Nâng cao chất lượng thẩm định tài chính cho vay dự án tại NHNN & PTNT chi nhánh Tam Trinh - Pdf 12

Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
LỜI NÓI ĐẦU
Ngày 7/11/2006 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150
củaTổ chức thương mại thế gới WTO. Điều này chính là cánh cửa để mở ra
cơ hội cho cả nền kinh tế nói chung và thời cơ thuận lợi cho những doanh
nghiệp nói riêng, đồng thời sự kiện này cũng tạo ra những thách thức khó
khắn không nhỏ cho các doanh nghiệp tham gia trong nền kinh tế. Những cơ
hội đó là nền kinh tế mở cửa, các doanh nghiệp sẽ cạnh tranh lành mạnh,
nguồn vốn đầu tư của nước ngoài sẽ đổ vào Việt Nam nhiều hơn do cơ chế
thông thoáng hơn theo nền kinh tế thị trường. Một trong nhưng khó khăn cơ
bản mà chúng ta gặp phải đó là tình trạng thiếu vốn đầu tư, huy động được
nguồn vốn đầu tư. Có thể nói sau khi ra nhập WTO nguồn vốn ngoại đổ vào
Việt Nam rất lớn, các nhà đầu tư đã thấy rõ Việt Nam đang là điểm đến cho
sự đầu tư. Tuy nhiên hiệu quả sử dụng các nguồn vốn như thế nào mới là vấn
đề quan trọng, và vấn đề này vẫn luôn là đề tài tranh luận, nghiên cứu của các
nhà kinh tế, tổ chức kinh tế trong và ngoài nước.
Nguồn vốn là điều kiện không thể thiếu được để một doanh nghiệp được
thành lập và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là các dự
án có quy mô lớn, các chủ đầu tư cần phải tìm kiếm nguồn tài chính từ bên
ngoài. Việc thu hút nguồn tài trợ cho dự án thông qua nhiều con đường khác
nhau. Có thể nói rằng vay vốn ngân hàng vẫn là một trong những nguồn quan
trọng nhất không chỉ đối với doanh nghiệp mà toàn bộ nền kinh tế quốc dân,
sự hoạt động và phát triển của các doanh nghiệp đều gắn liền với các dịch vụ
tài chính do các ngân hàng thương mại cung cấp, trong đó có việc cung ứng
nguồn vốn. Do vậy trong quá trình thực hiện tài trợ dự án các Ngân hàng
thương mại luôn đặt tính hiệu quả, an toàn, có tính xã hội lên hàng đầu.
Để tìm kiếm và sử dụng nguồn vốn hiệu quả luôn là câu hỏi không chỉ
của các nhà đầu tư mà còn đặt ra bài toán giải quyết vốn của các Ngân hàng
thương mại. Công tác thẩm định là một bước trong quá trình giải bài toán
trên.Với những lý do trên cùng với sự hướng dẫn của thầy cô và anh chị
phòng thẩm định Ngân hàng nông nghiệp và phát triển chi nhánh Tam Trinh,

NGUYỄN XUÂN QUẢNG
Nguyễn Xuân Quảng
2
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
PHẦN I
LÝ THUYẾT VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ
TẠI NGÂN HANG THƯƠNG MẠI
I/ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1. Dự án đầu tư:
1.1 Vai trò của dự án
Đầu tư theo cách hiểu đơn giản là việc đánh đổi một lợi ích nào đó hiện
tại để đạt được những lợi ích lớn hơn trong tương lai. Các ngân hàng trong
trường hợp này muốn hoạt động và phát triển thì việc đầu tư là quá trình sử
dụng vốn, huy động vốn của ngân hàng. Nhắm mục đích cuối cùng là tối đa
hóa lợi nhuận, tạo niềm tin và chỗ dựa vững chắc cho các tổ chức kinh tế, xã
hội để thực hiện các dự án.
Đầu tư là một hoạt động quan trọng của bất kỳ tổ chức nào trong nền
kinh tế. Đó là hoạt động bỏ vốn với hy vọng đạt được lợi ích tài chính, kinh tế
xã hội trong tương lai. Ngày nay nhằm tối đa hóa hiệu quả đầu tư, các hoạt
động đầu tư đều được thực hiện theo dự án.
Trong “Quy chế đầu tư và xây dựng” theo nghị định 52/1999/NĐ-CP
ngày 08 thán 07 năm 1999 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam: Dự án là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn
để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt
được sự tăng trưởng về số lượng hoặc dùy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng
của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định.
Với các quan điểm khác nhau. có thể có các khái niệm khác nhau về dự
án. Song, một cách tổng quát nhất, dự án được hiểu là một tập hợp các hoạt
động đặc thù liên kết chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau nhằm đạt được trong
tương lai ý tưởng đã đặt ra (mục tiêu nhất định) với nguồn lực và thời gian

