Hoàn thiện quy trình lập báo cáo tài chính hợp nhất cho các tập đoàn kinh tế VN theo chuẩn mực KTQT - Pdf 10

MUÏC LUÏC
Chương 1: Bản chất và những nội dung cơ bản của việc lập và trình bày báo cáo tài
chính hợp nhất ................................................................................................................. 1
1.1 Bản chất BCTCHN ................................................................................................. 1
1.1.1 Khái niệm ............................................................................................................... 1
1.1.2 Mục đích và ý nghĩa ................................................................................................ 1
1.1.3 Hợp nhất kinh doanh và báo cáo tài chính hợp nhất ................................................. 2
1.2 Những nội dung cơ bản của việc lập và trình bày BCTCHN..................................... 5
1.2.1 Phạm vi hợp nhất : .................................................................................................. 5
1.2.2 Kế toán tại ngày hợp nhất ........................................................................................ 6
1.2.3 Kế toán sau ngày hợp nhất ....................................................................................... 11
Chương 2 : Thực tế việc lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất tại Việt Nam .... 12
2.1 Một số vấn đề của BCTCHN ................................................................................... 12
2.1.1 SPE (special purpose entities) – Các đơn vị được thành lập với mục đích đặc biệt ... 12
2.1.2 Lợi thế thương mại: ............................................................................................... 15
2.1.3 Giao dịch nội bộ ...................................................................................................... 18
2.2 Các chuẩn mực và qui định hiện hành về lập và trình bày BCTCHN tại Việt
Nam....19
2.2.1 Các chuẩn mực pháp lý đựơc ban hành tại Việt Nam ............................................... 19
2.2.2 Các qui định đầu tiên về BCTCHN tại Việt Nam ..................................................... 20
2.2.3 So sánh các chuẩn mực kế toán Việt Nam với các chuẩn mực kế toán quốc tế
về báo cáo tài chính hợp nhất ......................................................................................... 23
2.3 Khảo sát báo cáo tài chính hợp nhất trên thực tế....................................................... 26
2.3.1 2.3.1 Sơ lược công ty FPT ...................................................................................... 26
2.3.2 Phân tích báo cáo tài chính hợp nhất của FPT ..................................................... 51
Chương 3 : Vận dụng chuẩn mực quốc tế để hòan thiện hệ thống BCTCHN ở các
tập đòan kinh tế Việt nam theo mô hình công ty mẹ - con ............................................ 27
3.1 - Nguyên tắc hoàn thiện kĩ thuật lập báo cáo tài chính hợp nhất trong các tập đoàn
kinh tế Việt Nam theo mô hình công ty mẹ - con ............................................................... 27
3.2 - Các giải pháp hoàn thiện kĩ thuật lập báo cáo tài chính hợp nhất trong các tập đoàn
kinh tế Việt Nam theo mô hình công ty mẹ - con ............................................................... 28

Do đó công trình nghiên cứu này nhằm mục đích khái quát lại BCHN, tìm ra giải
pháp và hứơng dẫn doanh nghiệp có thể định hứơng và thực hiện theo đúng chuẩn mực
Việt Nam và phù hợp với thông lệ quốc tế. Vì hạn hẹp về thời gian nghiên cứu nên công
trình này chỉ giới hạn nghiên cứu ở loại hình công ty mẹ-con (subsidiary), không đi sâu
vào các công cụ tài chính trong hoạt động đầu tư.
Chương 1:
BẢN CHẤT VÀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA VIỆC LẬP VÀ
TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH HỢP NHẤT
1.1 Bản chất báo cáo tài chính hợp nhất (BCTCHN)
1.1.1 Khái niệm
Trong nền kinh tế hiện đại, các doanh nghiệp có thể đầu tư vào doanh nghiệp khác để
được chia lợi nhuận hay thực hiện những chiến lược kinh doanh của mình. Ở một mức độ
đầu tư nhất định, doanh nghiêp đầu tư có quyền chi phối các chính sách tài chính và hoạt
động của doanh nghiệp nhận đầu tư, khi đó doanh nghiệp đầu tư được gọi là đã nắm
quyền kiểm soát. Doanh nghiệp nắm quyền kiểm soát trở thành công ty mẹ và doanh
nghiệp nhận đầu tư trở thành công ty con. Lúc này, một tập đoàn đã hình thành.
Báo cáo tài chính hợp nhất là báo cáo tài chính của một tập đoàn được trình bày như
báo cáo tài chính của một doanh nghiệp. Báo cáo này được lập trên cơ sở hợp nhất báo
cáo tài chính thể hiện hoạt động kinh doanh của công ty mẹ và các công ty con.
