Luận văn: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG NGOẠI THƯƠNG - Pdf 12

1 Luận văn
GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP PHÁT SINH TỪ
HỢP ĐỒNG NGOẠI
THƯƠNG
2
Phần I
VAI TRÒ CỦA HỢP ĐỒNG NGOẠI THƯƠNG ĐỐI VỚI
HỢP ĐỒNG NGOẠI THƯƠNG

I. VAI TRÒ CỦA NGOẠI THƯƠNG ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ NƯỚC TA.
1. Ngoại thương Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
Công cuộc đổi mới của nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và
rất quan trọng về kinh tế - xã hội. Chặng đường đổi mới tiếp theo đòi hỏi
chúng ta phải tìm tòi, nghiên cứu, tiếp cận và giải quyết nhiều vấn đề mới mẻ
và phức tạp của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Trong đó hợp
đồng ngoại thương là khâu trọng yếu luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm
nhiều nhất.
Giai đoạn 1975 - 1985 đất nước thống nhất, chúng ta có điều kiện và
khả năng khai thác có hiệu quả các tiềm năng của đất nước để đẩy mạnh
ngoại thương phát triển mở rộng hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật với nước
ngoài thu hút vốn và kỹ thuật tiên tiến của thế giới.
Bên cạnh đó chúng ta cũng còn gặp nhiều khó khăn bắt nguồn từ chế độ
kinh tế của nước nhà, cơ sở vật chất còn nghèo nàn lạc hậu kinh tế hàng hoá
chưa phát triển, chưa có tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế và còn bị lệ thuộc
nhiều vào bên ngoài. Mặt khác do chiến tránh kéo dài đã gây ra những vết
thương về kinh tế - xã hội mà hàng thế hệ mới hàn gắn được.
Giai đoạn này chúng ta đã thực hiện chế độ độc quyền về ngoại thương-

khẩu đã trở thành một cản trở không nhỏ đối với các doanh nghiệp trong
nước. Yêu cầu về số vốn không dưới 200.000USD là một sự thách đố đối với
các doanh nghiệp, và các nhà doanh nghiệp được cấp giấy phép cũng chỉ
được phép XNK mặt hàng đã đăng ký. Do đó đã làm thu hẹp rất nhiều phạm
vi hoạt động của các doanh nghiệp cản trở việc đa dạng hoá các sản phẩm
xuất khẩu giảm hiệu quả kinh tế trong hợp đồng ngoại thương.
Đầu năm 1997, luật thương mại đã được Quốc hội thông qua đặt nền
tảng cho những thay đổi căn bản trong hệ thống quản lý ngoại thương của
Việt Nam.
Năm 1998 chúng ta đã chứng kiến những thay đổi căn bản về quyền
kinh doanh ngoại thương đó là việc Thủ tướng chính phủ đã ký quyết định
4
cho phép tất cả các doanh nghiệp Việt Nam được tham gia trực tiếp vào hoạt
động XNK mà không phải đáp ứng bất cứ điều kiện gì ngoài việc phải tự
đăng ký mã số hàng hoá của mình tại cơ quan hải quan.
Ngày 31/7/98 Chính phủ ban hành nghị định 57/1998/NĐ - CP quy định
chi tiết luật thương mại về hoạt động XNK gia công và đại lý mua bán hàng
hoá với nước ngoài, theo khoản 1 điều 8 thì thương nhân là doanh nghiệp
thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập theo quyết định của pháp luật
được phép XNK hàng hoá theo ngành nghề đã đăng ký, giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh.
Cũng theo khoản 3 điều 8 nghị định 57 thì các doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế khi (tham gia) hoạt động kinh doanh XNK không phải xin
giấy phép kinh doanh XNK của bộ thương mại nữa mà trước khi kinh doanh
XNK doanh nghiệp phải đăng ký mã số doanh nghiệp kinh doanh XNK tại
cục Hải quan tỉnh, thành phố. Bên cạnh đa dạng hoá và đa phương hoá các
mối quan hệ kinh tế với nước ngoài là một trong những thành tựu nổi bật của
chính sách đổi mới do Đảng ta khởi xướng.
Cho tới nay Việt Nam đã có quan hệ kinh tế với 104 nước và vùng lãnh
thổ trên thế giới trong đó đã ký hiệp định thương mại với 60 nước, ký hiệp