thuật, kinh tế – xã hội, tổ chức, quản lý. Những nội dung trên được thể hiện
trong nghiên cưứ tiền khả thi và nghiên cưứ khả thi dự án.
*Nghiên cứu tiền khả thi là nghiên cứu sơ bộ ban đầu về nhu cầu và khả
năng tiến hành dự án cũng như kết quả của dự án.
Nghiên cứu tiền khả thi thường bao gồm:
Nghiên cứu ký lưỡng sự cần thiết đầu tư, điều kiện đầu tư, điều kiện
thuận lợi và khó khăn
Nguyễn Xuân Quảng
4
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
Dự kiến quy mô đầu tư và hình thức đầu tư
Chọn địa điểm xây dựng và dự kiến nhu cầu sử dụng đất hợp lý cho đầu
tư.
Phân tích, lựa chọn sơ bộ công nghệ, kỹ thuật, các điều kiện cung cấp vật
tư thiết bị, nguyên liệu, năng lượng, dịch vụ, hạ tầng
Phân tích, chọn luặ sơ bộ các phương án xây dựng
Xác định sơ bộ tổng mức vốn đầu tư, các phương án huy động vốn, khả
năng trả nợ
Tính toán sợ bộ hiệu quả đầu tư về tài chính, kinh tế - xã hội
Nghiên cứu tiền khả thi nhằm xác định những vấn đề cần đặc biệt chú ý,
tránh dàn trải, tiết kiệm chi phí
*Nghiên cứu khả thi hay còn được gọi là lập luận cứng kinh tế kỹ thuật
là giai đoạn nghiên cứu dự án một cách đầy đủ và toàn diện nhất. Đây là cơ sở
quan trọng để chấp nhận hay bác bỏ dự án và luặ chọn phương án tốt nhất.
Trong giai đoạn nghiên cứu khả thi, cần luận giải rõ: những căn cứ về sự
cần thiết phải đầu tư, lựa chọn hình thức đầu tư, chương trình sản xuất và các
yếu tố cần thiết; địa điểm cụ thể phù hợp với kế hoạch xây dựng; phương án
giải phóng mặt bằng; phương án kỹ thuật, công nghệ, kiến trúc, xây dựng,
thiết kế, tổng vốn, các nguồn vốn và nhu cầu vốn theo tiến độ, phương án
hoàn trả; phương án quản lý lao động; phân tích hiệu quả đầu tư; các mốc thời

