Đề tài: Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội doc - Pdf 12


Lời mở đầu

Trong thế giới hội nhập, cùng với việc đổi mới công nghệ thay đổi theo
hướng văn minh hiện đại thì việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp để phát triển bền vững là công việc không thể thiếu.Để tìm hiểu thêm về
vấn đề này và một vài vấn đề thực trạng về thực hiện trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp là nội dung bài tiểu luận này. Bài viết còn nhiều thiếu xót, mong
quý thầy cô chỉ dạy hướng dẫn để bài viết hoàn thiện hơn.
Chúng em xin cảm ơn!
1
Mục lục
I ) Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 3
1)Trách nhiệm xã hội là gì 3
2) Lợi ích của việc thực hiện trách nhiệm xã hội 3
3)Những tiêu chuẩn và công cụ quản lí trách nhiệm xã hội 5
4) Các khía cạnh của trách nhiệm xã hội 6
II) Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội 8
1) Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với bên ngoài 12
2)Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với bên trong 14
III) Giải pháp 16
1) Thay đổi nhận thức của doanh nghiệp 16
2) Một số giải pháp khác 17
IV) Kết luận 19
3)
2
Nước ta có Bộ luật Lao động, Luật Bảo vệ môi trường và những nghị định hướng
dẫn thi hành nhưng doanh nghiệp Việt Nam chưa thể hiện một cách rõ ràng việc thực
hành những văn bản pháp quy đó bằng những tiêu chuẩn kiểm định và công bố hiệu
quả thực hiện. Ở các nước khác, mối quan tâm của lãnh đạo doanh nghiệp về lao động
và môi trường được gom chung vào một khái niệm gọi là trách nhiệm xã hội doanh

Khẳng định thương hiệu
Trong thời buổi mà thương hiệu mạnh được nhìn nhận như một công cụ tạo lợi thế
cạnh tranh đặc thù cho doanh nghiệp, thì "niềm tin càng trở nên cần thiết. Đạo đức
kinh doanh và trách nhiệm xã hội trở thành nền tảng cho việc xây dựng thương hiệu
thật sự mạnh. Điều này đồng nghĩa với việc có được sự sâu đậm trong việc "chia sẻ
tâm trí" với người tiêu dùng song hành với sự "chiếm lĩnh thị phần"! Tình bạn, sự
hiểu biết lẫn nhau và sự hợp tác với nhau trên cơ sở cùng tôn trọng những giá trị đạo
đức cao quý và tinh thần trách nhiệm, trung thực với các nhà đầu tư và người tiêu
dùng là cách tốt nhất để dánh bóng thương hiệu một cách chuyên nghiệp và thực chất.
Uy tín xã hội ngày càng có ảnh hưởng lớn tới thương hiệu của các công ty, lớn hơn cả
quảng cáo và chính sách tài chính. Theo công tình nghiên cứu do hãng tiếp thị
Environics tiến hành tại 20 quốc gia trên thế giới, uy tín xã hội của công ty có vai trò
vô cùng to lớn đối với các nhà đầu tư. Ví dụ như ở Mỹ, hiện đang có khoảng 60% dân
số đang sở hữu cổ phiếu của các hãng tư nhân. 28% trong số này khi quyết đinh làm
như vậy đã dựa vào những thông tin thu thập được về hình ảnh của công ty trong con
mắt xã hội.
Tăng lợi nhuận doanh nghiệp.
Tôn trọng luân lý xã hội và thực hiện đạo đức trong kinh doanh chính là những
hành vi đầu tư vào việc gia tăng lợi nhuận và sự phát triển bền vững của doanh
nghiệp. Giữ được chữ tín với khách hàng, bạn hàng, nhân viên, cộng đồng và nhà
nước tạo nhiều cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp, giữ được mối làm ăn bạn hàng,
nhân viên và điều này lại tạo cho doanh nghiệp cơ hội có thể tạo ra nhiều lợi nhuận
hơn nữa. Trong một thị trường cạnh tranh, điểm "cân bằng tối ưu" và lợi nhuận doanh
nghiệp chỉ có thể hình thành trên cơ sở của sự liên kết và sự tin tưởng giữa các đối tác
chứ không thể trên nền tảng của sự lừa dối lẫn nhau. Trong cạnh tranh kinh tế, nếu
mỗi đối tác đều mù quáng chạy theo quyền lợi riêng tư của mình thì rốt cuộc tất cả
dều bị thua thiệt nặng nề. Công trình nghiên cứu của hai giáo sư John Kotter và James
Heskett ở trường đào tạo quản lý kinh doanh thuộc Harvard cho thấy, trong vòng 11
năm, những công ty "đạo đức cao" đã nâng được thu nhập của mình lên tới 682%
(trong khi những công ty đối thủ thường thường bậc trung về chuẩn mực đạo đức chỉ

