4
8. Gạo 1,135
0,1
3,565
0,2
9. Cao su 5,662
0,4
2,624
0,2
10. Hạt điều 774
0
nhóm sản phẩm buộc phải dán nhãn: sản phẩm dệt, sản phẩm nhựa, đồ điện
và thiết bị điện, và các sản phẩm khác như ô, kính râm Các nhãn chất
lượng được dán lên sản phẩm gia dụng giúp cho người tiêu dùng biết các
thông tin về chất lượng sản phẩm và những lưu ý khi sử dụng.
1.2. Tiêu chuẩn công nghiệp- JIS
Tiêu chuẩn JIS do Bộ trưởng Bộ Kinh tế Thương mại và Công nghiệp
Nhật Bản cấp cho nhà sản xuất dựa trên Luật tiêu chuẩn hoá công nghiệp
áp dụng đối với tất cả các sản phẩm công nghiệp và khoáng sản trừ các sản
phẩm áp dụng tiêu chuẩn chuyên ngành. Khi kiểm tra chất lượng hàng hoá
chỉ cần kiểm tra Dấu tiêu chuẩn JIS là xác nhận được chất lượng của hàng
hoá.
1.3. Tiêu chuẩn nông nghiệp- JAS
Tiêu chuẩn JAS dựa trên Luật tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản áp dụng
cho: đồ uống, thực phẩm chế biến, dầu ăn, mỡ và các nông sản chế biến.
Việc sử dụng Dấu JAS trên nhãn hiệu sản phẩm là tự nguyện. Sản phẩm bị
buộc phải tuân theo các quy định về nhãn chất lượng JAS khi có đủ các
điều kiện: (1) Là nông sản đã có hoặc sẽ có tiêu chuẩn JAS quy định cho
nó. (2) Là sản phẩm có chất lượng khó xác định. (3) Là sản phẩm mà người
tiêu dùng cần được biết chất lượng của nó khi quyết định mua. 1.4. Các dấu chứng nhận khác
Các dấu chứng nhận khác gồm có Dấu Q, Dấu G, Dấu S, Dấu S.G,
Dấu Len, Dấu SIF
Dấu
chất
lượng
Ý nghĩa Phạm vi sử dụng
Dấu Q
môi trường. (2) Việc sử dụng sản phẩm đó mang lại nhiều ích lợi cho môi
trường. (3) Chất thải sau khi sử dụng không hoặc ít gây tác hại cho môi
trường.
2. Luật về thương mại
2.1. Luật trách nhiệm sản phẩm
Luật trách nhiệm sản phẩm được áp dụng đối với các sản phẩm nói
chung và các sản phẩm nhập khẩu nói riêng nhằm bảo vệ người tiêu dùng.
Luật này quy định nếu một sản phẩm có khuyết tật gây ra thương tích cho
người hoặc thiệt hại về của cải thì nạn nhân có thể đòi nhà sản xuất bồi
thường cho các thiệt hại xảy ra liên quan đến sản phẩm có khuyết tật và các
quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và khuyết tật của sản phẩm.
2.2. Luật vệ sinh thực phẩm
Luật vệ sinh thực phẩm quy định cho tất cả các thực phẩm, đồ uống,
gia vị thực phẩm, dụng cụ chế biến và bảo quản thực phẩm, các dụng cụ
đựng và bao bì cho các gia vị cũng như cho thực phẩm, đồ chơi trẻ em và
các chất tẩy rửa dùng cho việc làm sạch thực phẩm và đồ ăn tiêu dùng trên
thị trường Nhật Bản. Tất cả các loại hàng kể trên khi đưa vào sử dụng phải
có giấy phép của Bộ Y Tế và Phúc lợi Nhật Bản.
2.3. Các luật khác
Ngoài hai luật kể trên, trên thị trường Nhật Bản có rất nhiều các quy
định áp dụng đặc thù cho các nhóm sản phẩm khác nhau.