Thứ hai: Xuất khẩu góp phần vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc
đẩy sản xuất phát triển, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với xu hướng
phát triển của nền kinh tế thế giới là một đòi hỏi tất yếu đối với nền kinh tế
nước ta.
Thứ ba: xuất khẩu không những thúc đẩy sự phát triển của chính ngành
nghề xuất khẩu mà còn tạo điều kiện cho các ngành nghề khác phát triển
thuận lợi.
Chẳng hạn khi phát triển ngành dệt may xuất khẩu sẽ tạo điều kiện cho
các ngành sản xuất nguyên liệu như trồng bông, tơ tằm… phát triển …
Thứ tư: Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế kỹ thuật nhằm cải tạo và
nâng cao năng lực sản xuất trong nước, nói cách khác xuất khẩu tạo ra vốn,
kỹ thuật công nghệ từ bên ngoài vào Việt Nam, hiện đại hoá nền sản xuất
trong nước tạo ra năng lực sản xuất mới.
Xuất khẩu còn là cơ sở đề mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối
ngoại, xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại tạo điều kiện thúc đẩy
các quan hệ kinh tế đối ngoại khác phát triển.
6
Chẳng hạn xuất khẩu và công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu sẽ thúc
đẩy quan hệ tín dụng, đầu tư, vận tải quốc tế… ngược lại chính các quan hệ
kinh tế đối ngoại này sẽ tạo điều kiện cho việc mở rộng các hoạt động xuất
khẩu.
2.2. Vai trò của nhập khẩu.
Nhập khẩu là hoạt động quan trọng có tác dụng (trực tiếp) tới hoạt động
sản xuất và đời sống trong nước nhập khẩu nhằm bổ sung những hàng hoá
mà trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất chưa đủ để đáp ứng nhu
cầu trong nước. Cụ thể như sau:
Thứ nhất: Nhập khẩu tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Thứ hai: Nhập khẩu bổ sung kịp thời các mặt mất cân đối của nền kinh
tế đảm bảo phát triển kinh tế cân đối ổn định.

bên mua và bên bán được đăng ký tại hai quốc gia khác nhau.
Thứ hai: Hợp đồng mua bán có tính chất quốc tế nếu đối tượng của hợp
đồng là hàng hoá phải được giao tại một nước khác với nước mà hàng hoá đó
được tồn trữ hoặc sản xuất ra khi hợp đồng được ký kết.
Thứ ba: Được coi là hợp đồng mua bán quốc tế khi:
+ Có sự vận chuyển hàng hoá là đối tượng của hợp đồng từ lãnh thổ của
quốc gia này sang lãnh thổ của quốc gia khác.
+ Tất cả các hành vi cấu thành sự chào hàng và sự ưng thuận không
được thực hiện trên lãnh thổ của cùng một quốc gia.
+ Sự giao hàng được thực hiện trên lãnh thổ của một quốc gia khác với
quốc gia mà ở đó các hành vi cấu thành sự chào hàng và sự ưng thuận đã
được hoàn thành. Quan điểm trên đã được đề nghị trong dự thảo luật ROMA
1956.
Công ước Vienne ngày 11/04/1980 đã không chấp nhận quan điểm trong
dự thảo luật Roma và chấp thuận tiêu chuẩn thứ nhất: Hợp đồng mua bán có
tính chất quốc tế khi hai bên có trụ sở tại hai quốc gia khác nhau. Dấu hiệu
quốc tịch của các bên không phải là yếu tố để phân biệt.
2. Vai trò của hợp đồng mua bán ngoại thương trong hoạt động
kinh doanh XNK.
8
Do đặc điểm về tự nhiên mỗi quốc gia có lợi thế riêng về sản xuất.
Chính những lợi thế riêng biệt khác nhau này giữa các quốc gia là tiền đề dẫn
tới phân công lao động quốc tế và dẫn đến nhu cầu trao đổi hàng hoá giữa các
quốc gia nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng.
Thực tiễn đã chứng minh trong thời đại ngày nay khi trình độ quốc tế
hoá đời sống kinh tế ngày càng cao, nhu cầu hội nhập quốc tế là nhu cầu
không thể thiếu và ngày càng phải được mở rộng. Các quốc gia sẽ không thể
phát triển, không thể theo kịp sự phát triển của thế giới và sẽ bị tụt hậu nếu
thực hiện chính sách cô lập. Các quốc gia đều có ý thức được giá trị to lớn
của việc hội nhập kinh tế toàn cầu đặc biệt là các quan hệ trao đổi hàng hoá