động và môi trường. Thực hiện đầy đủ cùng lúc ba chính sách này sẽ có thêm hiệu
ứng hỗ trợ và giảm chi phí so với thực hiện riêng lẻ mỗi chính sách.
Các tiêu chuẩn và công cụ về chất lượng và môi trường thì ai cũng biết. ISO
(International Organization for Standardization, Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế) đã
công bố bộ tiêu chuẩn ISO 9000 về hệ thống quản lý chất lượng và ISO 14000 về hệ
thống quản lý môi trường. Hai tiểu ban của ISO chuyên về các bộ tiêu chuẩn này đã
thống nhất những phương pháp thực hành tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp thiết lập
một chính sách toàn bộ chung cho cả hai hệ thống quản lý chất lượng và môi trường.
Còn về khía cạnh quản lý nhân lực, vấn đề này phức tạp vì không phải là một vấn
đề kỹ thuật. Mỗi quốc gia có quan niệm khác nhau: (a) an toàn lao động là trách
nhiệm cá nhân hay là trách nhiệm tập thể, (b) quyền lợi tối thiểu của người lao động
về nhân phẩm và tính dân chủ do phía thuê lao động tự nguyện ban cho hay phải theo
quy định của nhà nước và thương lượng tập thể.
Nhóm làm việc của ISO về trách nhiệm xã hội (WG SR) đã tham khảo rộng rãi
mọi đối tác. Chỉ riêng trong năm 2007 có 320 đại diện của 55 nước và 26 tổ chức
5
quốc tế tham gia hội nghị của WC SR. Nếu không có gì thay đổi thì tiêu chuẩn hướng
dẫn ISO 26000 sẽ được công bố vào năm 2010. Điều cần chú ý là tiêu chuẩn ISO
26000 chỉ là một tiêu chuẩn hướng dẫn nên không thể dùng làm cơ sở để chứng nhận
một doanh nghiệp.
Dưới đây là những tiêu chuẩn có thể dùng làm cơ sở để chứng nhận một doanh
nghiệp: Các tiêu chuẩn của ILO (International Labor Organization, Tổ chức Lao động
quốc tế), ISO 9001 về hệ thống quản lý chất lượng, ISO 14001 về hệ thống quản lý
môi trường, OHSAS 8001 về an toàn lao động, và SA 8000 về quản lý nhân sự.
Ngoài ra có một số tài liệu hướng dẫn cách trình bày một báo cáo về trách nhiệm
xã hội như là GRI (Global Reporting Initiative, khởi đầu báo cáo toàn diện) hay AA
1000 Asurance Standard của ISEA (Institute of Social and Ethical Accountability,
Viện Trách nhiệm xã hội và đạo đức).
Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đã dịch sang tiếng Việt các bộ tiêu
chuẩn ISO 9000 và ISO 14000. Để hoàn tất, tổng cục còn phải tiếp tục dịch và đưa