thực hiện dự án; đặc biệt, cần phân tích rõ các nguyên nhân thất bại để có các
giải pháp khắc phục hưữ hiệu khi quản lý các dự án tương tự khác trong
tương lai. Khi giải thể dự án, ban quản lý dự án sẽ không tồn tại nữa nền cần
bố trí lại công việc cho các thành viên tham gia; xử lý các vấn đề hậu dự án –
kết quả hoạt động cũng như các tài sản của dự án.
2. Thẩm định dự án đầu tư
2.1. Khái niệm thẩm định dự án
Dự án dù được chuẩn bị kỹ lưỡng đến đâu vẫn thể hiện tính chủ quan của
nhà phân tích và lập dự án, những khiếm khuyết, lệch lạc tồn tại trong quá
trình dự án là lẽ đương nhiên. Để khẳng định được một cách chắc chắn hơn
mức độ hợp lý và hiệu quả, tính khả thi của dự án cũng như quyết định đầu tư
thực hiện dự án, cần phải xem xét, kiểm tra lại dự án một cách độc lập với quá
trình chuẩn bị, soản thảo dự án hay nói cách khác là cần thẩm định dự án
Nguyễn Xuân Quảng
6
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
Vậy thẩm định dự án là rà soát , kiểm tra lại một cách khoa học, khách
quan và toàn diện mọi nội dung của dự án và liên quan đến dự án nhằm khẳng
định tính hiệu quả cũng như tính khả thi của dự án trước khi quyết định đầu
tư. Trong quá trình thẩm định dự án, nhiều khi phải tính toán kỹ, phân tích lại
dự án.
2.2. Nội dung thẩm định dự án
Nội dung thẩm định dự án thường bao gồm: Thẩm định kỹ thuật, thẩm
định kinh tế xã hội và thẩm định tài chính.
2.2.1. Thẩm định kỹ thuật
- Thẩm định sự cần thiết của dự án: xác định mức độ cấp thiết của dự án
đối với doanh nghiệp, đối với ngành và đối với nền kinh tế; xem xét sự phù
hợp của dự án với quy hoạch phát triển nghành, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng
đô thị, phát triển nông thôn.
- Thẩm định quy mô của dự án: thẩm định mức độ phù hợp giữa quy mô

nước. Mặc dù vậy, thẩm định lợi ích và chi phí hay thẩm định tài chính của
dự án vẫn cần được đề cập.
Thẩm định kinh tế nhằm rà soát lại mục tiêu của dự án, tác động của dự
án tới môi trường và tới các nhóm đối tượng khác nhau trong xã hội, tính hợp
lý và tối ưu của dự án, mức độ ảnh hưởng ngân sách của dự án.
Trong thẩm định kinh tế của dự án, cần thẩm định việc xác định giá trị
kinh tế của hàng hóa và dịch vụ mà dự án đem lại thông qua điều chỉnh giá thị
trường, tức là giá phản ánh được giá trị thực của các hàng hóa và dịch vụ.
(Chi phí và lợi ích của dự án đối với nền kinh tế); trên cơ sở đó đánh giá
những đóng góp của dự án đem lại cho nền kinh tế quốc dân.
Thông thường, một đóng góp quan trọng của dự án cho nền kinh tế được
xem xét thông qua sự gia tăng thu nhập quốc dân (đóng góp vào mục tiêu tăng
trưởng kinh tế). Đánh giá tác động của dự án tới sự gia tăng thu nhập quốc
dân được dựa trên các tiêu chuẩn hiểu quả như: Giá trị hiện tại ròng, tủ lệ nội
hoàn, tỷ lệ lợi ích/chi phí. Tuy nhiên, trong phân tích cũng như trong thẩm
định kinh tế của dự án theo các tiêu chuẩn hiệu quả, đặc trưng quan trọng là
phải xác định được lợi ích và chi phí kinh tế cũng như chi phí cơ hội kinh tế.
Ngoài việc đánh giá tác động trên, cần đánh giá những tác động của dự án về
kinh tế, xã hội, môi trường như giải quyết việc làm, cải thiện cán cân kinh tế,
cải thiện môi trường sinh thái, cải thiện đời sống, sức khỏe nhân dân.
Nguyễn Xuân Quảng
8
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
II. Thẩm định tài chính dự án đầu tư của Ngân hàng thương mại
Là một nội dung lớn và quan trọng trong thẩm định dự án. Bởi trước sau
quá trình thẩm định tài chính sẽ quyết định đến một dự án (chủ đầu tư) có đủ
năng lực về tài chính để thực hiện dự án. Do vậy trước khi phê duyệt tài trợ
một dự án hay cấp một khoản vay cho dự án nào đó, cán bộ tịn dụng và phòng
chức năng về thẩm định tín dụng cần phải làm một việc vô cùng quan trọng.
Đó là thẩm định tài chính dự án.

