Luận văn
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ DỰ
ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
TRẠM XỬ LÝ NƯỚC THẢI
MỎ THAN CỌC SÁU
MỤC LỤC Error! Bookmark not defined.1
GIẢI THÍCH CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI 4
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 5
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ SƠ ĐỒ 6
PHẦN MỞ ĐẦU 7
1. Tính cấp thiết của đề tài 7
2. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài 11
3. Phạm vi nghiên cứu 11
4. Các phương pháp nghiên cứu 12
5. Cấu trúc của chuyên đề 12
LỜI CẢM ƠN Error! Bookmark not defined.
LỜI CAM ĐOAN Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG I: SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CHI PHÍ LỢI ÍCH
ĐỂ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ 13
I. DỰ ÁN ĐẦU TƯ 13
1.1. Khái niệm 13
1.2. Yêu cầu của dự án đầu tư 13
1.3 Tiêu chuẩn đánh giá dự án đầu tư 14
1.4 Lựa chọn phương pháp phân tích hiệu quả dự án đầu tư 20
II. SỬ DỤNG CBA ĐỂ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ 22
2.1 Khái niệm và mục đích sử dụng của CBA 22
2.2 Phân loại CBA 22
2.3 Các bước tiến hành CBA 23
3.1.1 Vị trí xây dựng 50
3.1.2 Đặc điểm địa chất công trình 52
3.2 Mô tả các hoạt động của dự án 53
3.2.1 Giải pháp quy hoạch tổng mặt bằng 53
3.2.2 Thi công xây dựng công trình 55
3.3 Mô tả kỹ thuật của dự án 57
3.3.1 Công suất hệ thống xử lý 57
3.3.2. Chất lượng nước xử lý 62
3.3.3. Công nghệ xử lý nước thải mỏ 62
3.3.4. Thông số kỹ thuật trạm xử lý nước thải 65
3.4 Các tác động môi trường của dự án và biện pháp bảo vệ 67
3.4.1 Trong quá trình xây dựng công trình 67
3.4.2 Trong quá trình vận hành công trình 67
CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TRẠM XỬ
LÝ NƯỚC THẢI MỎ THAN CỌC SÁU 69
I. XÁC ĐỊNH CHI PHÍ. LỢI ÍCH CỦA DỰ ÁN 69
1.1 Lựa chọn chỉ tiêu đánh giá 69
1.2 Xác định chi phí của dự án: 70
1.2.1 Chi phí đầu tư xây dựng công trình 70
1.2.2 Chi phí vận hành 76
1.3 Xác định lợi ích dự án đem lại 79
1.3.1 Doanh thu từ bán nước sạch (B
1
) 79
1.3.2 Tiết kiệm tiền nộp phí nước thải hàng năm 80
II. PHÂN TÍCH CHI PHÍ LỢI ÍCH CỦA TRẠM XỬ LÝ NƯỚC THẢI
MỎ THAN CỌC SÁU 82
2.1 Tính toán các chỉ tiêu 82
2.2 Phân tích độ nhạy 83
ốn nội bộ.
CBA
Cost Benefit Analysis – Phân tích chi phí lợi ích
WTO
World Trade Organization - Tổ chức Thương mại Thế giới
UNCSD
United Nations Commission on Sustainable Development -
Ủy ban Liên hợp quốc về phát triển bền vững.
WCED
World Commission and Environment and Development -
Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển.
TĐ
T
ập đo
àn
UBND
UBND: Ủy ban nhân dân
QĐ
Quyết định
TT
Thủ tướng
DCS
Hệ thống điều khiển
DAS
Hệ thống thu thập và xử lý số liệu
MCS Hệ thống điều khiển lượng mô phỏng
SCS
Hệ thống điều khiển trình tự
3.16 Phân tích độ nhạy khi nhu cầu mua nước của các hộ thay đổi 87
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ SƠ ĐỒ STT Tên hình Trang
1.1 Sơ đồ các bước thực hiện CBA 25
2.1 Bản đồ vị trí thị xã Cẩm Phả 37
2.2 Một số hình ảnh sản xuất của mỏ 48
2.3 Bản đồ vị trí dự án 52
2.4 Bản đồ quy hoạch dự án 55
2.5
Sơ đ
ồ công nghệ
x
ử lý n
ư
ớc thải
64
3.1
Sơ đ
ồ biểu diễn sự biến thi
ên c
ủa NPV qua tỷ lệ
chiết khấu
85
Thế giới hiện nay đã và đang chứng kiến những hậu quả để lại do chỉ chú
trọng tới phát triển kinh tế mà không quan tâm tới vấn đề tài nguyên - môi
trường. Hiện tượng ấm lên của trái đất, kèm theo đó là những thảm họa thiên
ta như bão lũ, sóng thần …; tình trạng sa mạc hóa, suy giảm đa dạng sinh học,
suy giảm tầng Ozon, ô nhiễm đất, ô nhiễm nước …Điều này đã buộc các quốc
gia phải chú ý hơn tới những biện pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ môi trường.