1.1.2 Mục đích và ý nghĩa
Về mặt pháp lý, công ty mẹ và các công ty con hoàn toàn độc lập với nhau. Mỗi công
ty là một đơn vị kế toán và có báo cáo riêng của mình. Tuy nhiên, báo cáo tài chính của
công ty mẹ không cung cấp cho người đọc đủ các thông tin cần thiết về các công ty con
để có một sự đánh giá tin cậy về hoạt động của tòan tập đòan. Mục đích của báo cáo tài
chính hợp nhất là báo cáo tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của tập đòan như một
đơn vị kinh doanh duy nhất, trong đó phản ảnh toàn bộ tài sản do tập đoàn kiểm soát và
các nghĩa vụ đi kèm cũng như doanh thu và lợi nhuận mà tập đoàn đã thực hiện đối với
bên ngoài.
Vì vậy, báo cáo tài chính hợp nhất rất quan trọng cho việc phân tích tình hoạt động
kinh doanh của tập đòan. Thiếu báo cáo tài chính hợp nhất, người sử dụng sẽ không có

1.1.3.2 Mối quan hệ giữa hợp nhất kinh doanh và BCTCHN
Hợp nhất kinh doanh là điểm khởi đầu của 1 quá trình hợp nhất kinh doanh, kế toán
hợp nhất kinh doanh chính là việc tập hợp và xử lý các báo cáo tài chính riêng của các
công ty thành viên để hình thành ra báo cáo tài chính hợp nhất khi hợp nhất. Hợp nhất
kinh doanh thông qua báo cáo tài chính hợp nhất để cung cấp cho người đọc các thông tin
cần thiết để có thể đánh giá đựơc toàn bộ quá trình hoạt động và kết quả kinh doanh của
tập đòan. Các vấn đề, nghiệp vụ phát sinh trong quá trình hợp nhất sẽ đựơc trình bày rõ
ràng và đầy đủ trên báo cáo tài chính hợp nhất bao gồm các vấn đề như lợi thế thương
mại, chênh lệch giá trị sổ sách và giá trị hợp lý ... Ngoài ra, các hình thức hợp nhất kinh
doanh khác nhau sẽ dẫn đến những phương pháp xử lý khác nhau trên báo cáo tài chính
hợp nhất sau này. Qua đó chúng ta thấy rằng giữa hợp nhất kinh doanh và báo cáo tài
chính hợp nhất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
1.1.3.3 Các hình thức hợp nhất kinh doanh :
Sáp nhập :Một hoặc một số công ty có thể sáp nhập vào 1 công ty khác bằng cách
chuyển tòan bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập,
đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập ( A + B = B) hoặc (A + B = A )
Sáp nhập do mua tài sản là phương pháp theo đó công ty mua bỏ vốn ra để mua toàn
bộ số lượng cổ phần hoặc tài sản của công ty khác để có thể kiểm soát được khả năng ra
quyết định ở công ty đó. Tỷ lệ kiểm soát ở mỗi quốc gia mỗi khác, ở Việt Nam tỷ lệ này
là 75%, trong trường hợp Điêu Lệ công ty quy định mức thấp hơn (tối thiểu là 65%) thì
áp dụng mức đó. Sau khi kết thúc quá trình chuyển nhượng, thì công ty được mua sẽ
chấm dứt họat động ( do bị sáp nhập ) hoặc trở thành 1 công ty con của công ty mua. Khi
trở thành công ty con của công ty mua thì thương hiệu cũ nếu vẫn còn giá trị trên thị
trường thì vẫn có thể được giữ lại như là 1 thương hiệu độc lập hoặc sẽ kết hợp với
thương hiệu của công ty mua để ra 1 sự nhãn hiệu mới
Vi dụ :
Năm 2000, Tập đòan BP đã mua lại 100% cổ phần của công ty Castrol Burmah
nhưng vẫn giữ lại các thương hiệu. Việc hợp nhất này giúp các thương hiệu của BP và
Castrol ngày càng phổ biến rộng rãi hơn trên thị trường.
Hợp nhất :là 2 hoặc một số công ty có thể cùng hợp nhất thành lập1 công ty mới,

vấn đề trong công ty mẹ
Ví dụ : 12/05/2005, Malcolm Glazer đã thành công trong việc giành quyền kiểm soát
đội bóng Manchester United. Quá trình kiểm soát công ty Red Football Ltd của Malcolm
đựơc thể hiện như sau :
Malcolm bắt đầu sở hữu cổ phần của đội bóng vào năm 2003, với số lượng 3,17%,
20/10/2003 ông tiếp tục nâng quỳên sở hữu của mình lên 8,93%, vào ngày 29/11 ông đã
sở hữu đựơc 15% đôi bóng. 12/02/2004, quyền sở hữu nâng lên 16,31%. Vào tháng
06/2004. ông đã đạt được 19% nhưng vẫn chưa phải là cổ đông lớn nhất sở hữu đội bóng.