- Luật chống các bệnh truyền nhiễm trong súc vật nuôi
- Luật chống bệnh dại
- Luật kiểm dịch thực vật
- Luật trồng rừng từ cây non
- Luật chọn và bảo vệ các loài hoang dã
- Luật kiểm soát phân bón
- Luật về các dụng cụ y tế , mỹ phẩm và các loại thuốc
- Luật kiểm soát chất gây mê
- Luật kiểm soát ma tuý
Hiện nay, ngành dệt may đã xuất sang Nhật với kim ngạch khá cao
(khoảng 400-500 triệu USD) chủ yếu là hàng dệt kim. Tuy nhiên thị phần
của hàng dệt may trên thị trường Nhật chỉ có khoảng 2 % (so với 65% của
Trung Quốc; 8% Italia, 6% Hàn Quốc). Mục tiêu trước mắt của ngành dệt
may Việt Nam là đạt kim ngạch từ 0.8 đến 1.1 tỷ USD vào năm 2005 với
thị trường mục tiêu là thị trường đại chúng.
2. Hải sản
Hải sản Việt Nam xuất sang thị trường Nhật được đánh giá khá cao,
nhất là tôm. Hiện nay kim ngạch xuất khẩu hải sản của Việt Nam sang Nhật
đạt mức 340-350 triệu USD/năm. Để đẩy mạnh xuất khẩu hải sản vào thị
trường Nhật, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải chú ý đến khâu chất
lượng và vệ sinh thực phẩm, trong đó việc lấy xác nhận trước về chất lượng
(pre-certification) đóng vai trò hết sức quan trọng vì nó góp phần rất lớn
vào việc giảm chi phí phát sinh trong quá trình hàng hóa lưu thông tại Nhật.
Mục tiêu tăng trưởng của ngành là 10%/năm, đạt kim ngạch 700 triệu USD
vào năm 2005.
3. Giày dép và sản phẩm da
Kim ngạch xuất khẩu giày da vào Nhật còn khiêm tốn so với tiềm
năng trên 1 tỷ USD/năm của ngành da giày Việt Nam. Năm 1997, kim
ngạch xuất khẩu da giày của Việt Nam sang Nhật đạt 79 triệu USD, năm
1998 đạt 42 triệu USD. Trong thời gian tới, sau khi chính phủ Nhật giành
cho Việt Nam chế độ ưu dãi thuế quan MFN, các doanh nghiệp cần phải
đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trương Nhật, giúp cho ngành tránh được sự áp
đặt Quota của EU. Mục tiêu tăng trưởng của ngành là trên 20%/năm, đạt
kim ngạch 550 triệu USD năm 2005.
4. Than đá
Lượng than đá xuất khẩu sang Nhật đã đạt gần 1.4 triệu tấn/năm,
chiếm hơn 40% lượng than xuất khẩu của ta. Đối với ngành than trước mắt
cần phải tiếp tục củng cố và giữ vững các đầu mối tiêu thụ tại Nhật.
7. Gốm sứ
Nhập khẩu gốm sứ vào thị trường Nhật đang tăng mạnh trong những
năm gần đây. Thị phần các sản phẩm gốm sứ Châu Âu trên thị trường Nhật
rất cao (70% đối với sản phẩm sứ và 25% đối với sản phẩm gốm về kim
ngạch). Tuy nhiên, thị phần của Trung Quốc, Thái Lan và các nước Châu á
đang tăng dần lên. Đồ gốm sứ Việt Nam đã có mặt trên thị trường Nhật
nhưng kim ngạch còn khá khiêm tốn (khoảng 5 triệu USD/năm). Đây là
mặt hàng ta có thể nâng kim ngạch lên mức độ cao nếu các nhà sản xuất
quan tâm hơn nữa đến gốm sứ khâu tạo hình và đặc điểm của hệ thống
phân phối trên thị trường Nhật.
8. Sản phẩm gỗ
Đây là mặt hàng mà doanh nghiệp Việt Nam tỏ ra có lợi thế nhất.
Nguyên nhân là người Nhật có nhu cầu sử dụng đồ gỗ khá lớn. Ngoài ra,
tuỳ ý thức về vấn đề môi trường đang ngày càng tăng nhưng chưa đến mức
khắt khe như Anh và một số nước EU. Mặt khác sản phẩm này không phải
qua kiểm dịch và kiểm tra vệ sinh.