b.Khía cạnh pháp lý
Khía cạnh pháp lý trong trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp là doanh nghiệp
phải thực hiện đầy đủ những quy định về pháp lý chính thức đối với các bên hữu
quan. Những điều luật như thế này sẽ điều tiết được cạnh tranh, bảo vệ khách hàng,
bảo vệ môi trường, thúc đẩy sự công bằng và an toàn và cung cấp những sáng kiến
chống lại những hành vi sai trái. Các nghĩa vụ pháp lý được thể hiện trong luật dân sự
và hình sự. Về cơ bản, nghĩa vụ pháp lý bao gồm năm khía cạnh:
(1) Điều tiết cạnh tranh
(2) Bảo vệ người tiêu dùng
(3) Bảo vệ môi trường
(4) An toàn và bình đẳng
(5) Khuyến khích phát hiện và ngăn chặn hành vi sai trái.
Thông qua trách nhiệm pháp lý, xã hội buộc các thành viên phải thực thi các hành
vi được chấp nhận. Các tổ chức không thể tồn tại lâu dài nếu họ không thực hiện trách
nhiệm pháp lý của mình

c. Khía cạnh đạo đức
Khía cạnh đạo đức trong trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp là những hành
vi và hoạt động mà xã hội mong đợi ở doanh nghiệp nhưng không được quy định
trong hệ thống luật pháp, không được thể chế hóa thành luật.
7
Khía cạnh này liên quan tới những gì các công ty quyết định là đúng, công bằng
vượt qua cả những yêu cầu pháp lý khắc nghiệt, nó chỉ những hành vi và hoạt động
mà các thành viên của tổ chức, cộng đồng và xã hội mong đợi từ phía các doanh
nghiệp dù cho chúng không được viết thành luật.
Khía cạnh đạo đức của một doanh nghiệp thường được thể hiện thông qua những
nguyên tắc, giá trị đạo đức được tôn trọng trình bày trong bản sứ mệnh và chiến lược
của công ty. Thông qua các công bố này, nguyên tắc và giá trị đạo đức trở thành kim
chỉ nam cho sự phối hợp hành động của mỗi thành viên trong công ty và với các bên
hữu quan.

thì chỉ có cách duy nhất là bảo vệ môi
trường. Đó cũng chính là trách nhiệm xã hội
hàng đầu được đặt ra hiện nay cho các doanh nghiệp.
Nhãn hàng nước giải khát Vfresh thuộc Công ty CP Sữa Việt Nam Vinamilk phối
hợp giữa Tổng cục Môi trường (VEA) xây dựng nên “Quỹ 1 triệu cây xanh cho Việt
Nam” bằng việctrích 50 đồng trên mỗi sản phẩm Nước giải khát Vfresh của Vinamilk
bán ra với tổng số tiền cam kết tối thiểu trích là 3 tỷ đồng. Ngày 30 tháng 09 năm
2012, chương trình đã tiến hành trồng khoảng 17,000 cây xanh tại đường tỉnh lộ 867
huyện Tân Phước và khuôn viên Thiền viện Trúc Lâm Chánh Giác, xã Thạnh Tân,
huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang. Trước đó, chương trình đã triển khai trồng cây tại
xa lộ Hà Nội ở Tp.Hồ Chí Minh; trồng rừng ngập mặn ở thành phố Hạ Long; trồng
cây ở trường học Lương Thế Vinh, thành phố Hà Nội; trồng cây tại khu vực Âu
Thuyền và cảng cá Thọ Quang, quận Sơn Trà, Tp. Đà Nẵng. Tiếp sau tỉnh Tiền
Giang, Quỹ 1 triệu cây xanh cho Việt Nam sẽ tiếp tục trồng cây tại thêm nhiều thành
phố khác trên toàn quốc, nhằm mục đích trồng thêm nhiều cây xanh cho các thành
phố, cải thiện môi trường sống cho người dân Việt Nam.
Tuy nhiên, rằng bảo vệ môi trường là tốn kém, nâng cao giá thành sản phẩm khiến
cho doanh nghiệp khó cạnh tranh. Điển hình là sự việc công ty Vedan Việt Nam “bức
tử sông Thị Vải” Vedan đã qua mặt các cơ quan chức năng khi xây dựng hệ thống xử
lý chất thải 2 đường (lúc có kiểm tra thì chuyển qua hệ thống xử lý, khi không ai kiểm
tra thì chuyển sang đường ống đổ thẳng ra sông). Tổng khối lượng dịch thải sau lên
men xả trực tiếp ra sông Thị Vải đươc xác định là 105.600 m³/tháng, làm có nhiều
khúc sông bị ô nhiễm nghiêm trọng, không còn sự sống và có nguy cơ thành dòng
sông chết, gây hôi thối cho khu vực, ảnh hưởng tới đời sống của người dân nơi đây.
9
Kết quả là không chỉ chịu trách nhiệm pháp
lý, mà Vedan còn bị “đồng loạt” tảy chay trên
thị trường. Các nhà bán lẻ, hệ thống siêu thị,
chợ đều dừng bán sản phầm của công ty.
Qua sự việc trên, không chỉ là việc “tẩy chay”