không chắn chắn trong các giai đoạn của dự án. Rủi ro luôn luôn tiềm ẩn. Do
vậy đánh giá được mức độ rủi ro sẽ tạo điều kiện thực hiện dự án đúng như đã
định
1.2. Nhân tố ảnh hưởng tới thẩm định tài chính dự án
Thẩm định tài chính dự án phụ thuộc vào nhiều nhân tố. Để có được kết
quả tốt nhất về thẩm định tài chính dự án – cơ sở tin cậy để ra quyết định đầu
tư đúng đắn, tài trợ hay không tài trợ dự án cần nghiên cứu các nhân tố ảnh
hưởng.
- Đội ngũ cán bộ: kể cả người quản lý và cán bộ thẩm định là nhân tố
quyết định trực tiếp đến chất lượng thẩm định tài chính dự án. Nếu nhà quản
lý nhận thức được mức quan trọng và ý nghĩa của thẩm định tài chính dự án
thì họ mới tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ thẩm định. Nếu cán bộ thẩm
định có năng lực, chuyên môn tốt và được sự hộ trợ tạo điều kiện từ nhà quản
lý và các bộ phận chức năng trong ngân hàng thương mại, tổ chức kinh tế...thì
kết quả thẩm định tài chính dự án thường đáng được tín cậy. Do tính chất
phức tạp và phạm vi liên quan của dự án, cán bộ thẩm định nói chung và cán
bộ thẩm định tài chính nói riêng không những phải có kiến thức chuyên sâu
mà còn phải có hiểu biết rộng, có phẩm chất đạo đức tốt.
- Trang thiết bị, công nghệ: Đây là nhân tố ảnh hưởng tới thời gian và độ
chính xác của kết quả thẩm định tài chính dự án. Với trang thiết bị hiện đại,
công nghệ mới việc thu thập và xử lý thông tin sẽ được tiến hành một cách
nhanh chóng và chính xác, cơ hội đầu tư sẽ được nắm bắt kịp thời.
Thông tin: Thẩm định tài chính dự án được tiến hành trên cơ sở phân
tích các thông tin trực tiếp và gián tiếp có liên quan đến dự án. Đó là các
thông tin về thị trường trong nước, quốc tế, thông tin về kỹ thuật, quy hoạch
phát triển của nhà nước, các báo cáo tài chính...Nếu các thông tin này này
không được thu thập một cách chính xác và đầy đủ thì kết quả thẩm định tài
Nguyễn Xuân Quảng
10
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính

11
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
2.2. Thẩm định khả năng tài chính của khách hàng
Xác định khả năng tài chính của khách hàng là một khâu quan trọng
trong quy trình thẩm định liên quan trực tiếp đến khả năng thu hồi vốn đầu tư,
phương án huy động vốn, phương án trả nợ. Ngoài ra cán bộ thẩm định còn
dựa vào các báo cáo tài chính đánh giá tình hình tài chính tại thời điểm vay
vốn cũng như các năm tài chính gần đây.
Để thực hiện được bước này, cán bộ tín dụng hay cán bộ thẩm định cần
dựa vào những thông tin sau.
- Báo cáo tài chính thời điểm gần nhất và 2 năm liền kề với thời điểm
vay vốn
- Báo cáo hàng hóa tồn kho
- Báo cáo tình hình tài chính công ty
Cán bộ thẩm định có thể sự dụng nhiều phương pháp nhưng chủ yếu là
phương pháp so sánh về số tuyệt đối và chỉ số tương đối để đưa ra các kết
luận từng phần và toàn diện về khả năng tài chính của khách hàng nhằm đưa
ra quyết định cuối cùng là có tài trợ dự án, có cho vay hay không. Quá trình
này cán bộ thẩm định sẽ sử dụng các thông tin về nguồn vốn chủ sở hữu, xác
định dòng tiền của dự án dựa trên các báo cáo tài chính (Bảng cân đối kế toán,
báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ). các hệ số tài chính...
Kết thúc bước thẩm đinh này cán bộ thẩm điịnh phải nhận xét được năng
lực tài chính của khách hàng, của chủ đầu tư đến thời điểm vay vốn, tài trợ dự
án.
2.3. Thẩm định dự án đề nghị vay vốn lưu động
2.3.1. Hồ sơ
Cán bộ thẩm định căn cứ vào hồ sơ do khách hàng có nhu cầu vay vốn,
chủ đầu tư gửi tới NH để phân tích và đưa ra nhận xét về nhu cầu vay vốn.
- Nhận xét tính hợp pháp, hợp lệ, khả thi về kế hoạch sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, tính khả thi dự án của chủ đầu tư từ đó đưa ra hạn

