Lời mở đầu:
Một trong những chủ trơng của Đảng và Nhà nớc ta đồi với khối doanh
nghiệp nhà nớc là phát triển các tổng công ty mạnh theo hớng lập tập đoàn kinh
doanh. Trên thực tế, các doanh nghiệp này cũng đang trong quá trình chuẩn bị để
hoạt động mô hình mới này. Việc hình thành các tập đoàn kinh tế đặt ra yêu cầu
trình bày và cung cấp thông tin hoạt động sản xuất kinh doanh của tập đoàn nh
một thực thể kinh doanh độc lập. Hơn thế nữa, nền kinh tế Việt nam hiện nay đang
chuyển đổi và hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực. Một số nhà đầu t nớc
ngoài, ngân hàng... muốn đầu t liên doanh vào các tập đoàn Việt nam, đều mong
muốn nhận đợc báo cáo tài chính hợp nhất phản ánh trung thực toàn cảnh tình
hình tài chính của tập đoàn mà họ dự định đầu t và cho vay.
Tuy nhiên báo cáo tài chính hợp nhất của các tập đoàn kinh tế hiện nay là
vấn đề mới mẻ. Hiện nay, hệ thống báo cáo tài chính tổng hợp áp dụng cho mô
hình tổng công ty bộc lộ nhiều nhợc điểm là không cung cấp đợc thông tin đầy đủ,
tin cậy và có giá trị cho các đối tợng sử dụng. Để đảm bảo cho thông tin mà báo
cáo tài chính hợp nhất cung cấp có chất lợng và độ tin cậy cao đáp ứng yêu cầu
thông tin đa dạng của nhiều đối tợng cần phải xây dựng hệ thống báo cáo tài chính
hợp nhất cho mô hình tập đoàn kinh tế hay các tổng công ty hoạt động theo mô
hình công ty mẹ- công ty con tại Việt nam
Chính vì lý do đó, em đã chọn đề tài: Bàn về hệ thống báo cáo tài chính
hợp nhất trong các tập đoàn kinh tế ở Việt nam
Nội dung của đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận còn các phần chính
sau:
Khái quát chung về tập đoàn kinh tế
Tập đoàn kinh tế tron điều kiện ở Việt nam
Khái quát chung về báo cáo tài chính hợp nhất trong các TĐKT
Phơng pháp và cách thức hoàn thiện báo cáo tài chính hợp nhất
1
Phần I
Khái quát chung về tập đoàn kinh tế
I. Khái niêm về tập đoàn kinh tế
Tập đoàn kinh tế là một tổ hợp các công ty bao gồm công ty mẹ và các công ty
thành viên
Đa số các tập đoàn kinh tế là sự kết hợp của nhiều đơn vị thành viên, các doanh
nghiệp thành viên chịu sự chi phối của doanh nghiệp mẹ thông qua việc doanh
nghiệp mẹ nắm cổ phần chi phối các doanh nghiệp thành viên. Tuy nhiên các
doanh nghiệp thành viên cũng có thể nắm cổ phần của nhau, chi phối lẫn nhau tạo
thành mối quan hệ đan chéo và gắn kết chặt chẽ
Có quy mô rất lớn về vốn, lao động, doanh thu và thị trờng
Hầu hết các tập đoàn kinh tế đều có quy mô lớn và rất rộng có những tập đoàn
kinh tế có quy mô mở rộng đến hàng trăm nớc nh : Cocacola, IBM, Toyota...
Tính kinh doanh đơn ngành và đa ngành
Xét về bản chât, tập đoàn kinh tế là một tổ chức kinh tế vừa mang tính hoạt
động đơn lẻ của một đơn vị thành viên, vừa mang tính đặc trng của một hiệp hội
kinh tế phục vụ lợi ích chung của các đơn vị thành viên. Thực tiễn hoạt động của
các tập doàn kinh tế trên thế giới cho thấy đặc điểm hoạt động của tập đoàn là đa
ngành. Tuy nhiên, xu hớng hoạt động dơn ngành hay đa ngành đều có những hạn
chế nhất định: hoạt động đa ngành thể hiện ở phạm vi rộng, phân tán rủi ro đồng
thời tăng khả năng chi phối thị trờng nhng lại hạn chế ở điểm khó tập trung đợc
năng lực mũi nhọn, thiếu tính chuyên sâu. Hoạt động đơn ngành thì có thế mạnh
phát triển theo chuyên môn hoá sâu, khai thác đợc thế mạnh về chuyên môn, bí
quyết công nghệ, uy tín trong ngành, nhng lại hạn chế về phạm vi thị trờng và dễ
bị rủi ro khi ngành đó bị khủng hoảng về một lý do khách quan nào đó. Tuy
nhiên qua thực tiễn hoạt động của các tập đoàn kinh tế, có thể thấy xu hớng hoạt
động kinh doanh đa ngành tỏ ra rất phổ biến.