yếu tố một thành tố của xã hội. Việc các doanh nghiệp VN tích cực thực hiện trách
10
nhiệm xã hội đã mang lại những lợi ích thiết thực trong việc duy trì hình ảnh tốt đẹp
của doanh nghiệp, doanh nhân trong cộng đồng. Chính vì thế họ được xã hội nhìn
nhận bằng cách tiếp tục mua tiếp tục ủng hộ.
 Thực hiện tốt trách nhiệm với nhà cung cấp:
Tại Việt Nam, xảy ra nhiều trường hợp làm nông dân điêu đứng vì giá nông sản
lên xuống thất thường do các doanh nghiệp thu mua và nhà nước chưa đảm bảo đầu
ra. Ví dụ như cuối năm 2012, Hiện nay, hàng ngàn hộ dân trồng sắn ở huyện Tam
Nông, tỉnh Phú Thọ lâm vào hoàn cảnh khó khăn. Có nhiều nguyên nhân khiến sắn
rớt giá và cũng phải kể đến vì Nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học Ethanol miền Bắc
(dùng sắn làm nguyên liệu) chậm tiến độ. Người dân huyện miền núi Tân Sơn cho
biết, vụ thu hoạch sắn năm ngoái, người của nhà máy đã xuống tận xã hướng dẫn
người dân mô hình trồng và thâm canh sắn cao sản KM94, một giống sắn cho sản
lượng cao. Thấy nhà máy đã xây dựng, ngày hoàn thành cũng được ấn định rõ ràng
nên nhiều gia đình hoàn toàn tin tưởng để mở rộng diện tích. Thậm chí, nhiều hộ còn
phá bỏ hết diện tích trồng các loại cây và hoa màu khác để chuyển sang trồng sắn cho
nhà máy. Cho đến giờ, công trường xây dựng nhà máy vẫn ngổn ngang vật liệu, một
số khu nhà xưởng mới hoàn thành phần khung, cả nhà máy chỉ lác đác vài công nhân
đang làm việc. Vụ việc thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đối với nhà cung cấp
và là bài học kinh nghiệm cho chính quyền địa phương.
Vì vậy, việc ổn định đầu ra cho nông sản là một trong những nhiệm vụ hàng đầu
của nhà nước, và cũng là trách nhiệm cùa doanh nghiệp để thúc đẩy việc tăng trưởng.
Trong đó, tỉnh Lâm Đồng đã và đang thực hiện một cách tốt đẹp. Theo số liệu thống
kê của ngành nông nghiệp tỉnh, hiện mỗi năm Lâm Đồng sản xuất được gần 43.600 ha
rau, quả các loại với sản lượng gần 1,3 triệu tấn. Tuy diện tích và sản lượng lớn,
nhưng nhìn chung lượng rau sản xuất ra vẫn chưa hội đủ các tiêu chuẩn về chất lượng
sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Trước tình hình thực tế, thời gian qua,
Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn – Chi cục bảo vệ thực vật tỉnh Lâm Đồng –
Chi cục quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản Lâm Đồng và TP HCM đã ký