Nhiều biện pháp kinh tế, xã hội được triển khai nhằm thực hiện bảo vệ môi
trường có hiệu quả. Nhiều quốc gia đã thực hiện giảm hoặc miễn thuế đối với
kinh doanh trồng rừng, miễn thuế đối với các chi phí đầu tư vào các biện pháp
bảo vệ môi trường, thực hiện đóng cửa rừng, khoanh vùng khu bảo tồn thiên
nhiên, lập vườn quốc gia… Nhiều trung tâm nghiên cứu được thành lập để
nghiên cứu các tác động của môi trường và các biện pháp đối phó nhằm giảm
thiểu những hậu quả tiêu cực mà sự trả thù của môi trường có thể mang lạị.
Sự hợp tác quốc tế trong việc đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm bảo vệ
môi trường toàn cầu cũng được thiết lập. Các công ước quốc tê đa phương,
các định chế tổ chức quốc tế đã được hình thành nhằm tạo ra sự phát triển bền
vững toàn cầu.WTO, UNCSD, WCED là những ví dụ quan trọng. Thế giới đã
đưa ra những hành động thiết thực và cụ thể vì sự phát triển bền vững.
Việt Nam là một quốc gia đông dân tại khu vực Đông Nam Á, kinh tế
đang ở mức đang phát triển. Tăng trường và phát triển bền vững cũng trở
thành quan điểm, đường lối, chính sách và mục tiêu phát triển quốc gia “
Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực
hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, “Phát triển kinh tế xã
hội gắn chặt với bảo vệ, cải thiện môi trường, đảm bảo sự hài hoà giữa môi
trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học” (Nghị
quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX).
Để đạt được mục tiêu lâu dài ấy, đòi hỏi sự chung tay hành động của cả cá
nhân, cộng đồng, đặc biệt là các tổ chức doanh nghiệp, các đơn vị hoạt động
sản xuất. Thực tế hiện nay, nhiều vấn đề môi trường nổi cộm phát sinh từ hoạt
dựng trạm xử lý nước thải mỏ than Cọc Sáu đã được tiến hành. Tuy nhiên,
vấn đề xử lý nước thải mỏ than còn khá mới ở nước ta, mới chỉ có hai hệ
thống mang tính thử nghiệm (Na Dương 600m
3
/h, Hà Lầm 300m
3
/h) được
nghiên cứu, xây dựng. Tuy nhiên công nghệ của 02 Trạm xử lý nước thải trên
khá thô sơ, xử lý chưa triệt để, việc kiểm soát chất lượng nước thải còn thủ
công, chưa có tính công nghiệp, nước sau khi xử lý thải ra môi trường không
tái sử dụng. Việc xây dựng Trạm xử lý nước thải mỏ than Cọc Sáu như một
công trình thử nghiệm cho việc xử lý ô nhiễm môi trường kết hợp với tái sử
dụng chất thải nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường trong
ngành mỏ cũng như phát triển ngành kinh tế môi trường. Vì vậy, việc phân
tích, đánh giá hiệu quả dự án để thấy được đóng góp của dự án đối với bản
thân doanh nghiệp cũng như môi trường vùng than là hết sức quan trọng. Đó
chính là lý do tôi lựa chọn đề tài:
“ Đánh giá hiệu quả dự án đầu tư xây dựng Trạm xử lý nước thải mỏ
than Cọc Sáu”
2. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
2.1 Mục tiêu
Qua phương pháp phân tích chi phí lợi ích, nhằm xác định tính khả thi
của dự án, đồng thời cũng thấy được lợi ích mà dự án đem lại, bao gồm cả lợi
ích kinh tế, lợi ích xã hội và lợi ích môi trường.
2.2 Nhiệm vụ
Tổng quan cơ sở lí luận về dự án đầu tư, phương pháp đánh giá hiệu
quả dự án đầu tư, đặc biệt về phương pháp phân tích chi phí lợi ích để áp
dụng vào dự án nghiên cứu.
Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của khu vực dự án triển
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CHI
PHÍ LỢI ÍCH ĐỂ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
I. DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.1. Khái niệm
Theo luật đầu tư thì dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và
dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng
thời gian xác định.
Như vậy dự án đầu tư có thể xem xét từ nhiều góc độ khác nhau:
- Về mặt hình thức nó là một tập hợp hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi
tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được
những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.
- Trên góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý sử dụng vốn,
vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế - xã hội trong một thời
gian dài.
- Trên góc độ kế hoạch, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi
tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội,
làm tiền đề cho cho các quyết định đầu tư và tài trợ.
- Về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan
với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra
Bước đầu tiên để tính giá trị hiện tại ròng của dự án đầu tư là phải trừ
tất cả các chi phí ra khỏi tổng lợi ích của mỗi giai đoạn để có được lợi ích
ròng. Thứ hai là chọn một tỷ lệ chiết khấu thể hiện được chi phí cơ hội của
vốn khi dùng cho những việc khác của nền kinh tế, do đó quy ra một chi phí
của vốn cho mỗi dự án bằng với lợi ích phải từ bỏ. Khi giá trị hiện tại ròng
của một dự án được tính theo các tiêu chuẩn kinh tế, thì giá trị hiện tại ròng
dương có nghĩa là dự án này sẽ làm cho nền kinh tế tốt hơn, giá trị hiện tại
ròng âm sẽ làm cho nền kinh tế tệ hơn. Chính ý nghĩa này của tiêu chuẩn giá
trị hiện tại ròng đưa chúng ta đến cách diễn tả thứ nhất của tiêu chuẩn này, và
điều này luôn luôn đúng trong mọi hoàn cảnh.
Quy tắc 1: "không chấp nhận một dự án nào trừ phi dự án này có giá trị
hiện tại ròng dương khi được chiết khấu bằng chi phí cơ hội của vốn."
(ii) Hạn chế của ngân sách
Thông thường chính quyền không thể có đủ vốn ở một mức chi phí cố
định để thực hiện tất cả các dự án có giá trị hiện tại ròng dương. Khi tình thế
như vậy xảy ra, ta cần phải lựa chọn giữa các dự án để quyết định một nhóm
các dự án mà sẽ tối đa hóa giá trị hiện tại ròng của các công trình đầu tư nằm
trong giới hạn của ngân sách. Như thế, cách diễn tả thứ hai của tiêu chuẩn giá
trị hiện tại ròng là:
Quy tắc 2: "Trong giới hạn của một ngân sách đã được ấn định, cần phải
chọn trong số các dự án hiện có nhóm dự án nào có thể tối đa hoá giá trị hiện
tại ròng."
Bởi vì hạn chế ngân sách không đòi hỏi tất cả kinh phí phải được sử
dụng hết, nên quy tắc này ngăn chặn việc thực hiện một dự án có NPV âm.
Ngay cả khi tất cả vốn của ngân sách không được sử dụng hết, NPV do số vốn
ngân sách này mang lại sẽ tăng lên nếu dự án có NPV âm bị loại bỏ.
(iii) So sánh các dự án loại trừ lẫn nhau
Rất nhiều khi trong công tác thẩm định dự án ta gặp phải những tình
huống phải lựa chọn giữa những dự án thay thế nhau có nghĩa là nếu thực
Khi người ta cho rằng các dự án với đời hữu dụng ngắn sẽ dẫn tới các dự
án kế tiếp có lợi nhuận siêu biên tế, thì việc so sánh các dự án có thể thay thế
cho nhau với đời hữu dụng khác nhau mà sẽ cung cấp những dịch vụ như
nhau vào một thời điểm nhất định sẽ đòi hỏi chúng ta phải điều chỉnh chiến
lược đầu tư của chúng ta để chúng trải dài cùng một khoảng thời gian xấp xỉ
bằng nhau. Một trong những hình thức điều chỉnh như thế là xem xét cùng
một dự án được lặp lại theo thời gian cho tới khi các chiến lược đầu tư thay
thế khác có cùng những khoảng thời gian hữu dụng tương tự.
1.3.2 Tiêu chuẩn tỷ lệ lợi ích-chi phí
Tiêu chuẩn này để xếp hạng các dự án đầu tư là quy tắc được các nhà
phân tích đầu tư áp dụng rộng rãi nhất. Nhưng nếu không được sử dụng một
cách cẩn thận, tiêu chuẩn này sẽ đưa ra một lời khuyên sai lệch về sự hấp dẫn
tương đối của các cơ hội đầu tư. Tỷ lệ lợi ích-chi phí được tính bằng cách
đem chia giá trị hiện tại của các lợi ích cho giá trị hiện tại của các chi phí, sử
dụng chi phí cơ hội của vốn làm tỷ lệ chiết khấu.