Vào ngày 12/05/2005, ông đạt đựơc thỏa thuận với 2 cổ đông J.P.McManus và John
Magnier để mua 28,7% cổ phần của đội bóng và đã giúp ông ta trở thành cổ đông lớn
nhất của đội bóng với 57% cổ phần của đội bóng.
1.2 Những nội dung cơ bản của kế toán hợp nhất kinh doanh
1.2.1 Phạm vi áp dụng chuẩn mực về hợp nhất kinh doanh
Theo VAS 11, báo cáo tài chính hợp nhất không đựơc sủ dụng trong các trường hợp
sau :
”Hợp nhất kinh doanh trong trường hợp các doanh nghiệp riêng biệt hoặc các hoạt
động kinh doanh riêng biệt được thực hiện dưới hình thức liên doanh”
Báo cáo tài chính hợp nhất được lập dựa trên cơ sở hợp nhất các báo cáo của công ty
mẹ và con, công ty mẹ là công ty nắm quỳên kiểm soát các chính sách tài chính và hoạt
động của công ty con. Trong khi đó, hình thức liên doanh là 1 thỏa thuận bằng hợp đồng
của hai hay nhiều bên để cùng thực hiện hoạt động kinh tế, mà hoạt động này đựơc đồng
kiểm soát bởi các bên góp vốn liên doanh, điều ấy có nghĩa là sẽ không có bên riêng lẻ
nào có quỳên kiểm soát các chính sách tài chính và hoạt động của tập đòan mà sẽ là các
bên góp vốn liên doanh.Bên cạnh đó, hình thức liên doanh chịu sự chi phối của chuẩn
mực góp vốn liên doanh, không còn nằm trong phạm vi sử dụng của chuẩn mực báo cáo
tài chính hợp nhất Do đó, báo cáo tài chính hợp nhất sẽ không áp dụng đựơc đối với
trừơng hợp này
“Hợp nhất kinh doanh liên quan đến các doanh nghiệp hoặc các hoạt động kinh
doanh cùng dưới một sự kiểm soát chung”
Theo VAS 11, hợp nhất kinh doanh liên quan đến các doanh nghiệp hoặc các hoạt

Phương pháp cộng : thừơng đựơc sử dụng trong các trường hợp hợp nhất các lợi ích,
phương pháp này sử dụng giá trị ghi sổ của các doanh nghiệp khi hợp nhất. Phương pháp
cộng ngang là phương pháp đựơc sử dụng thường xuyên khi hợp nhất vì nó sử dụng đơn
giản dễ sử dụng, tiết kiệm chi phí
Phương pháp mua : thừơng đựơc sử dụng trong các trường hợp hợp nhất do mua bán
doanh nghiệp, phương pháp này sử dụng giá trị hợp lý ( giá trị thị trường ) tại ngày hợp
nhất, điều này sẽ giúp thể hiện chính xác giá trị của các bên khi hợp nhất dựa trên giá trị
thị trường vào thời điểm hợp nhất, tuy nhiên sẽ tốn nhiều thời gian, chi phí để có thể ứng
dụng chính xác phương pháp này
Trong nội dung trứơc đây của chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 22, mặc dù đã hạn chế
phạm vi hợp nhất kinh doanh sử dụng phương pháp cộng ngang nhưng theo các nhà phân
tích và người sử dụng báo cáo tài chính đã đề cập rằng, sử dụng 2 phương pháp kế toán
cho việc hợp nhất kinh doanh sẽ làm giảm tính so sánh của báo cáo tài chính do 2 phương
pháp này sẽ cho ra kết quả khác nhau, chúng không thể so sánh cho nhau cho cùng 1
trừơng hợp hợp nhất kinh doanh, bên cạnh đó, việc sử dụng mỗi phương pháp lại cho kết
quả khác nhau, do đó người lập sẽ sử dụng phương pháp nào mang lại kết quả tôt nhất,
điều này sẽ làm cho báo cáo hợp nhất của tập đòan sẽ không chính xác do số liệu đã đựơc
xử lý để kết quả hoạt động kinh doanh tốt đẹp hơn. Đứng trứơc vấn đề này, hội đồng biên
soạn các chuẩn mực kế toán quốc tế đã nghiên cứu và tìm hiểu nhằm chọn ra 1 phương
pháp tối ưu để sử dụng khi lập báo cáo tài chính hợp nhất.
