Lời mở đầu
Trong suốt gần 30 năm ở miền Bắc (tính từ 1954 đến 1986) và 10 năm ở
miền Nam (1975-1986) Kinh tế t nhân nớc ta đã không đợc chấp nhận và bị coi
là đối tợng cần cải tạo và cần phải xoá bỏ. Nhng đến Đại hội Đảng VI (1986),
Đảng và Nhà nớc đã thực sự mang lại cho kinh tế t nhân một sức sống mới, kinh
tế t nhân đợc khuyến khích phát triển trong khuôn khổ chính sách phát triển nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trờng, có sự quản lý
của Nhà nớc theo định hớng Xã hội chủ nghĩa, trong đó thành phần kinh tế Nhà
nớc giữ vai trò chủ đạo. Tuy nhiên, khu vực kinh tế t nhân vẫn cha đợc chú ý
đúng mức, cha đợc nghiên cứu một cách có hệ thống. Nhiều vấn đề cơ bản về lý
luận và thực tiễn vẫn cha đợc giải quyết một cách thấu đáo nh: khái niệm kinh tế
t nhân, vai trò của kinh tế t nhân trong nền kinh tế, ý nghĩa của việc phát triển
của kinh tế t nhân, sự quản lý của Nhà nớc đối với khu vực kinh tế này,...
Trớc nhu cầu cấp bách mà lý luận và thực tiễn đặt ra chúng ta cần nghiên
cứu một cách nghiêm túc khu vực kinh tế t nhân. Trong khuôn khổ bài viết này,
việc trình bày cặn kẽ về kinh tế t nhân thì quả là khó. Ngời viết chỉ xin trình bày
những vấn đề căn bản nhất để độc giả có thể có cái nhìn đúng đắn hơn về kinh tế
t nhân.
1
Chơng I
Một số vấn đề cơ bản
của kinh tế t nhân (KTTN)
1-/ Quan điểm của Nhà nớc về KTTN:
Từ Đại hội Đảng VI đến nay, Đảng và Nhà nớc ta kiên trì nhất quán thực
hiện chiến lợc phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế
thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng Xã hội chủ nghĩa. Theo định
hớng này, khu vực KTTN đợc hởng những u đãi nh mọi thành phần kinh tế khác.
KTTN đợc thừa nhận là một thực thể kinh tế đợc Đảng và Nhà nớc khuyến khích
phát triển.
Đối với ta - một nớc đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH - môi trờng pháp
lý dành cho khu vực KTTN khác với ở các nớc khác. Nó đã đợc thể chế hoá
Khu vực KTTN có vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra một nền kinh tế
năng động có hiệu quả. Nói đến kinh tế thị trờng không thể không nói đến cạnh
2
tranh. Nó là yếu tố kích thích phát triển kinh tế xã hội. Thực tế đã chứng minh
rằng sự độc quyền Nhà nớc về kinh tế đã kìm hãm sự phát triển kinh tế, làm cho
nền kinh tế trở nên què quặt, thiếu sức sống và dẫn đến không hoà nhập đợc với
nền kinh tế thế giới.
Sau một thời gian dài thực hiện đổi mới, KTTN không những không làm
suy yếu khu vực kinh tế Nhà nớc mà ngợc lại làm cho nó phát triển hơn do bị sức
ép cạnh tranh từ phía KTTN.
Phát triển KTTN còn góp phần tạo ra sự ổn định xã hội nhờ giải quyết việc
làm, tăng thêm thu nhập cho ngời lao động, thu hút mọi thành viên xã hội tham
gia vào sự nghiệp phát triển đất nớc.
3-/ Phạm vi hoạt động của khu vực KTTN:
Phạm vi hoạt động của khu vực KTTN trong hầu hết các ngành: nông, lâm
nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp (công nghiệp chế biến, công nghiệp điện,...), xây
dựng, thơng nghiệp, khách sạn nhà hàng và các ngành dịch vụ khác. Mức độ đầu
t tập trung nhất vẫn là các ngành thơng mại dịch vụ, công nghiệp chế biến và
thuỷ sản. Đây là những ngành có mức doanh lợi hấp dẫn, có thị trờng và kinh
nghiệm kinh doanh.