Tỷ lệ lợi ích-chi phí (R) = (Hiện giá của các lợi ích/Hiện giá của các chi phí)
Sử dụng tiêu chuẩn này, ta sẽ đòi hỏi rằng để cho một dự án có thể chấp
nhận được, tỷ số R phải lớn hơn 1. Và trong việc lựa chọn các dự án loại trừ
lẫn nhau, quy tắc là chọn dự án có tỷ lệ lợi ích-chi phí lớn nhất.
Tuy nhiên, ta có thể dễ dàng nhìn thấy rằng tiêu chuẩn này có thể làm ta
xếp hạn sai các dự án, nếu các dự án này khác nhau về qui mô. Vấn đề thứ hai
liên quan đến việc sử dụng tỷ số lợi ích-chi phí, và có thể đây là khiếm khuyết
nghiêm trọng nhất của cách này, là tỷ lệ này nhạy cảm với cách mà các kế
toán viên định nghĩa chi phí khi tính ngân lưu.
1.3.3 Thời gian hoàn vốn
Quy tắc thời gian hoàn vốn đã được sử dụng rộng rãi trong việc quyết
định đầu tư. Bởi vì dễ áp dụng và khuyến khích các dự án có thời gian hoàn
vốn nhanh, quy tắc này đã trở thành một tiêu chuẩn phổ biến trong việc lựa
chọn đầu tư kinh doanh. Nhưng đáng tiếc thay nó có thể dẫn đến những kết
liên quan với nhau bằng cách thức tính toán ra chúng. Để tính NPV, người ta
đưa ra tỷ lệ chiết khấu và dùng nó để tìm hiện giá của chi phí và lợi ích. Trái
lại, khi tìm IRR của một dự án cách tính được đảo ngược lại. Thay vì chọn tỷ
lệ chiết khấu, người ta quy NPV của dòng lợi ích ròng bằng không; và IRR là
tỷ lệ chiết khấu tìm được làm cho NPV bằng không.
Hệ số hoàn vốn nội bộ K của một dự án được tính bằng cách giải phương
trình sau:
Hệ số hoàn vốn nội bộ có một lợi thế lớn là nó có thể được tính toán chỉ
dựa vào các số liệu của dự án mà thôi. Đặc biệt, việc tính toán này không đòi
hỏi số liệu về chi phí cơ hội của vốn. Tuy nhiên, những điểm bất lợi của hệ số
hoàn vốn nội bộ lại rất lớn và bắt chúng ta phải vô cùng thận trọng khi sử
dụng nó.
Đối với một dự án điển hình mà giai đoạn đầu tư ban đầu, (trong thời gian
đó giá trị B
t
-C
t
là âm) được tiếp tục bởi một giai đoạn trong đó lợi ích ròng
luôn luôn dương, thì chỉ có một lời giải duy nhất cho hệ số hoàn vốn nội bộ.
Mặt khác, nếu ta có một dự án mà biên dạng theo thời gian của các lợi ích
ròng cắt trục hoành ngang qua vạch số không nhiều hơn một lần, như minh
họa trong Hình 4-3, ta có thể không xác định được một hệ số hoàn vốn nội bộ
duy nhất. Ví dụ của những dự án như vậy là những trường hợp trong đó các
hạng mục thiết bị lớn đôi khi phải thay thế, làm cho lợi ích ròng âm trong
những năm tái đầu tư. Các dự án đường sá cũng mang đặc điểm này bởi vì
người ta phải thực hiện định kỳ các khoản chi phí lớn phủ lại mặt đường để
chúng có thể tiếp tục sử dụng được.
1.4 Lựa chọn phương pháp phân tích hiệu quả dự án đầu tư
Xem xét sự khác nhau giữa phân tích tài chính và phân tích kinh tế ta
nhận thấy, đối với hoạt động của cá nhân, người ta không tính tới nhiều chi
phí lợi ích có tính xã hội mà chỉ quan tâm tới những chi phí thực, lợi ích thực
nhìn thấy được, họ phải bỏ tiền ra và thông thường họ bỏ qua các chi phí lợi
ích bên ngoài trừ những trường hợp thuộc quy định của luật pháp hay những
ràng buộc có tính pháp lý. Chính vì vậy người ta cho rằng cá nhân chống lại
chi phí lợi ích xã hội.