Phụ lục 5: Triển lãm và hội chợ quốc tế hàng tiêu dùng tại Nhật Bản
Nguồn: JETRO 1. All Japan Gift Festival in Tokyo
Thời gian: Vào tháng 9 hàng năm
9. International Furniture Fair Tokyo (IFFT)
Ban tổ chức: International Development Association of the Furniture
Industry of Japan
Tel: 03- 5261- 9401
Thời gian: Vào tháng 11 hàng năm
Phụ lục 6: Địa chỉ trang mạng các cơ quan hữu quan của Nhật Bản
http://www.meti.go.jp/
16. Phòng Patent Nhật Bản
http://www.jpo-meti.go.jp/
17. Ngân hàng Trung ương Nhật Bản
http://www.boj.or.jp/ Phụ lục 7: 18 Công ty gốm sứ thành viên trên Sàn Giao dịch Hàng thủ
công mỹ nghệ (tính đến ngày 21/11/2003)
Nguồn: http://www.vnemart.com.vn/
1. Thanh Cong Pocerlain and Pottery Joint Stock Company
(ThanhcongJSC)
2. Quang Vinh Co., Ltd (QuangVinh)
3. Bao Tam Co.,Ltd (B & T Co.,Ltd)
4. Minh Hanh Co.,Ltd (Minh Hanh)
5. Special Forest and Bamboo producst export company (SFOPRODEX
HANOI)
6. Nam Long Handicraft Wood Processing Corporation (Nam Long
Corporation)
7. Worldgems Company Limited (Worldgems Co.,Ltd)
8. The Thang Long Art Articles Export-Import Company (Artex
ThangLong)
9. TamDungSon Company Limited. (TDS Co., Ltd)
10. Truong Thinh Manufacturing and Trading Co., Ltd (Truong Thinh
Co., Ltd)
11. Quang & Artex Joint Stock Company (Quang & Artex JSC)
Tuy nhiên trong thời kỳ này, sự phát triển của đồ đồng và sau đó là
đồ sành trắng có men đã đẩy gốm đất nung quay về bảo lưu dáng hình
truyền thống và phục vụ chủ yếu cho tầng lớp nghèo mà đồ đun nấu và
chứa đựng là chủ yếu.
3.2. Gốm từ thế kỷ I đến thế kỷ IX- Thời kỳ Bắc thuộc
Từ thế kỉ thứ II đến thế kỉ thứ IX, Việt Nam rơi vào sự thống trị của
phong kiến phương Bắc mà lịch sử vẫn thường gọi đây là thời kỳ ngàn năm
Bắc thuộc. Trong giai đoạn này, nghề gốm của người Việt vừa tiếp tục phát
triển trên vốn kinh nghiệm cổ truyền, có tiếp thu ảnh hưởng của Trung Hoa.
Gốm thời kỳ này đã có thêm chất liệu mới là sành xốp sử dụng đất sét trắng
không men hoặc phủ men, đồ sành nâu và gốm kiến trúc. Gốm đã có độ
nung cao, thân dày, một số đã tráng men màu trắng xanh lợt, hoa văn trang
trí hình học. Thời kỳ này đã có sự hình thành các lò sản xuất tập trung và
có tính chuyên môn hoá cao như hai trung tâm lớn là Thanh Hoá (gốm
trắng) và Thuận Thành- Bắc Ninh (gốm nâu). Phong cách Hán thể hiện rất
rõ trên các đồ gốm nên nhân dân ta thường gọi các sản phẩm này là Gốm
Hán Việt.
Ngoài ra ở miền Nam Trung Bộ, lúc bấy giờ là vương quốc Champa,
đồ đất nung, đặc biệt là các sản phẩm gạch để xây dựng các ngôi tháp
Chàm nổi tiếng ảnh hưởng phong cách ấn Độ giáo, khá phát triển.
3.3. Gốm từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV
Thế kỷ thứ X đánh dấu thời kỳ phục hồi độc lập dân tộc sau mười thế
kỷ bị phong kiến phương Bắc đô hộ, mở ra giai đoạn phục hưng văn hoá
dân tộc.