KTTN vẫn tập trung ở một số thành phố lớn là chủ yếu nh Hà Nội, Hải
Phòng, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh,... Lý do là ở những nơi này có cơ sở
hạ tầng cả về kinh tế và xã hội đều thuận lợi cho hoạt động đầu t.
4-/ Các loại hình doanh nghiệp trong khu vực KTTN:
Trớc đây, khu vực KTTN bao gồm các Doanh nghiệp t nhân (DNTN) và các
hộ cá thể. Hiện nay có thêm các loại hình khác nh: Công ty trách nhiệm hữu hạn
(CTTNHH), công ty cổ phần (CTCP).
3
chơng I I
thực trạng KTTN
3-/ Về huy động vốn:
3.1. Mức huy động vốn đầu t:
Tổng lợng vốn đầu t của khu vực KTTN có sự gia tăng sau Luật doanh
nghiệp t nhân và Luật công ty có hiệu lực.
Từ 1991 đến 1993, riêng các loại hình DNTN, CTTNHH, CTCP đã đầu t
4835 tỷ đồng vốn đăng ký kinh doanh.
Năm 1994, tổng số vốn đầu t của các doanh nghiệp nói trên là 6621 tỷ đồng.
Năm 1995, tổng số vốn đầu t đạt 15103,7 tỷ đồng.
Đó là vốn đăng ký kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp. Trên thực tế,
vốn kinh doanh thực tế thờng gấp 2-4 lần vốn đăng ký kinh doanh. Nh vậy tổng
lợng vốn đầu t thực tế đạt 18000-20000 tỷ đồng (1995). Đó là cha kể đến lợng
vốn của khu vực kinh tế cá thể (ớc đạt 30000-35000 tỷ đồng).
Với sự hoạt động của khu vực KTTN, các nguồn vốn trong dân đã dần đợc
huy động, khơi thông góp phần thúc đẩy qui mô của nền kinh tế. Tính riêng
trong 5 năm (1991-1995), ớc tính qui mô đầu t phát triển toàn xã hội đạt khoảng
18 tỷ USD trong đó đầu t nhân dân chiếm trên 30% và đầu t trực tiếp nớc ngoài
chiếm 27%.
3.2. Qui mô đầu t của các loại hình doanh nghiệp t nhân:
Số vốn đầu t của các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN ở nớc ta
nhìn chung còn rất khiêm tốn. Số liệu chứng minh cho bởi bảng sau:
Đơn vị: %
Doanh nghiệp
Vốn
CTCP CTTNHH DNTN
< 1 tỷ VNĐ 14,4 69,0 95,1
1 tỷ VNĐ
27,9 25,7 4,4
5 tỷ và 10 tỷ VNĐ
11,8 3,3 0,31
> 10 tỷ VNĐ 45,7 1,9 0,12
có sự tiến bộ rõ nét. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong thời kỳ (1991-1995)
tăng bình quân 8,2%/năm tăng 2,2% so với kế hoạch đề ra. Riêng 3 năm 1995,
1996, 1997 mức độ tăng khá hơn: Năm 1995 tăng 9,54%, năm 1996 tăng 9,34%,
năm 1997 tăng 9%.
Tăng trởng GDP có sự đóng góp của khu vực kinh tế cá thể và KTTN. Tốc
độ phát triển bình quân của khu vực KTTN tăng trên 10%/1 năm và kinh tế cá
thể tăng 7%/1 năm.
Với tốc độ tăng trởng trên, KTTN và kinh tế cá thể tạo ra 40,66% GDP năm
1995; 40,16% GDP năm 1996; 39,82% năm 1997. Đó là 1 sự đóng góp đáng kể
vào nền kinh tế.
5-/ Về hiệu quả sản xuất kinh doanh của khu vực KTTN:
ở nớc ta, bề dày kinh nghiệm của giới chủ còn quá mỏng và độ rủi ro trong
môi trờng kinh doanh là nhân tố khó lờng cộng với tầm nhìn hạn chế và các nỗ
lực đầu t còn nhiều bất cập nên hiệu quả kinh doanh của khu vực KTTN còn
nhiều thăng trầm. Nhng đặc trng bao quát là: mức doanh lợi của các DNTN và
các CTCP cao hơn của các CTTNHH.
6