1.2.2.1 Hạn chế của phương pháp cộng ngang :
Trong quá khứ, phương pháp cộng ngang đối với các trừơng hợp hợp nhất các lợi ích
đã tập trung vào các trừơng hợp hợp nhất các đơn vị sáp nhập lợi ích lại với nhau vì trong
những trừơng hợp như vậy lợi ích quỳên sở hữu vẫn đựơc duy trì, không có khoản vốn
mới nào đựơc đầu tư và không có tài sản nào đựơc cung cấp, giá trị tài sản và nợ phải trả
của các đơn vị hợp nhất sẽ dựa trên giá trị sổ sách trước khi hợp nhất và sẽ không có giá
trị bổ sung được ghi nhận trong quá trình hợp nhất ( giá trị chênh lệch giữa giá trị sổ sách
và gia trị thị trường tại thời điểm hợp nhất ), lợi ích của quyền sở hữu sau khi hợp nhất tỷ
lệ tương ứng với phần trứơc khi hợp nhất và các trường hợp như vậy đựơc thành lập
nhầm mục đích thống nhất chiến lược hoạt động kinh doanh

rộng rãi hơn vì tính hợp lý của nó
1.2.2.2 Nội dung của phương pháp mua :
Theo VAS 11, các bản báo cáo tài chính được ghi nhận theo phương pháp mua, đây là
phương pháp đơn giản, dễ thực hiện, phương pháp này phù hợp với phương pháp hạch
toán của nguyên tắc giá gốc. Hiện nay, phương pháp mua đang đựơc sử dụng rộng rãi và
phù hợp với xu hướng trên thế giới, khi IFRS 3 ra đời thay cho ISA 22 – Chuấn mực kế
toán quốc tế về hợp nhất kinh doanh thì phương pháp mua là phương pháp duy nhất được
sử dụng sau khi đã lọai bỏ phương pháp cộng ngang .
Phương pháp mua xem xét việc hợp nhất kinh doanh trên quan điểm là doanh nghiệp
thôn tính các doanh nghiệp khác được xác định là bên mua. Bên mua mua tài sản thuần
và ghi nhận các tài sản đã mua, các khoản nợ phải trả và nợ tiềm tàng phải gánh chịu, kể
cả những tài sản, nợ phải trả và nợ tiềm tàng mà bên bị mua chưa ghi nhận trước đó.
Việc xác định giá trị tài sản và nợ phải trả của bên mua không bị ảnh hưởng bởi giao
dịch hợp nhất cũng như không một tài sản hay nợ phải trả thêm nào của bên mua được
ghi nhận là kết quả từ giao dịch do chúng không phải là đối tượng của giao dịch này Áp dụng phương pháp mua gồm các bước sau:
Xác định bên mua : trong mọi trường hợp nhất kinh doanh, bên mua cần phải đựơc
xác định, bên mua là bên bỏ tiền hay tài sản của mình ra để giành được quỳên kiểm soát
các hoạt động ở doanh nghiệp bị mua
Quyền kiểm soát là quyền chi phối các chính sách tài chính và hoạt động của doanh
nghiệp nhằm thu được lợi ích kinh tế từ các hoạt động của doanh nghiệp đó. Một doanh
nghiệp tham gia hợp nhất sẽ được coi là nắm được quyền kiểm soát của doanh nghiệp
tham gia hợp nhất khác khi doanh nghiệp đó nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua
công ty con của mình trên 50% quyền biểu quyết của doanh nghiệp khác trừ khi quyền sở
hữu đó không gắn liền quyền kiểm soát hoặc có các qui định khác trong doanh nghiệp.
Trong trường hợp, bên mua không nắm giữ trên 50% quyền biểu quyết của doanh nghiệp
tham gia hợp nhất thì họ vẫn có được quyền kiểm soát các doanh nghiệp tham gia hợp
nhất nếu :

trị còn lại của khỏan hõan lại (như là 1 khỏan nợ) trong bảng cân đối của nó sau khi hợp
nhất. Giá phí hợp nhất kinh doanh còn bao gồm các chi phí liên quan trực tiếp đến việc
hợp nhất kinh doanh, như chi phí trả cho kiểm toán viên, tư vấn pháp lý, thẩm định viên
về giá và các nhà tư vấn khác về thực hiện hợp nhất kinh doanh. Các chi phí quản lý
chung và các chi phí khác không liên quan trực tiếp đến một giao dịch hợp nhất kinh
doanh cụ thể thì không được tính vào giá phí hợp nhất kinh doanh, mà được ghi nhận là
chi phí trong kỳ phát sinh.