ngày một hoàn thiện hơn về chất lượng, mẫu mã sản phẩm, chất lượng dịch vụ, đặc
biệt là nhiều nhà sản xuất đã chú trọng đầu tư công nghệ mới, không chỉ đem lại lợi
ích lâu dài cho người tiêu dùng, mà còn cho toàn xã hội.
 Đầu tư công nghệ - tăng chất lượng, hạ giá thành
Song song với sự tăng giá của xăng, điện, nước…, giá nhiều sản phẩm, dịch vụ
khác cũng đồng loạt “leo thang”. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý người
tiêu dùng, cũng như sức mua trên thị trường. Trước tình hình này, nhiều doanh nghiệp
đã chọn cách đầu tư đổi mới công nghệ, dây chuyền sản xuất, không chỉ giúp tăng
hiệu suất, giảm chi phí, mà còn giảm giá thành sản phẩm. Trong đó, đặc biệt quan
trọng là, việc đầu tư đổi mới công nghệ còn giúp các nhà sản xuất nâng cao chất
lượng sản phẩm, tạo ra một thị trường sản phẩm tiêu dùng cạnh tranh hơn và nhiều
lựa chọn hơn cho người tiêu dùng. Đây được đánh giá là một cuộc đua cho các doanh
nghiệp Việt, để giữ vững uy tín trên thị trường.
 Nâng cao chất lượng cuộc sống của người tiêu dùng
Nâng cao chất lượng cuộc sống của người tiêu dùng Việt Nam đã trở thành sứ
mệnh và mục tiêu của nhiều doanh nghiệp Việt Nam. Với định hướng phát triển tập
12
trung nhằm tối đa hóa lợi ích khách hàng, các doanh nghiệp đã nắm bắt nhu cầu thực
sự của người tiêu dùng, từ đó nghiên cứu và phát triển sản phẩm một cách đúng đắn.
Kết quả là, thị trường hàng tiêu dùng Việt Nam đang ngày càng phát triển phong phú,
các sản phẩm sở hữu nhiều tính năng hiện đại, góp phần nâng cao giá trị cho cuộc
sống.
Vd: Kế hoạch sản xuất “ chuỗi sản phẩm sạch” của Tổng công ty công nghiệp
thực phẩm (Dofico) triển khai thực hiện chuỗi liên kết mô hình “Từ trang trại đến bàn
ăn”. Đây là mô hình hoàn toàn phù hợp với xu thế quản lý hiện đại về an toàn thực
phẩm và tương lai ngành sản xuất thực phẩm nói chung cũng phải phát triển theo
hướng này. Qua đó có thể kiểm soát được chất lượng từ đầu vào đến đầu ra của sản
phẩm, đặc biệt là việc truy xuất nguồn gốc. Tuy nhiên, thời gian qua mô hình này
chưa phát triển mạnh cũng bởi các khâu trong chuỗi đó chưa thực sự có liên kết chặt
với nhau mà ở đó tính lợi ích của các thành viên còn quá chú trọng. Qua sự việc vừa