3
Tính đa dạng về t cách pháp nhân:
Về t cách pháp nhân của tập đoàn kinh tế, có những tập đoàn kinh tế là pháp
nhân kinh tế gồm nhiều doanh nghiệp thành viên có quan hệ với nhau về sản
xuất, kinh doanh và tài chính trên quy mô lớn. Một số tập đoàn khác có thể
không phải là một pháp nhân kinh tế, mà các đơn vị thành viên lại là các pháp
nhiều cấp, nhiều bộ phận. Công ty mẹ có tiềm năng lớn thực hiện chức năng trung
tâm nh xây dung chiến lợc kinh doanh, tiếp thị, phát triển sản phẩm, huy động và
phân bổ vốn đầu t quan hệ đối ngoại, đào tạo nhân lực, lắp ráp hoàn chỉnh sản
phẩm nổi tiếng Công ty mẹ kiểm soát một mạng l ới các công ty con, các công
ty cháu theo dạng hình chóp (cấp 1, cấp 2, cấp 3), tạo thành một quần thể doanh
nghiệp khổng lồ. Sự phối hợp và kiểm soát hoạt động của công ty mẹ với các công
ty con, công ty cháu đợc thực hiện rất chặt chẽ, thông qua chiến lợc sản phẩm và
kế hoạch kinh doanh đồng bộ từ trên xuống dới. Công ty mẹ tham gia góp cổ
phần, trợ giúp về mặt kỹ thuật, đào tạo cán bộ.
3. Mô hình liên kết giữa nghiên cứu khao học với sản xuât kinh doanh.
Theo dạng này, công ty mẹ thờng là những trung tâm nghiên cứu ứng dụng
lớn, lấy việc phát triển công nghệ mới là đầu mối cho sự liên kết. Các công ty con
là những đơn vị sản xuất, kinh doanh có chức năng ứng dụng nhanh kết quả
nghiên cứu công nghệ mới của công ty mẹ, biến nó thành sản phẩm có u thế trên
thị trờng. Năng lực cạnh tranh của cả tập đoàn chính là ở khả năng liên kết, từ
nghiên cứu đến ứng dụng.
Tuy các dạng liên kết giữa công ty mẹ với công ty con dựa trên những nền
tảng khác nhau, phù hợp với từng hình thức sản phẩm khác nhau, song suy cho
cùng đều là sự chi phối bởi yếu tố tài sản, trong đó bào gồm cả tài sản hữu hình,
xác định đợc bằng lơng nh: TSCĐ; TSLĐ và tài sản vô hình, không xác định
đuợc bằng lợng nh: sỏ hữu công nghiệp, phát minh khao học, uy tín sản phấm, thị
trơng sức mạnh chi phối của công ty mẹ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng nắm
giữc các nguồn tài sản trên và chính những nguồn tài sản vô hình có tác dụng hỗ
5
trợ hiệu quả, tạo cơ sở vững chắc để củng cố, tăng cờng quan hệ hợp tác và lợi ích
kinh tế giữa công ty mẹ với các công ty con.
IV. Điều kiện hình thành công ty mẹ công ty con.
Theo chuẩn mực quốc tế thì mô hình công ty mẹ công ty con phải thoả mãn
những điều kiện sau:
Công ty mẹ là công ty có một hoặc nhiều công ty con. Công ty con là công ty
theo cơ chế quản lý cũ không còn phù hợp.
Tăng quyền tự chủ cho doanh nghiệp: tiến hành liên kết trên cơ sở bình đẳng,
tôn trọng lợi ích của nhau, giảm bớt sự liên kết theo kiểu mệnh lệnh hành chính
; thực hiện tổ chức bộ máy gọn nhẹ, gắn kết với nhau bằng cơ chế vốn linh
hoạt.