Một số trừơng hợp xác định giá phí hợp nhất kinh doanh :
- Khi hợp nhất kinh doanh, bên mua có thể phát hành các công cụ vốn để trao đổi
quyền kiểm soát ở bên bị mua, giá trị hợp lý của các công cụ vốn này sẽ đựơc xác định
theo giá trị thị trừơng. Trong một số trừơng hợp, giá trị thị trừơng của công cụ vốn có thể
bị xác định không đáng tin cậy khi nó đựơc giao dịch trên 1 thị trừơng nhỏ, ít nghiệp vụ
giao dịch, lúc này người mua sẽ sử dụng 1 số phương pháp ứơc tính khác.
- Khi điều chỉnh lại giá trị hợp lý của các tài sản của công ty bị hợp nhất, tổng giá trị
của các khỏan điều chỉnh sẽ đựơc đưa vào giá trị còn lại của tại sản khi xuất hiện trên trên
sổ của công ty con và toàn bộ số tổng sẽ được bao hàm trong bảng cân đối hợp nhất .Số
tổng của các khoản điều chỉnh cũng được gộp vào lợi thế thương mại. Đôi khi, công ty
con sẽ đánh giá lại tài sản của mình theo giá trị hợp lý trong bảng báo cáo tài chính của
mình trước báo cáo tài chính hợp nhất để thuận lợi cho việc hợp nhất. Đôi khi, công ty
con sẽ đánh giá giá trị của các tài sản của mình theo giá mà công ty mẹ mua công ty con
thay vì theo giá gốc của công ty con. Giá mua của công ty mẹ sẽ được thể hiện ở trong
bảng báo cáo tài chính của công ty con. Khi tính toán lại các khỏan điều chỉnh liên quan
đến việc khấu hao các tài sản dài hạn, kĩ thuật trên vẫn sẽ được sử dụng nhưng có một
vấn đề phức tạp hơn, trong trừơng hợp sau ngày hợp nhất kinh doanh, khấu hao của tài
sản đựơc mua phải được dựa trên giá trị hợp lý của nó, trong khi đó, ở báo cáo tài chính
riêng của công ty con thì khấu hao dựa trên giá trị còn lại của tài sản. Báo cáo tài chính
hợp nhất sẽ phải sử dụng bút toán điều chỉnh giá trị khấu hao tài sản. Giá trị có thể đựơc
tính toán dựa trên thời gian hữu ích hay còn gọi là thời gian còn lại của tài sản tại ngày
hợp nhất. Tổng các khỏan điều chỉnh ( giả sử giá trị hợp lý lớn hơn giá trị còn lại ) sẽ làm
giảm lợi nhuận của công ty con sau khi hợp nhất ( có thể ảnh hửơng đến quỳên lợi cổ

tuỳ thuộc vào các sự kiện trong tương lai, bên mua phải điều chỉnh vào giá phí hợp nhất
kinh doanh tại ngày mua nếu khoản điều chỉnh đó có khả năng chắc chắn xảy ra và giá trị
điều chỉnh có thể xác định được một cách đáng tin cậy
Thoả thuận hợp nhất kinh doanh có thể cho phép điều chỉnh giá phí hợp nhất kinh
doanh khi xảy ra một hoặc nhiều sự kiện trong tương lai. Ví dụ, khoản điều chỉnh này có
thể phụ thuộc vào việc duy trì hay đạt được một mức độ lợi nhuận nhất định trong tương
lai hay phụ thuộc vào giá thị trường của các công cụ đã phát hành và đang được duy trì
Thông thường, có thể ước tính được giá trị cần điều chỉnh ngay tại thời điểm ghi nhận
ban đầu giao dịch hợp nhất kinh doanh 1 cách đáng tin cậy, nếu trong tương lai các sự
kiện không xảy ra hoặc có biến động điều chỉnh thì giá chi phí hợp nhất kinh doanh cũng
cần phải điều chỉnh

CHƯƠNG 2 :
THỰC TẾ VIỆC LẬP VÀ TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH
HỢP NHẤT TẠI VIỆT NAM

2.1 Một số vấn đề của BCTCHN
2.1.1 SPE (special purpose entities) – Các đơn vị được thành lập với mục đích
đặc biệt
SPE là các doanh nghiệp hợp pháp đựơc thành lập với các mục đích đặc biệt (loại
bỏ các rủi ro tài chính, nguy cơ phá sản, mục đích thuế hoặc các rủi ro thông thừơng) và
đựơc sử dụng trong phạm vi rộng lớn ở thị trừơng vốn, .SPE có thể là tập đòan, tổ chức
tín dụng hay công ty hợp danh, các đơn vị SPE về bản chất họat động như 1 “nhà kho” để
lưu trữ tài sản của tập đòan và đôi khi phát hành chứng khoán trên thị trừơng. SPE đựơc
nhắc đến nhiều nhất kể từ vụ sụp đổ của tập đòan năng lượng Enron.