Năm 1817 trên thế giới đã có sự xuất hiện những dấu hiệu của cuộc
khủng hoảng kinh tế, hàng hoá sản xuất ra dư thưa. Sự cạnh tranh về thị
trường ngày càng gay gắt.
Để khắc phục tình trạng này các thương gia đã có sự quy tụ theo ngành
nghề dưới dạng các hiệp hội với mục đích:
- Thiết lập một quy chế pháp lý chi phối các hoạt động mua bán quốc tế
nhằm thống nhất các điều kiện mua bán thiết lập môi trường cạnh tranh công
bằng, hợp lý.
- Tước bỏ thẩm quyền giải quyết các vụ tranh chấp của các toà án quốc
gia và chuyên quyền này vào tổ chức trọng tài quốc tế.
Trong giai đoạn đầu các hiệp hội, các nhà kinh doanh tại mỗi quốc đã
soạn ra những hợp đồng mẫu cho từng loại hàng hoá tuy nhiên các hợp đồng
này vẫn mang tính chất riêng biệt do vậy hợp đồng mẫu của từng quốc gia
vẫn có sự khác biệt về chi tiết nhưng cũng là nguyên nhân dẫn đến các vụ
tranh chấp. Do đó những hiệp hội của các quốc gia đã tìm cách xích lại gần
nhau hơn và ký kết với nhau những thoả hiệp, trong đó quyền lợi của các bên
được giải quyết thoả đáng. Các nỗ lực quốc tế nhằm đem lại một chế độ pháp
lý thuần nhất phải kể đến các công trình.
10
1. Uỷ ban kinh tế Châu âu thuộc tổ chức của Liên hợp quốc đã soạn thảo
được những điều kiện chung cho các hợp đồng XNK một số mặt hàng trọng
điểm: các trang thiết bị, ngũ cốc, chất đốt.
2. Hội đồng tương trợ kinh tế - tổ chức thuộc khối các nước XHCN với
mục đích phát triển nền ngoại thương giữa các nước đó trên tinh thần tương
trợ đã soạn ra các văn bản.
- Các điều kiện chung về quan hệ thương mại.
- Các quy tắc pháp lý áp dụng cho hợp đồng mua bán.
- Cách giải quyết các vụ tranh chấp.
Tổ chức này đã ngừng hoạt động từ tháng 6/1999.
3. Phòng Thương mại quốc tế với công trình về "những điều kiện

công ước của Liên hợp quốc 1980 với khái niệm trong luật thương mại Việt
Nam 1997 có sự tương đồng.
Theo quy định tại nghị định 36CP 24/04/97 các hợp đồng trao đổi hàng
hoá giữa các doanh nghiệp thuộc khi chế xuất, các cơ sở kinh doanh hàng
miễn thuế với các doanh nghiệp trong nước tuy không được gọi là hợp đồng
mua bán ngoại thương nhưng được coi là hợp đồng XNK và chịu sự chi phối
của các quy định pháp luật liên quan.
Ngoài ra, thực tiễn cho thấy các hình thức kinh doanh khác như chuyển
khẩu, tạm nhập tái xuất… các hợp đồng các hình thức này cũng phải chịu sự
điều chỉnh của các quy định páp luật về hợp đồng ngoại thương.
2. Đặc điểm hợp đồng ngoại thương.
- Về chủ thể:
Chủ thể tham gia hợp đồng là những thương nhân mang quốc tịch khác
nhau, quy chế thương nhân được xác định theo luật của nước mà thương
nhân đó mang quốc tịch.
Thương nhân là tổ chức thì quốc tịch của thương nhân được xác định là
quốc tịch của nước nơi:
+ Đặt trung tâm quản lý (Pháp - Đức)
12
+ Đặt trung tâm hoạt động của tổ chức (Ai Cập, Xê ri…)
Khoản 1 điều 832 Bộ luật dân sự nước cộng hoà XHCN Việt Nam ghi
nhận nguyên tắc quốc tịch của pháp nhân được xác định tuỳ thuộc vào nơi
thành lập pháp nhân.
- Về đối tượng của hợp đồng:
Là hàng hoá tồn tại thực tế, có thể di rời được, xác định được phải được
phép giao dịch lưu thông trên thị trường.
- Về đồng tiền thanh toán
Đồng tiền thanh toán trong hợp đồng ngoại thương là ngoại tệ đối với ít
nhất là một bên tham gia hợp đồng. Các bên có thể thoả thuận đồng tiền
thanh toán là đồng tiền của bên bán hoặc bên mua hoặc của một nước thứ ba