thêm 0,15 đến 0,3 lit nhiên liệu cho 100km) và mức giảm lớn nhất là 6 dặm/gallon
(tăng thêm 0,9 lit cho 100km) của chiếc Kia Soul. Trước đó Hyundai đã quảng cáo
rộng rãi tại Mỹ rằng hãng có đến 4mẫu xe đạt mức tiêu thụ 40 dặm/gallon (tương
đương 5,88 lit/100km) trên cao tốc và điều này đã khiến nhiều người Mỹ bị thuyết
phục và mua xe Hyundai. Nhưng nay công ty phải điều chỉnh xuống còn 37 hoặc 38
dặm/gallon (6,35 hoặc 5,92 lit/100km) đối với Accent, Veloster và Elantra. Mức tiêu
thụ nhiên liệu kết hợp (trong thành phố và cao tốc) của các mẫu xe Hyundai và Kia
năm 2012 sau khi được điều chỉnh chỉ còn 26 và 27 dặm/gallon (tương đương 9,04 và
8,7 lit/100km).Và Hyundai sẽ chẳng có model nào vượt qua mức 40 dặm/gallon như
quảng cáo trước đây nữa. Phương án đền bù cũng đã được Hyundai đề xuất. Theo đó
Hyundai và Kia đã yêu cầu các đại lý kiểm tra đồng hồ công-tơ-mét để xác định xem
tổng số km mà chiếc xe đã đi và từ đó xác định số tiền mà hãng này phải bồi hoàn lại
cho khách. Tính trung bình, Hyundai sẽ bù thêm 15% tổng số tiền mà khách hàng đã
đổ xăng cho xe. Ước tính tổng thiệt hại của Hyundai trong đợt này có thể lên đến 150
triệu USD. Dù vô tình hay hữu ý thì hình phạt cho việc quảng cáo sai sự thật, ảnh
hưởng tới lợi ích người tiêu dùng là cái giá mà Hyundai phải trả sau một thời gian dài
phát triển quá nóng tại các thị trường quốc tế.
2) Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với bên trong:
 Quan hệ tốt với người lao động và đảm bảo lợi ích cho cổ đông, người lao
động trong doanh nghiệp:
Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu và động cơ của người lao động cũng có
sự thay đổi tương ứng. Nhiều người lao động không còn đặt mục tiêu kiếm tiền lên
hàng đầu khi lựa chọn chỗ làm việc. Đối với họ, cảm giác được ghi nhận và sống có
ích, có động lực cao hơn nhiều so với việc đếm tiền lương vào cuối tháng. Hoạt động
trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cho họ suy nghĩ rằng họ không phải vất vả để
làm giàu cho ông chủ mà công việc của họ đang tạo ra giá trị và ý nghĩa cho xã hội.
CEO Larry Page của Google khẳng định: “Khi bạn đối xử tốt với nhân viên bạn sẽ
nhận được năng xuất cao hơn. Thay vì quan tâm họ làm việc bao nhiêu giờ hãy chú ý
tới năng suất. Chúng ta nên tiếp tục đổi mới mối quan hệ với nhân viên và tìm ra
những điều tốt nhất có thể làm cho họ…”.Suốt 6 năm qua Google luôn đứng trong

việc khác có thu nhập cao hơn.
Song không phải lúc nào doanh nghiệp cũng có thể liên tục điều chỉnh quỹ lương
của mình, mà phải cân đối với kết quả kinh doanh hàng năm. Vậy thì làm sao để giải
bài toán nhân sự này một cách tinh tế và hiệu quả
Chăm sóc ngoài lương - nhỏ mà không nhỏ!
Rất nhiều doanh nghiệp hiện nay đã bổ sung các phúc lợi ngoài lương như trợ cấp
tiền xăng, tiền ăn trưa, tiền thuê bao điện thoại, tiền trang phục. . . và nhiều chăm sóc
15
đặc biệt khác. Những chăm sóc này có thể không lớn, nhưng lại được người lao động
đánh giá cao, bởi đã chứng tỏ chủ doanh nghiệp thực sự quan tâm đến đời sống vật
chất, tinh thần của nhân viên, là những “cái neo” có thể giữ được lòng trung thành của
đội ngũ nhân viên. Sự thể hiện quan tâm chăm sóc qua các hình thức đó làm gia tăng
sự hài lòng của nhân viên về chính sách đãi ngộ của công ty, góp phần không nhỏ vào
việc nâng cao uy tín, nhất là “cái tình" của doanh nghiệp.
III) Giải pháp
1) Thay đổi nhận thức của doanh nghiệp
Thực hiện trách nhiệm xã hội của các
doanh nghiệp Việt Nam là sự cần thiết
khách quan trong quá trình hội nhập; tuy
nhiên trên thực tế nhiều khi sự nhận thức
và vận dụng rất khác nhau. Bởi vậy, để các
doanh nghiệp Việt Nam thực hiện tốt trách
nhiệm xã hội của mình cần thiết phải có
nhận thức đúng và lưu ý các điểm sau:
Một là, cần khẳng định rằng các bộ quy
tắc ứng xử không thể thay thế và đứng trên luật quốc gia. Phần lớn các nội dung của
bộ quy tắc ứng xử dựa trên các công ước là thông lệ quốc tế và luật quốc gia. Do vậy
việc thực hiện các bộ quy tắc ứng xử ở bất cứ quốc gia nào phải phù hợp với luật quốc
gia và hỗ trợ việc thực hiện luật quốc gia, vấn đề quan trọng là đưa ra cách thức quản
lý, theo dõi, kiểm tra và đánh giá việc thực hiện những quy định này.