SPE có thể đựơc sở hữu bởi 1 hay nhiều đơn vị và quỳên kiểm soát đơn vị dựa trên
tỉ lệ góp vốn của các đơn vị đầu tư. SPE có thể không bị sở hữu bởi đơn vị sáng lập, điều
này có thể giúp cho đơn vị sáng lập có thể chuyển các rủi ro cho các công ty SPE. SPE
không có quyền và khả năng tham gia vào các hoạt động của tập đòan mà chỉ gói gọn
trong phạm vi mà nó đựơc giao.

Trong suốt những năm cuối thập niên 90, Enron phát triển một cách nhanh chóng
và đã bước vào những lĩnh vực mà nó tin rằng phù hợp với những kế hoạch kinh doanh
của mình : mua và phát triển các xí nghiêp, cơ sở năng lượng và sau đó sẽ mở rộng các
cơ sở ấy bằng việc xây dựng các đơn vị kinh doanh hoặc bán lẻ xung quanh cơ sở ấy.
Trong suốt giai đoạn từ năm 1996 đến 1998, xấp xỉ 60% doanh thu của Enron đến từ các
lĩnh vực mà Enron không hoạt động 10 năm trước và trong đó khoảng 30-40% được thu
từ các lĩnh vực mà Enron không hoạt động trong 5 năm trước.
Sự phát triển vượt bậc này xuất phát từ vốn đầu tư khổng lồ ban đầu mà người ta
không hi vọng sẽ thu được khoản doanh thu quan trọng trong ngắn hạn. Trong khi Enron
tin rằng những khoản đầu tư sẽ có lợi ích qua 1 khoản thời gian nhất định thì các khoản
đầu từ này tạo ra 1 áp lực tức thì nghiêm trọng đến bảng cân đối của Enron. Enron đã
gánh 1 khoản nợ nghiêm trọng, họ tìm cách bổ sung các khoản đầu tư bằng cách phát
hành các công cụ nợ, tuy nhiên, điều này thật khó thực hiện vì dòng tiền trong những năm
trước có thể không đủ để phục vụ các khoản nợ và tạo áp lực đối với tỉ lệ tín dụng của
Enron. Việc duy trì tỉ lệ tín dụng của Enron trong đầu tư là điểm mấu chốt quan trọng đối
với công tác quản lý trong lĩnh vực kinh doanh năng lượng. Thêm vào đó, việc bổ sung
các khoản đầu tư bằng vốn bổ sung cũng thiếu thuyết phục do khoản đầu tư trong những
năm đầu có thể không đủ để có thể tránh được sự sụt giảm cổ tức.
Một cách xử lý khả thi đối với vấn đề tài chính này là thu hút các nhà đầu tư bên
ngoài sẵn sàng tham gia đầu tư vào Enron để giúp Enron có thể năng tiếp tục các khoản
đầu tư đầy rủi ro mà Enron tin rằng nó có thể được quản lý 1 cách hiệu quả. Những
khoản đầu tư từ Enron và các nhà đầu tư khác đã hình thành các đơn vị riêng lẻ. Các đơn
vị này có thể vay trực tiếp từ các tổ chức tài chính khác, tuy nhiên, trong vài trường hợp
vay vốn đòi hỏi có sự đảm bảo từ Enron.