của Ngân hàng. Hiện nay, việc thẩm định tài sản đảm bảo vẫn còn gặp nhiều
khó khăn cho cán bộ tín dụng và công tác cần phải có biện pháp khắc phục.
Trên đây là quy trình thẩm định hồ sơ vay vốn của khách hàng, thẩm
định là phần quan trọng nhất đề giúp giám đốc, các giám đốc đưa ra quyết
Nguyễn Xuân Quảng
13
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
định đầu tư một cách chính xác. Quá trình thẩm định đòi hỏi phải có sự hiểu
biết và tận dụng một cách toàn diện các kiến thức về kinh tế, xã hội, chính trị
trong nước, quốc tế. Tùy theo điều kiện thực tế ở từng địa phương, từng kế
hoạch và dự án, khi trực tiếp thẩm định các dự án cụ thể, cán bộ thẩm định
cần xem xét và vận dụng linh hoạt các nội dung thẩm định nhằm đạt hiệu quả
cao nhất.
3. Nội dung thẩm định dự án của Ngân hàng thương mại
3.1. Tài liệu dùng để xét duyệt
Trước hết là các thông tin được thu thập từ các nguồn khác nhau. Có thể
là dựa vào giấy đề nghị vay vốn, kế hoạch kinh doanh...Bên cạnh đó, để tiến
hành vay tiền khách hàng phải gửi tài liệu đến để Ngân hàng xét duyệt. Bộ hồ
sơ bao gồm:
3.1.1. Giấy đề nghị vay vốn: Khách hàng cần phải làm rõ một số nội dung
sau:
- Tên khách hàng, địa chỉ, người đại diện, chứng minh thư, nơi cấp, số
tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng.
- Quyết định thành lập hay đăng ký kinh doanh
- Mục đích vay vốn
- Thời hạn vay tiền, lãi suất, phương án trả
- Những biện pháp bảo đảm tiền vay
- Ngoài ra khách hàng có cam kết về việc sử dụng tiền vay
3.1.2. Những tài liệu về năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự
- Đối với pháp nhân là doanh nghiệp tư nhân: Phải có quyết định thành

quyết định số 60/99 QDHDQT 10/4/1999
- Pháp lệnh Hội đồng kinh tế do CHủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ký ngày
25/9/1989 quy định về việc ký kết các hợp đồng kinh tế.
- Nghị định 165/1999/NĐ – Chính phủ ngày 19/11/1999 về giao dịch
đảm bảo do Chính phủ ban hành.
Nguyễn Xuân Quảng
15
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
- Nghị định 278/2005/NĐ – Chính phủ về đảm bảo tiền vay các tổ chức
tín dụng do Chính phủ ban hành ngay 29/12/2005.
- Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng với khách hàng kèm theo
Quyết dịnh 284/2000/QĐ – NHNN1 ngày 25/8/2000 của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam.
- Thong tư 06/2000/TT – NHNN1 ngày 4/4/2000 Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam hướng dẫn thực hiện Nghị định 178 của Chính phủ về đảm bảo tiền
vay đối với tổ chức tín dụng.
3.2. Nội dung thẩm định
Cán bộ tín dụng hoặc cán bộ thẩm định khi nhận được bộ hồ sơ xin vay
cần thẩm định tính hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ vay vốn và điều quan trọng là
phải thu thập được những thông tin chính xác về khách hàng xin vay, tài trợ.
Xác định rõ nguồn gốc số liệu, thông tin về giá trị của tài sản đảm bảo nợ vay
và khả năng xử lý nợ vay khi có rủi ro. Để làm được điều này cán bộ thẩm
định hoặc cán bộ tín dụng cần phải xem xét chi tiết các vấn đề sau:
3.2.1 Giấy chứng nhận về tư cách pháp nhân hoặc thể nhân
- Theo luật pháp quy định, một đơn vị hay cá nhân có tư cách pháp nhân
hoặc thể nhân mới có quyền ký kết hợp đồng kinh tế. Đối với hợp đồng tín
dụng cũgn vậy, Ngân hàng chỉ cho vay đối với các đơn vị có đầy đủ năng lực
pháp lý và năng lực hành vi.
Cụ thể là:
- Đối với pháp nhân: Một đơn vị có đầy đủ tư cách pháp nhân phải được