Sản phẩm gốm thời kỳ này rất đa dạng và phong phú như thạp, liễn, chậu
ấm chén bát đĩa độc đáo với hoạ tiết chính là hoa, lá, chim, gà , cá, voi, hổ,
các hoa văn trang trí mang dấu ấn của Phật giáo là tôn giáo chính thống của
thời kỳ này.
Thời kỳ này đã bắt đầu có sự hình thành những vùng gốm có tính tập
trung và chuyên môn hóa cao thể hiện là sự hình thành cụm lò gốm Thanh
3.5. Gốm thế kỷ XX
Thời kỳ này xuất hiện các sản phẩm gốm độc đáo mang nguồn gốc
Trung Hoa và đặc biệt xuất hiện sản phẩm sứ, dạng sản phẩm thứ năm của
đồ gốm Việt Nam, làm đầy đủ và phong phú cho bộ sưu tập gốm sứ Việt
Nam từ thời tiền sử đến thời hiện đại.
Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp bắt đầu quá trình khai thác thuộc địa,
bên cạnh các cơ sở sản xuất gốm truyền thống, đã bắt đầu hình thành các cơ
sở gốm mới phần lớn của người Hoa ở Quảng Đông, Triều Châu, Phúc
Kiến sang sử dụng nguyên liệu khai thác tại chỗ cùng người Việt, sản xuất
chủ yếu đồ dân dụng, gốm nghệ thuật và gốm kiến trúc. Những cơ sở sản
xuất này nhanh chòng nổi tiếng vào đầu thế kỷ XX như Móng Cái (Quảng
Ninh), Cây Mai (Sài Gòn), Lái Thiêu (Bình Dương), Biên Hoà (Đồng Nai).
Các sản phẩm gốm này tuy mang dấu ấn Nam Trung Hoa, nhưng
càng ngày càng được Việt hoá để đáp ứng nhu cầu trong nước. Bình Dương
nổi tiếng với sản phẩm gốm men màu trên men (bát con gà), gốm hoa lam
kết hợp với gốm men da lươn, gốm men màu vẽ nét chìm hoa văn. Biên
Hoà thì nổi tiếng với loại men lửa trung phát triển do sự đóng góp của
trường Mỹ nghệ đồ gốm và đúc đồng, sản phẩm mang hoa văn chi tiết và
màu sắc tươi tắn rực rỡ.
Sản phẩm sứ Việt Nam ra đời trong những năm 60 của thế kỷ XX
cùng với sự ra đời của Nhà máy Sứ Hải Dương và sau đó là Nhà máy Sứ
Lào Cai.
Về mặt kỹ thuật, bên cạnh lối trang trí truyền thống, người ta đã áp dụng
nhiều phương pháp trang trí mới như vẽ hoa trên men, in hoa, dán hoa và
trang trí men màu từ các loại ô xít. Một số nhà máy sản xuất sứ gia dụng
còn được trang bị hệ thống thành hình xây máy, ép lăn, đổ rót, đổ rót áp
lực, lò nung lửa đảo, lò nung đường hầm đốt bằng khí gas hiện đại.
Mỹ Gốm sứ Bát Tràng có phong cách riêng bởi sự nổi trội của 5 dòng
men khác nhau là men nâu, men lam, men trắng ngà, men xanh rêu và men
rạn. Gốm Bát Tràng tường chỉ nung một lần, nặng lửa nên sản phẩm đanh,
bền và chín đều. Sứ Bát Tràng làm từ đất cao lanh chịu nhiệt cao (1300
0
C).
Đồ gốm Bát Tràng được sản xuất theo dây chuyền thủ công, việc tạo dáng
bằng tay trên bàn xoay đòi hỏi trình độ và tài năng sáng tạo của người thợ
gốm. Hiện nay, Bát Tràng không những là một trung tâm gốm sầm uất mà
còn là một địa chỉ du lịch hấp dẫn, giàu chất văn hoá đối với khách du lịch
trong và ngoài nước.