Cách tính toán của Enron đối với các đơn vị này là vấn đề đối với các quy luật kế
toán rằng các đơn vị này được hợp nhất toàn bộ (bao gồm các tài sản và các khoản nợ của
nó) với bảng cân đối của Enron hay chỉ được xem xét như 1 khoản đầu tư của Enron. Các
nhà quản trị Enron thì xử lỳ ngoài bảng cân đối bởi vì điều này sẽ giúp cho Enron hấp
dẫn các nhà đầu tư hơn bởi các chỉ số ước tính tài chính bởi các nhà phân tích của Wall
Street đối với các báo cáo tài chính của Enron. Enron đã tham gia nhiều giao dịch mà nó

dẫn đến sự bóp méo kết quả khi người ta cho tài sản hữu hình bị đánh giá thấp để lợi thế
thế thương mại được đánh giá cao hơn. Kết quả này sẽ làm cho giá trị khấu hao của tài
sản cố định bị đánh giá thấp, điều này sẽ làm cho doanh thu của đơn vị tăng lên. Mặc dù
vậy, phương pháp này vẫn đựơc sử dụng vì nó là phương pháp dễ dàng nhất và chấp nhân
rộng rãi nhất dù nó hòan tòan đúng
- Phương pháp vốn hóa không khấu hao: đựơc biết đến lần đầu tiên vào năm
1944, theo đó người ta cho rằng lợi thế thương mại nên đựơc xem như 1 tài sản cố định
vô hình. Tuy nhiên, phương pháp này cũng vấp phải 1 số khó khăn trong việc xác định
lợi thế thương mại vì rất khó để có thể xác định đựơc giá trị chính xác để vốn hóa. Đôi
khi giá trị lợi thế thương mại có thể bị hiểu sai khi bao hàm các tài sản khác không tạo ra
lợi thế thương mại và các khỏan nợ của đơn vị bị mua. Phương pháp vốn hóa không khấu
hao sẽ tạo ra những con số tuyệt vời trong báo cáo tài chính. Đơn vị ghi nhận tài sản mà
không khấu hao tài sản theo thời gian sẽ tạo ra những tài sản, vốn chủ sỡ hữu thậm chí
doanh thu của đơn vị có giá trị lớn. Lý do người ta ủng hộ phương pháp này là do nó
đựơc lập luận dựa trên khái niệm rằng lợi thế thương mại không sụt giảm giá trị. Ban
quản trị xuất sắc, thương hiệu lớn và uy tín, nhân viên giỏi không hề sụt giảm về giá trị
mà làm tăng thêm giá trị. Định kì, người ta sẽ đánh giá lại lợi thế thương mại, nếu có sự
sụt giảm về lợi thế thương mại, người ta sẽ trừ phần tương ứng vào doanh thu hoặc nguồn
vốn chủ sở hữu. Lợi thế thương mại đựơc xem như 1 khỏan đầu tư và tồn tại trong bảng
cân đối mà không bị khấu hao.
- Phương pháp vốn hóa có khấu hao : Lợi thế thương mại tồn tại mà không bị giới
hạn về thời gian và không đựơc sử dụng hay tiêu thụ trong họat động kinh doanh thì sẽ
làm giảm đi độ tin cậy đối báo cáo tài chính đặc biệt là báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh, do đó, người ta cho rằng cần phải phân bổ lợi thế thương mại dựa trên thời gian
hữu ích của nó, điều này sẽ giúp cho tài khỏan lợi thế thương mại nhỏ hơn so với phương
pháp vốn hóa không khấu hao và báo cáo tài chính sẽ đáng tin cậy hơn. Phương pháp vốn
hóa có khấu hao áp dụng công thức phân bổ theo đừơng thẳng dựa trên thời gian hữu ích
của tài sản, nếu như tài sản vẫn chưa xác định đựơc thời gian hữu ích, thông thường
người ta sẽ sử dụng 1 giới hạn thời gian đối với các tài sản, tùy mỗi quốc gia mà phương
pháp này có 1 giới hạn thời gian khác nhau.

mại sẽ phải phân bổ hết
Giả sử trong năm khi công A và B đã hợp nhất phát sinh 1 khỏan lợi nhuận là
1.150.000.000 VND, lợi thế thương mại phân bổ sẽ làm giảm lợi nhuận 180.000.000
VND. Vậy lợi nhuận trên báo cáo thu nhập chỉ còn lại là 970.000.000VND.
Nhận xét :
Thời gian hữu dụng của tài sản phát sinh lợi thế thương mại và cách tính toán giảm
trừ giá trị lợi thế thương mại nói chung không thể ứơc tính chính xác được, nhưng sự
phân bổ của lợi thế thương mại lại dựa trên những sự ứơc tính như vậy. Kết quả là giá trị
lợi thế thương mại sẽ đựơc phân bổ trong bất kì khoản thời gian nào mà doanh nghiệp tự
ứơc tính thời gian hữu dụng của tài sản và đôi khi các tài sản không thể ứơc tính được
thời gian hữu ích ( ví dụ như : nhãn hiệu, uy tín với khách hàng, công nghệ … )nhưng lại
bị giới hạn trong 1 khoản thời gian qui định, do đó, các giá trị được phân bổ chỉ là 1 giá
trị ứơc tính tùy ý trong suốt thời gian hữu dụng của tài sản. Vì vậy, phân bổ lợi thế
thương mại cung cấp thông tin rất hạn chế cho ngừơi sử dụng báo cáo tài chính
Phương pháp kế toán xử lý lợi thế thương mại là 1 trong những khía cạnh gai góc
nhất của báo cáo tài chính. Vấn đề ở đây là xác định bản chất của lợi thế thương mại, một
việc hầu như không thể đánh giá chính xác được. Do đó rất khó có thể tìm ra 1 phương
pháp chính xác để xác định được mức tiêu hao của lợi thế thương mại.