V.2 Nhợc điểm
- Do công ty mẹ nắm giữ và chi phối vốn đầu t nên luôn có quyền quyết định
tối cao về chiến lợc và nhân sự cấp cao
- Các công ty con tuy hoạt động kinh doanh độc lập nhng hoạt động của nó
phải theo đúng định hớng chiến lợc của công ty mẹ
- Nếu công ty con gặp khó khăn hay phá sản thì công ty mẹ chỉ chịu thua lỗ
chứ không làm công ty mẹ phá sản. nhng ngợc lại khi công ty mẹ gặp khó
khăn, các công ty con sẽ chịu tác động nặng nề đặc biệt khi công ty mẹ phá
sản thì các công ty con cũng bị phá sản theo
- Mô hình công ty mẹ- công ty con chỉ thực sự đạt hiệu quả khi nó tuân theo
quy luật tích tụ và tập trung của kinh tế thị trờng. Trái điều này hẳn mô hình
sẽ sụp đổ.
7
Phần II:
Tập đoàn kinh tế trong điều kiện ở Việt Nam.
I.Tính tất yếu của việc hình thành các tập đoàn kinh tế ở Việt
Nam và những định hớng.
I.1. Tính tất yếu:
Do sự phát triển của kinh tế thị trờng, sự tích tụ, tập trung chuyên môn hoá
và sự hợp tác hoá sản xuất, do nhiều nhân tố khác của kinh tế xã hội, khoa học
công nghệ, khoa học quản lý, từ lâu nhiều doanh nghiệp đơn lẻ ở các nớc kinh tế
phát triển đã liên kết lại với nhau, dần hình thành những tổ hợp kinh tế quy mô lớn
về ngành nghề và về lĩnh vực kinh doanh, phạm vi hoạt động không chỉ một địa
phơng mà liên kết toàn cầu. Năm 1980, thế giới có 12000 công ty xuyên quốc gia
với 122 000 chi nhánh ở nớc ngoài. Năm 1989, số công ty xuyên quốc gia đã lên
quá trình tự tích luỹ từ kết quả sản xuất kinh doanh sẽ dần mở rộng sang các
lĩnh vực khác nh thơng mại, dịch vụ để hớng tới kinh doanh đa ngành và dần
dần thực hiện đa sở hữu.
- TĐKT dạng concern liên kết theo ngành dọc. Tập đoàn này có thể bao
gồm các hoạt động sản xuất, thơng mại dịch vụ có liên quan đến sản phẩm
chuyên ngành. Loại hình TĐKT này có khả năng hoạt động tốt vì nó có cơ sở
để hình thành trong điều kiện ở Việt Nam hiện nay các công ty thơng mại
dịch vụ của tập đoàn sản xuất ban đầu sẽ hoạt động trong một số lĩnh vực
chuyên môn hoá với một số loại sản phẩm dịch vụ của tập đoàn sản xuất
chuyên ngành. Qua quá trình hoạt động, cùng với sự phát triển của tập đoàn,
các công ty vệ tinh này sẽ mở rộng sang các lĩnh vực khác để hớng tới đa
ngành.
- Loại hình tập đoàn đa ngành: Loại hình này có đặc điểm là các công ty thành
viên ít có mối quan hệ hoặc không cần có mối quan hệ về công nghệ nhng lại
có mối quan hệ chặt chẽ về tài chính, thực chất đây là việc một tổ chức tài
chính thực hiện đầu t vào các công ty kinh doanh tạo ra một chùm các
9
doanh nghiệp tài chính công nghiệp để hỗ trợ vốn đầu t cho các công ty
thành viên có hiệu quả cao.
Theo mô hình này, các đơn vị thành viên ít có quan hệ mật thiết, thậm chí
không có quan hệ nào liên quan đến sản xuất. Mối quan hệ ở đây chủ yếu là hành
chính và tài chính.
Tuy loại hình tập đoàn này thể hiện xu thế phát triển hiện nay nhng lại là giai
doạn cao của phát triển các tập đoàn, do đó đòi hỏi phải có những tiền đề cần thiết.
Trong khi đó, hiện nay, chúng ta cha hội tụ đủ những điều kiện nên lại hình tập
đoàn này vợt quá khả năng và trình độ của chúng ta hiện nay. Nếu thành lập và
phát triển loại hình này sẽ gặp nhiều khó khăn và không đem lại hiệu quả.