phải thực hiện một số giải pháp sau đây:
Thứ nhất, cần tăng cường thông tin, tuyên truyền để mọi người hiểu đúng bản chất
của vấn đề “trách nhiệm xã hội” và các bộ quy tắc ứng xử, nhất là trong các doanh
nghiệp, các nhà quản lý, hoạch định chính sách vĩ mô.
Thứ hai, cần có các nghiên cứu cơ bản, khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp đã
thực hiện và sẽ thực hiện các bộ quy tắc ứng xử, để phát hiện những thuận lợi cũng
như các rào cản, khó khăn, thách thức, từ đó khuyến nghị các giải pháp xúc tiến thực
hiện trong thời gian tới. Có thể thấy, trong quá trình thực hiện trách nhiệm xã hội và
các bộ quy tắc ứng xử, các doanh nghiệp phải chi phí khá lớn cho đầu tư để cải thiện
các điều kiện vệ sinh lao động và môi trường. Trong điều kiện cạnh tranh, nhiều
doanh nghiệp không thể trang trải nổi những khoản chi này, bởi vậy có thể nhà nước
phải hỗ trợ cho vay từ quỹ hỗ trợ phát triển, quỹ xúc tiến thương mại… với một chính
sách ưu tiên, ưu đãi.
Thứ ba, hình thành kênh thông tin về trách nhiệm xã hội cho các doanh nghiệp,
nhất là cung cấp các thông tin cập nhật về các bộ quy tắc ứng xử; tư vấn cho các
doanh nghiệp trong quá trình thực hiện trách nhiệm xã hội và các Bộ quy tắc ứng
xử…
Ngoài ra cần có giải pháp khuyến khích, hỗ trợ các Doanh nghiệp thực hiện trách
nhiệm xã hội tại Việt Nam.
17
Để khuyến khích, thúc đẩy TNXH tại Việt Nam lớn mạnh cả về số lượng và quy
mô, một số giải pháp chính sách sau đây có thể được xem xét thực hiện:
i. Đẩy mạnh truyền thông dưới nhiều hình thức khác nhau, từ các phương tiện đại
chúng cho đến những người ủng hộ, để truyền tải, phổ biến và giải thích khái niệm và
các vấn đề liên quan đến TNXH;
ii. Trao giải thưởng, vinh danh các doanh nghiệp nỗ lực phát triển ở quy mô lớn
về TNXH;
iii. Tổ chức các Cuộc thi tìm kiếm sáng kiến để tìm ra những dự án tiềm năng,
được tài trợ vốn;
iv. Hỗ trợ tài chính trực tiếp cho các DN để mở rộng quy mô tác động xã hội,

xi. Có thể ban hành các chính sách quy định các cơ quan nhà nước, tổ chức thuộc
khu vực công phải ưu tiên các sản phẩm, dịch vụ của DN khi thực hiện mua sắm công
hoặc thuê ngoài;
xii. Thực hiện các chương trình nhà ở xã hội theo mô hình DN;
xiii. Phát triển mạng lưới, tạo điều kiện kết nối giữa các DN, giữa DN và các tổ
chức trung gian, nhà đầu tư xã hội trong và ngoài nước.
IV) Kết luận
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là vấn đề tương đối mới mẻ với Việt Nam.
Song, trong những năm gần đây, trước thảm họa về môi trường và những hậu quả tiêu
cực về xã hội do các doanh nghiệp gây ra, vấn đề trách nhiệm xã hội được đặt ra một
cách cấp bách. Ở Việt Nam, việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp hoàn
toàn phù hợp với mục tiêu của chiến lược phát triển bền vững. Để thực hiện trách
nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam, thì việc tuyên truyền, giáo dục trách
nhiệm xã hội và việc hoàn thiện hành lang pháp lý để thực hiện nó là việc làm cấp
thiết.
19


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status