Lợi thế thương mại theo các chuẩn mực Việt Nam ban hành đựơc phát sinh khi hợp
nhất kinh doanh thể hiện khoản thanh toán của bên mua cho những lợi ích kinh tế ước
tính thu được trong tương lai từ những tài sản không đủ tiêu chuẩn ghi nhận và không xác
định được một cách riêng biệt. Lợi thế thương mại sẽ đựơc phân bổ dựa trên thời gian
hữu ích của tài sản đó và thời gian đó không được quá 10 năm
2.1.3 Giao dịch nội bộ :
Là các giao dịch kinh doanh giữa các đơn vị trực thuộc cùng 1 tập đòan, vì các mục
tiêu kinh doanh, các đơn vị thực hiện giao dịch kinh doanh mà không loại trừ ra khỏi báo
cáo tài chính hợp nhất, điều này sẽ ảnh hửơng nghiêm trọng đến độ chính xác của báo
cáo tài chính hợp nhất gây ra nhận định sai lầm từ các nhà đầu tư, phân tích
Các giao dịch nội bộ thông thường :
- Hàng hóa giao dịch nội bộ vẫn còn ở kho

hướng các xử lý đối với các giao dịch bán hàng nội bộ, tuy nhiên vẫn còn 1 số giao dịch
chưa đựơc đề cập trong thông tư 161. Do đó, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tôi sẽ
đề cập đến 1 số khía cạnh khác của giao dịch nội bộ
2.2 Các chuẩn mực và qui định hiện hành về lập và trình bày BCTCHN tại Việt
Nam
2.2.1 Các chuẩn mực pháp lý đựơc ban hành tại Việt Nam :
Nhằm cung cấp những thông tin hữu ích giúp các đối tựơng sử dụng thông tin báo cáo
tài chính hợp ích và đảm bảo các thông tin trên báo cáo tài chính hợp nhất đáp ứng đựơc
các nhu cầu thông tin kế toán, các quốc gia trên thế giới đều có thiết lập cho riêng mình 1
hệ thống pháp lý kế toán đặc thù cho từng quốc gia về lập và trình bày báo cáo tài chính
hợp nhất của tập đòan tại quốc gia của mình. Do xu hướng phát triển của mỗi quốc gia
mỗi khác, tình hình biến động thế giới mỗi thời kì mỗi khác, do đó hệ thống pháp lý kế
toán về lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất được hình thành trong từng giai đoạn
phát triển và không ngừng đựơc hòan thiện
Hiện nay, theo văn bản pháp lý kế toán về báo cáo tài chính hợp nhất của Việt
Nam, thì chúng ta có 2 chuẩn mực hiện đang có hiệu lực : VAS 25 - “Báo cáo tài chính
hợp nhất và kế toán khoản đầu tư vào công ty con” và VAS 11 – “Hợp nhất kinh doanh”.
Bên cạnh đó còn có 1 số thông tư đựơc ban hành như : Thông tư 23/2005/TT-BTC và gần
đây nhất, Bộ Tài Chính mới vừa công bố thông tư 161/2007/TT-BTC - Hướng dẫn thực
hiện mười sáu(16) chuẩn mực kế toán ban hành theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC
ngày 31/12/2001, Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31/12/2002 và Quyết định số
234/2003/QĐ-BTC ngày 30/12/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, hứơng dẫn việc xử lý
các giao dịch có liên quan đến báo cáo tài chính hợp nhất
2.2.2 Các qui định đầu tiên về báo cáo tài chính hợp nhất tại Việt Nam
Những yêu cầu đầu tiên về báo cáo tài chính hợp nhất ở Việt Nam lần đầu tiên xuất
hiện đựơc gắn với thị trường chứng khóan tập trung trong Quyết định số 79/2000/QĐ -
UBCK ngày 29/12/2000 ban hành Qui chế thành viên, niêm yết, công bố thông tin và
giao dịch chứng khoán. Khái niệm báo cáo tài chính hợp nhất lúc này còn mang tính chất
rất manh nha, chưa chính thức và chưa có tính bắt buộc. Tại Điều 32 Khoản 3 của
QĐ79/2000/QĐ - UBCK qui định:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status