vụ, cung cấp đầy đủ thông tin về hoạt động tài chính, kinh doanh...
- Sự nhất quán: Thể hiện ở những gì khách hàng vay vốn trả lời phỏng
vấn, những gì họ làm. Qua quá trình phỏng vấn những gì họ nói có nhất quán
với những thông tin họ cung cấp trước đó như báo cáo tài chính...Và khách
hàng có sẵn sàng thực hiện các cam kết trong giấy đề nghị vay vốn hay
không. Thái độ của người vay có trung thực hay không có thể đánh giá được
phần nào trong quá trình phỏng vấn.
- Khả năng: Khả năng của khách hàng vay vốn được thể hiện qua năng
lực quản lý và năng lực chuyên môn của người lãnh đạo, của chủ đơn vị. Khi
xem xét vấn đề này, ngân hàng có thể dựa trên một số thông tin như:
Nguyễn Xuân Quảng
17
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
+ Tổng giám đốc (hoặc đại diện pháp nhân, thể nhân) có trình độ liên
quan đến nghành nghề hay không.
+ Kinh nghiệm của Giám đốc cũng như nhân viên trong lĩnh vực kinh
doanh đó, thị phần của công ty, khách hàng chính, địa điểm hoạt động, tiêu
thụ.
+ Đại diện pháp nhân và tập thể đơn vị phải có mục tiê kinh doanh rõ
ràng và cam kết thực hiện được mục tiêu đó. Năng lực quản lý và kinh doanh
của người điều hành cần được thể hiện ở việc sử dụng hiệu quả các yếu tố đầu
vào để tạo ra các sản phẩm dịch vụ với chất lượng và khả năng thu lợi nhuận
cao, biểu hiện ở những báo cáo tài chính nhất quán, sự thành công vững chắc
qua nhiều năm và việc phân phối lợi nhuận một cách hợp lý.
Ngoài ra, để đánh giá uy tín của người vay vốn, ngân hàng còn dựa vào
mối quan hệ của họ với bạn hàng và các tổ chức tín dụng khác. Đảm bảo
không có nợ quá hạn và không lợi dụng chiếm đoạt vốn của người khác, hoạt
động theo quy định của pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà
nước...
3.2.3. Đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