Do vậy, để đảm bảo đạt hiệu quả thực thi các chính sách kinh tế xã
hội, các dự án đầu tư, kinh nghiệm của các nước trên thế giới, đặc biệt là các
nước phát triển đó là sử dụng phương pháp phân tích chi phí lợi ích (CBA)
trong việc ra quyết định. Phương pháp CBA sử dụng tổng hợp các tiêu chí về
hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường để đánh giá chi tiết nhất hiệu quả mà dự
án mang lại cho cá nhân, doanh nghiệp và xã hội.
- Tiêu chí đánh giá về hiệu quả kinh tế: xem lợi ích mang lại cho chủ đầu
tư, ví dụ như tiết kiệm tiền đóng phí thải, tận thu tài nguyên,…
- Tiêu chí đánh giá về hiệu quả xã hội: dự án đem lại lợi ích cho xã hội,
lợi ích này khó lượng hóa được bằng tiền nhưng mang tính chất lâu dài, bền
vững, một số tiêu chí như: mang lại công ăn việc làm cho người lao động, cải
thiện mức sống của người dân,…
- Tiêu chí đánh giá về môi trường: bất cứ một dự án nào khi triển khai
đều gây ra tác động đối với môi trường, một số tiêu chí như: cải thiện chất
lượng môi trường đất, nước, không khí, tăng đa dạng sinh học…
II. SỬ DỤNG CBA ĐỂ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
2.1 Khái niệm và mục đích sử dụng của CBA
Khái niệm
Phân tích chi phí lợi ích là một kỹ thuật phân tích để đi đến quyết định
xem đây có nên tiến hành các dự án đã triển khai hay không hay hiện tại có
nên cho triển khai các dự án được đề xuất hay không. Phân tích lợi ích chi phí
cũng được dùng để đưa ra quyết định lựa chọn giữa hai hay nhiều các đề xuất
ra ban đầu.
(3) Ex-post BCA: được tiến hành sau khi dự án được thực thi để
xem lợi ích mang lại có lớn hơn chi phí không.
Khi dự án đã kết thúc người ta thực hiện CBA và ở giai đoạn này có nhiều
thuận lợi do trong quá trình thực hiện dự án mọi chi phí lợi ích đã bộc lộ rõ.
(4) Ex-ante/ex-post BCA: dạng kết hợp giữa Ex-ante BCA và ex-
post BCA, giúp so sánh giá trị dự án trước và sau khi dự án được tiến hành.
2.3 Các bước tiến hành CBA
Phân tích chi phí lợi ích có thể được nghĩ đến như một quá trình vận hành
trong đó có một số bước nổi bật. Không phải phân tích nào cũng yêu cầu phải
thực hiện đầy đủ tất cả các bước đi này. Một dự án ngắn hạn sẽ không đòi hỏi
phải chiết khấu lợi ích trong tương lai. Một dự án đã triển khai nhiều lần có
thể sẽ không gặp phải rủi ro hay bất chắc. Tuy nhiên, trong phần lớn các
trường hợp, để cân nhắc có nên triển khai một dự án hay không hay nên chọn
triển khai dự án nào giữa các dự án được đề xuất, chúng ta cần bám theo các
bước:
Hình 1.1 Sơ đồ các bước tiến hành CBA
( Nguồn: tác giả tự tổng hợp)
1. Làm rõ vấn đề chỗ đứng/vị thế
Khi bắt đầu một phân tích, cần phải chỉ rõ nghiên cứu này là do ai làm,
chi phí ai phải chi, lợi ích ai được hưởng. Chúng ta luôn phải rõ ràng và nhất
Làm rõ vấn đề chỗ đứng/vị thế
Xác định những phương án thay thế
Đưa ra các giả định
Lập danh sách tác động của mỗi dự
án thay th
hàng, chi phí, điều kiện thị trường, thời hạn hay các mức lãi sất. Trong một
phân tích được tiến hành một cách có trách nhiệm, những giả định này được
nêu một cách rõ ràng. Nếu có thể chúng được phân bổ cho những nguồn lực
đáng tin cậy. Nếu đưa ra một diện giá trị giả định thì phải có quy định rõ ràng
về diện giá trị được đưa ra.
4. Lập danh sách các tác động của mỗi dự án thay thế
Nên liệt kê các tác động tiềm tàng của mỗi dự án một cách đầy đủ nhất có
thể. Có thể liệt kê tác động của một hay nhiều dự án cụ thể được xem xét
cũng như tác động của các lựa chọn thay thế: giữ nguyên hiện trạng hay
không triển khai bất kỳ dự án nào.