2. Chu Đậu
Chu Đậu là tên lò gốm thuộc huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương, xuất
hiện từ thời Lý- Trần, phát triển rực rỡ vào thế kỷ XV- XVI và đã tàn lụi
vào thế kỷ XVII. Gốm Chu Đậu là tên gọi chung cho các lò gốm thuộc các
địa danh như Trạm Điền, Vạn Yên, Bãi Trụ, Phúc Láo, làng Ngói, làng
Cậy, Linh Xá, Chu Đậu, Quao, Bá Thuỷ, Hợp Lễ, Xích Đằng mà nay chỉ
còn làng Cậy và làng Quao là còn tiếp tục sản xuất. Gốm Chu Đậu đang
được sản xuất trở lại theo hướng phục hồi toàn bộ những màu men cổ xưa
của làng nghề Chu Đậu tại Xí nghiệp Gốm Chu Đậu, trực thuộc Công ty
Haprosimex Sài Gòn. Gốm Chu Đậu có hình dáng được kế thừa sự thanh
thoát của thời Lý, chắc khoẻ của thời Trần với các loại men trắng trong,
hoa lam, men ngọc, xanh lục, xanh rêu, vàng nhạt, vàng đậm, men tam thái.
Chu Đậu có năng lực sản xuất 60 container/năm với doanh thu 1 000 000
USD/năm đang xuất khẩu sản phẩm sang Tây Ban Nha, Hồng Kông, Nhật
Bản, Mỹ và được khách hàng đánh giá rất cao.
3. Phù Lãng
Phù Lãng thuộc huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh bên bờ sông Cầu được
coi là cái nôi của nghề gốm sành. Gốm sành Phù Lãng mang một vẻ rất
Đông Triều được sản xuất từ đất cao lanh chịu lửa được khai thác trên địa
bàn xã Tử Lạng, Hải Dương và đất sét trắng dẻo ở Trúc Thôn. Sản phẩm
Đông Triều nặng lửa, nước men rất trong, sản phẩm bền. Các mặt hàng sứ
Đông Triều đã được xuất sang nhiều quốc gia trên thế giới như Hàn Quốc,
Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất, Đài Loan, Canada
6. Lò Chum
Làng gốm Lò Chum thuộc phường Nam Ngạn, Thanh Hoá, nằm bên
bờ sông Bến Ngự. Làng gốm Lò Chum nằm trên một diện tích khá chật hẹp
chỉ có 0.84 ha và cũng chỉ có trên 300 thợ làm gốm. Năng lực sản xuất là
300 000 USD/năm. Lò Chum nổi tiếng với sản phẩm gốm sành. Gốm Lò
Chum thuộc dòng gốm chịu lửa, thường được nung trong lò bầu ở nhiệt độ
cao lên tới trên 1200
0
C. Sản phẩm Lò Chum bên cạnh hàng dân dụng còn
có các sản phẩm nghệ thuật tinh xảo kết hợp phong phú và đa dạng của
nhiều loại men, chủ yếu là men nâu. Hiện nay gốm Lò Chum đã được xuất
sang các thị trường Nhật, Pháp
7. Biên Hoà
Làng gốm Biên Hoà nằm ở thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai. Gốm
Biên Hoà là sự kết hợp phong cách gốm Việt Nam, gốm Trung Hoa và gốm
Limoge của Pháp. Gốm Biên Hoà nổi tiếng với các loại đôn voi, đôn tròn,
các loại chậu hoa, tượng thú sử dụng men nhẹ lửa, màu men thanh thoát
trắng sữa hay trắng ngà. Các sản phẩm nghệ thuật khai thác văn hoá Chăm
đến các loại tượng dân gian của Việt Nam. Biên Hoà còn nổi tiếng bởi các
sản phẩm gốm đất nung (gốm đỏ) không phủ men. Đồng Nai có 250 doanh
nghiệp , các công ty TNHH và cơ sở sản xuất gốm sứ. Doanh thu hàng năm
là 8 triệu USD. Gốm Biên Hoà xuất khẩu đi hẫu hết các nước ở khu vực
châu Á, châu Âu, châu Mỹ, đem lại kim ngạch năm sau cao hơn năm trước.
8. Bình Dương
Bình Dương nằm trên cao nguyên giữa sông Sài Gòn và sông Đồng