các hoạt động khác của doanh nghiệp tốt sẽ hạn chế được rủi ro cho Ngân
hàng và giúp nhà đầu tư cũng như doanh nghiệp đưa được ra quyết định hợp
lý.
3.2.4. Đánh giá quy mô, cơ cấu vốn của khách hàng
Khi phân tích quy mô, cơ cấu vốn của doanh nghiệp, cán bộ tín dụng
phải đánh giá được quy mô nguồn vốn hiện tại của doanh nghiệp. Xem có phù
hợp để doanh nghiệp phát triển sản xuất hay mở rộng kinh doanh.
Còn dưới góc độ một dự án cán bộ thẩm định hoặc cán bộ tín dụng phải
xác định được tổng số tiền được chỉ tiêu để hình thành nên các tài sản cố định
và tài sản lưu động cần thiết. Những tài sản này sẽ được sử dụng trong việc
tạo ra doanh thu, chi phí, thu nhập suốt dòng đời của dự án.
Nói chung cơ cấu vốn của doanh nghiệp, hay dự án đầu tư có thể chia
làm hai loại tùy theo các mục đích khác nhau.
- Vốn đầu tư vào tài sản cố định: Đây là hoạt động đầu tư vào nhằm cải
tạo, mua sắm máy móc, trang thiết bị cần thiết để hoạt động kinh doanh. Vốn
đầu tư vào tài sản cố định thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư
cho các dự án, các doanh nghiệp. Các tài sản đầu có thể là tài sản hữu hình
hoặc tài sản vô hình. Tóm lại cần phải đánh giá được tỷ lệ vốn đầu tư vào tài
Nguyễn Xuân Quảng
19
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
sản cố định, các trang thiết bị máy móc, nhà xưởng có đảm bảo cho quá trình
hoạt động sản xuất hay không và hiệu quả như thế nào.
- Đây là vốn đầu tư nhắm hình thành các tài sản lưu động cần thiết để
thực hiện dự án, sản xuất kinh doanh. Nhu cầu vốn đầu tư vào tài sản lưu
động phụ thuộc vào đặc điểm của dự án, của loại hình sản xuất kinh doanh.
Phân loại vốn đầu tư theo cơ cấu tài sản giúp cán bộ tín dụng hoặc cán
bộ thẩm định dự án hay doanh nghiệp có xậy dựng được một kết cấu vốn đầu
tư và tài sản thích hợp không? Có tận dụng được năng lực sản xuất và năng
lực hoạt động không từ đó đánh giá hiệu quả của hoạt động đầu tư, sản xuất

chung cho vốn cố định và lưu động, nhưng cũng có thể tính riêng cho từng
loại vốn hoặc tính theo tổng doanh thu bán hàng theo các công thức:
loi nhuan
y suat loi nhuan = *100%
Von san xuat kinh doanh binh quan
T
Ý nghĩa: Có 100 đồng vốn tham gia vào sản xuất kinh doanh tạo ra bao
nhiêu đồng lợi nhuận.
loi nhuan
y suat loi nhuan = *100%
Tong doanh thu ban hang
T
Ý nghĩa: Có 100 đồng doanh thu bán hàng thu được bao nhiêu đồng lợi
nhuận.
Trước khi cho vay, ngân hàng cần phải đánh giá được chỉ tiêu này để
biết được hiệu quả sự dụng vốn của doanh nghiệp trong đó có vốn của ngân
hàng ra sao. Trong hoạt động kinh doanh, nếu doanh nghiệp có tỷ suất lợi
nhuận nhỏ hơn lãi suất tiền vay thì doanh nghiệp đó không có khả năng trả nợ
vay ngân hàng. Do vậy, để phòng tránh rủi ro thì ngân hàng cần phải thẩm
định kỹ trước khi cho vay.
+ Khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Một doanh nghiệp có khả năng thanh toán tốt là doanh nghiệp có đủ khả
năng trả các khoản nợ khi đến hạn. Thông thường muốn biết chính xác khả
năng thanh toán của doanh nghiệp tốt hay xấu, ngân hàng cần phải căn cứ vào
Nguyễn Xuân Quảng
21
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
tình hình tài chính. Để đánh giá chính xác chỉ tiêu này cần xem xét đánh giá
qua các chỉ tiêu:
Khả năng thanh toán chung, khả năng thanh toán ngắn hạn, khả năng