Tuy nhiên cho dù lựa chọn loại hình TĐKT nào, chúng ta cũng nên chủ động
ngay từ đầu thành lập một công ty tài chính riêng của tập đoàn để khơi thông các
luồn vôn phục vụ cho tích tụ đầu t, nâng cao hiệu qủa của việc sử dụng vốn, dần
mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của các TCT hiện nay. Nghị quyết Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ 9 đã nêu những định hớng về cơ chế, chính sách và các
giải pháp chủ yếu thực hiện nhiệm vụ kế hoạch 5 năm (2001 2005), trong đó đã
khẳng định một nhiệm vụ quan trọng là hoàn thành cơ bản việc sắp xếp, tổ chức
lại và đổi mới quản lý DNNN trong đó cần kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu
ủa của các TCT theo mô hình công ty mẹ công ty con, kinh doanh đa ngành
tổng hợp trên cơ sở ngành chuyên môn hoá, gọi vốn thuộc nhiều thành phần kinh
tế cùng tham gia kinh doanh, làm nòng cốt dể hình thành một số tập đoàn kinh tế
mạnh ở một số ngành và lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế quốc dân nh bu chính
viễn thông, hàng không, dầu khí
Với nhiệm vụ quan trọng nh trên, chính phủ đang tiếp tục khẩn trơng nghiên
cứu để đa ra những sửa đổi cần thiết trong luật DNNN, trong đó có quy định về tổ
chức hoạt động và chuyển đổi tông công ty, DNNN theo mô hình công ty mẹ
con. Đây là vấn đề còn mới ở nớc ta, các tập đoàn đa và xuyên quốc gia lớn đều áp
dụng mô hình công ty mẹ công ty con do những u điểm của nó. Đó là:
Địa vị pháp lý của các công ty con có tính độc lập tơng đối, là những pháp
nhân chịu trách nhiệm trớc pháp luật nh đối với công ty mẹ.
11
Các công ty con đợc bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong quyết
định phơng án đầu t sản xuát, kinh doanh trong chiến lợc phát triển chung của
công ty.
Cơ chế giao vốn thay thế bằng cơ chế góp vốn rõ ràng, thể hiện rõ trách nhiệm
và quyền hạn của công ry mẹ (hoặc công ty đầu t tài chính trong công ty mẹ)
trong việc đầu t vốn cho các công ty con.
Các công ty con hoạt động theo tôn chỉ mục đích phát triển chung của công ty
mẹ và có mối quan hệ chặt chẽ với các công ty con khác trong công ty mẹ.
Bảo đảm sự chặt chẽ trong hoạt động của các công ty, công ty mẹ vẫn thực
hiện chế độ giám sát đối với các công ty con, công ty con thực hiện các chế độ
BCTC, kết qủa sản xuất kinh doanh định kì với công ty mẹ. Với mô hình công
ty mẹ công ty con, nh vậy , các công ty con đựoc tự chủ và tự chịu trách
___ Quan hệ chi phối. Nắm giữ trên 50% quyền biểu quyết; hoặc nắm
giữ quyền chỉ định đa số thành viên hội đồng quản trị;hoặc giữ
quyền biểu quyết đa số trong hội đồng quản trị
---- Quan hệ không chi phối
+ Công ty A là mẹ công ty B, công ty C, đồng thời cũng là mẹ công ty G và công
ty H
+ Công ty B, công ty C là con của công ty A
+ Công ty G, công ty H là con của công ty B đồng thời là con của công ty A
+ Công ty A với công ty D và công ty B với công ty E chỉ là mối liên kết không
phải là mối quanf
hệ mẹ- con
- Tập hợp công ty A, công ty B, công ty C, công ty G, công ty H là tập đoàn
Vậy tập đoàn là một tổ hợp gồm công ty mẹ và các công ty con
II. Những định hớng về cơ chế tài chính của mô hình công ty
mẹ- công ty con
1. Về quản lý vốn và tài sản
+ Nguyên tắc cơ bản trong vận hành và hoạt động của tổng công ty theo mô hình
công ty mẹ- công ty con là dựa trên các quan hệ về đầu t và sở hữu về vốn, tài sản
giữa công ty mẹ và công ty con
+ Công ty mẹ đợc phép sử dụng vốn và tài sản thuộc quyền quản lý sử dụng của
mình để đầu t ra ngoài doanh nghiệp bao gồm: đầu t thành lập doanh nghiệp có
100% vốn điều lệ thuộc sở hữu của công ty mẹ và do công ty mẹ là chủ sở hữu,
13
Công ty B Công ty C
Công
ty H
Công
ty G
Công ty D
Công
luật. Việc hạch toán giá trị tài sản d thừa, thiếu hụt đợc thực hiện theo quy định
chung của Nhà nớc.
+ Việc hạch toán, xác định giá trị của tài sản lu động là hàng hoá tồn kho phải
thực hiện theo đúng quy định của chuẩn mực kế toán. Trờng hợp giá gốc ghi trên
14
sổ kế toán cao hơn giá trị thuần có thể thực hiện thì công ty phải trích lập dự
phòng giảm giá hàng tồn kho.