đầu tư vào không? sức mua như thế nào? sản phẩm, dịch vụ có đủ sức cạnh
tranh trên thị trường hay không?
Ngoài ra, nếu đó là đầu tư để cải tiến kỹ thuật, mở rộng sản của doanh
nghiệp thì ngân hàng tiến hành đánh giá về trình độ sản xuất, chất lượng, giá
cả, tình hình máy móc trang thiết bị hiện tại cũng như sau khi thay thế nâng
cấp cải tiến.
+ Phân tích tính pháp lý của dự án
Đây là bước đầu tiên cần thiết cho công tác phân tích dự án. Một dự án
có tính khả thi cao, có hiệu quả kinh tế như g không đủ tính pháp lý thì chắc
chắn nó không thực hiện được. Vì vậy, khi quyêt định cho vay hay tài trợ
ngân hàng phải lựa chọn những dự án có đủ tính pháp lý. Thể hiện:
- Mục đích đầu tư của dự án phải phù hợp với mục đích hoạt động của
doanh nghiệp mà cấp có thẩm quyền đã phê duyệt.
- Kế hoạch sản xuất kinh doanh của khách hàng có hợp pháp, hợp lệ
không. nếu khách hàng xin duyệt hạn mức tín dụng cho cả năm thì cơ sở tính
toán nhu cầu vốn vay là kế hoạch sản xuất kinh doanh được cấp có thẩm
quyền duyệt.
- Hợp đồng giữa kế hoạch vay vốn với người cung ứng nguyên nhiên vật
liệu còn hiệu lực, các điều kiện trong hợp đồng rõ ràng.
+ Phân tích tính khả thi của dự án
- Phân tích nguyên vật liệu: nguyên vật liệu trong dự án có thông dụng.
dễ tìm không, nguồn nguyên vật liệu nhập từ đâu, tính ổn định có cao trong
toàn bộ dự án không, nguồn cung cấp, giá cả chất liệu nguyên vật liệu không
những ảnh hưởng đến tính khả thi của dự án mà còn ảnh hưởng lớn đến hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp, tác dụng đến khả năng tự trả nợ vay ngân
hàng.
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm: sản phẩm của dự án có thị trường tiêu
thụ không, tính cạnh tranh, khối lượng, chất lượng, mẫu mã, giá cả sản phẩm
của dự án có phù hợp với nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng không.
- Hiệu quả kinh tế do dự án đem lại:

Chủ yếu tồn tại dưới hình thức bảo lãnh tức là bên cạnh người vay vốn
có một chủ thể khác dùng tài sản của họ đứng ra bảo lãnh cho khoản vay đó.
Khi đến hạn trả nợ cho ngân hàng mà người vay không trả được nợ thì người
bảo lãnh có trách nhiệm trả nợ thay. Khi thực hiện đảm bảo bằng bảo lãnh,
Nguyễn Xuân Quảng
24
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
cán bộ tín dụng phải chú tâm đến tư cách pháp nhân, năng lực tài chính của
người bảo lãnh và các thủ tục pháp lý theo luật định.
+ Đảm bảo bằng tài sản
Người vay dùng vốn bằng chính tài sản của mình làm đảm bảo cho
khoản nợ dưới hình thức cầm cố hoặc thế chấp. Trong nhiều trường hợp, đây
là phòng tuyến cuối cùng bảo vệ lợi ích của ngân hàng. Vì thế, khi chấp nhận
một tài sản nào đó để đảm bảo cho khoản vay, trong hợp đồng tín dụng cần có
điều khoản quy định rõ khi nào và bằng cách nào ngân hàng có thể phát mãi
tài sản thế chấp để thu hồi vốn cho khoản vay và khi thẩm định tài sản thế
chấp cần hết sức chú ý các điểm sau đây:
Tài sản đảm bảo phải:
- Có tính thanh khoản tốt
- Không bị mất giá
- Có giá trị cao hơn giá trị khoản vay càng lớn càng tốt
- Có quyền sở hữu hợp pháp và rõ ràng
- Chưa được sử dụng để đảm bảo cho một khoản vay khác
4. Phương pháp thẩm định dự án của Ngân hàng thương mại
4.1. Những phân tích cơ bản.
a/ Khái quát
Việc phân tích đánh giá tài chính một dự án đầu tư có thể nói chính là
việc xem xét và kết luận về các báo cáo tài chính Dự án đầu tư đó, do chủ đầu
tư lập (hay thuê người khác lập). Các báo cáo tình tình hình chính là sự phản
ánh tổng hợp nhất các khía cạnh: kỹ thuật, kinh tế của dự án trong suốt thời


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status