+ Các khoản nợ phải thu, phải trả công ty mẹ phải mở sổ sách theo dõi các khoản
công nợ theo từng đối tợng, thờng xuyên phân tích, đôn đốc thu hồi nợ phải thu và
thanh toán nợ phải trả. Trớc khi khoá sổ kế toán để lập BCTC hàng năm, công ty
phải kiểm kê, đối chiếu từng khoản nợ với các chủ nợ và khách nợ. Các khoản nợ
phải thu xác định là khó đòi, công ty phải trích lập dự phòng và đợc xử lý theo quy
định.
2. Quản lý doanh thu và chi phí
+ Doanh thu, thu nhập của công ty mẹ là toàn bộ số tiền đã thu, hoặc sẽ thu do
việc cung cấp sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, các hoạt động tài chính và hoạt động
khác của công ty mẹ. Trờng hợp công ty mẹ đợc chia lợi nhuận trớc thuế thì số
tiền thu đợc hạch toán vào thu nhập tài chính và phải nộp thuế thu nhập doanh
nghiệp. Nếu đợc chia lợi nhuận sau thuế, công ty hạch toán vào thu nhập tài chính
và không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản này.
+ Chi phí hoạt động kinh doanh của công ty mẹ là toàn bộ chi phí thực tế của
công ty đã bỏ ra trong kỳ để phục vụ cho quá trình hoạt động kinh doanh, bao gồm
cả giá trị tài sản tổn thất và trích lập các khoản dự phòng theo quy định.
+ Việc xác dịnh các khoản doanh thu, thu nhập nói trên cũng nh việc hạch toán
chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh, tính giá thành sản phẩm hàng hoá, chi phí
dịch vụ thực hiện trong kì và xác định kết quả kinh doanh (lãi, lỗ) của công ty mẹ
thực hiện theo đúng quy định hiện hành của Bộ tài chính và các văn bản hớng dẫn
các chuẩn mực kế toán.
+ Các công ty con trong tổng công ty là các tổ chức kinh tế có t cách pháp nhân
thực hiện tự chủ kinh doanh, tự chủ tài chính theo quy định của pháp luật và theo
động hội nhập kinh tế thế giới và khu vực.
+ Tạo ra một khoản đóng góp lớn cho ngân sách Nhà nớc, góp phần quan trọng
vào mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của đất nớc.
16
Phần III
Khái quát chung về báo cáo tài chính hợp nhất
trong các tập đoàn kinh tế.
I. Khái niệm BCTC hợp nhất và sự cần thiết phải lập BCTC hợp
nhất trong TĐKT.
Việc hình thành các TĐKT đặt ra yêu cầu trình bày và cung cấp thông tin
về hoạt động sản xuất, kinh doanh của tập đoàn nhu một doanh nghiệp đơn lẻ. Tập
đoàn kinh tế bao gồm công ty mẹ và các công ty con. Công ty mẹ và các công ty
con đều phải mở sổ kế toán để ghi chép kế toán và đều phải lập đầy đủ các BCTC,
trình bày các thông tin về tình hình tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí, kết quả
hoạt động, lợng tiền vào ra trên các báo cáo: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả
kinh doanh và báo cáo lu chuyển tiền tệ. Song song với việc thành lập các báo cáo
trên, công ty mẹ phải lập BCTC hợp nhất theo luật định. Đây là công việc mang
tính bắt buộc.
Hệ thống báo cáo tài chính hợp nhất là các báo cáo tài chính về tình hình tài
sản, kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của chung cả tập đoàn nh một doanh
nghiệp đơn lẻ (một thực thể duy nhất). Trong đó, hệ thống báo cáo thài chính hợp
nhất bao gồm:
1. Bảng cân đối kế toán hợp nhất
2. Báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất
3. Báo cáo lu chuyển tiền tệ hợp nhất.
II. Sự cần thiết phải lập BCTC hợp nhất trong các TĐKT.
Kinh nghiệm từ sự đổ vỡ của một tập đoàn lớn trên thế giới trong thời gian
gần đây cho thất nhiều tập đoàn đã lợi dụng tính phức tạp trong công tác kế toán
và lập báo cáo tài chính hợp nhất để đánh lừa các cơ quan pháp luật và các cổ
đông cũng nh các nhà đầu t tiềm năng để rồi dẫn đến sự phá sản gây tổn thất lớn