Đa số các nước Bắc Âu, Tây Âu và Châu Mỹ đều áp dụng luật mới ký
kết hợp đồng. Trong trường hợp hình thức của hợp đồng bị coi là bất hợp
pháp tại nơi ký kết nhưng theo luật nhân thân của các bên hoặc luật nơi có
toà án xét xử tranh chấp là hợp pháp thì hợp đồng vẫn có giá trị về mặt hình
thức.
Theo khoản 1 điều 34 Bộ luật dân sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam thì hình thức của hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước
nơi giao kết hợp đồng.
- Về nội dung hợp đồng.
Đa số các nước nên áp dụng nguyên tắc thoả thuận để xác định tính hợp
pháp của nội dung hợp đồng.
Ngoài ra các nước còn áp dụng luật nơi ký kết hợp đồng.
Theo điều 394 và điều 834 Bộ luật dân sự Việt Nam việc giải quyết
xung đột về nội dung hợp đồng sẽ áp dụng nguyên tắc thoả thuận hoặc áp
dụng luật nơi ký kết hợp đồng hoặc luật nơi thực hiện hợp đồng.
- Về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng.
+ Về thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng hầu hết các nước áp
dụng luật nơi ký kết hợp đồng hoặc luật nơi thực hiện hợp đồng.
14
Khoản 3 điều 4040 Bộ luật dân sự Việt Nam ghi nhận thời điểm phát
sinh hiệu lực của hợp đồng là thời điểm giao kết trừ có thoả thuận hoặc pháp
luật có quy định khác.
+ Về năng lực chu thể
Các nước thường áp dụng luật nhân thân của chủ thể.
Theo pháp luật Việt Nam năng lực chủ thể của người nước ngoài được
xác định như công dân Việt Nam, năng lực hành vi được xác định theo luật
của nước người đó mang quốc tịch.
2. Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng ngoại thương theo pháp luật
Việt Nam.
- Chủ thể của hợp đồng mua bán ngoại thương

luật Việt Nam là phải lập thành văn bản.
Với sự phát triển của công nghệ thông tin trên các hình thức giao dịch
bằng điện báo, telex, fax, thư điện tử… cũng được coi là hình thức văn bản.
(Theo khoản 3 điều 49 Bộ luật thương mại Việt Nam).
Để hợp đồng có hiệu lực pháp lý theo quyết định số 91/TTg ngày
13/11/92 của Thủ tướng chính phủ một số hợp đồng phải được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền xem xét thì mới có hiệu lực thi hành. Đó là những hợp
đồng sử dụng vốn từ nguồn ngân sách nhà nước.
V. KÝ KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN NGOẠI THƯƠNG.
1. Ký trực tiếp.
Là việc các bên chủ thể của hợp đồng trực tiếp gặp nhau đàm phán thoả
thuận xây dựng và ký kết hợp đồng.
2. Ký gián tiếp.
Ký hợp đồng ngoại thương dưới hình thức trực tiếp thường tốn kém
kinh phí. Để khắc phục tình trạng này khi các phương tiện thông tin liên lạc
hiện đại cho phép việc ký hợp đồng bằng cách gửi thư từ điện tín, fax… gồm
16
hai giai đoạn là đề nghị ký kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị ký kết hợp
đồng hay nói cách khác là chào hàng và chấp nhận chào hàng.
Theo điều 51 Bộ luật thương mại Việt Nam: chào hàng là một đề nghị
giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá trong một thời hạn nhất định được
chuyển cho một hay nhiều người đã xác định và phải có nội dung chủ yếu của
hợp đồng mua bán hàng hoá.
Chấp nhận chào hàng là thông báo của bên được chào hàng về việc chấp
thuận toàn bộ các nội dung đã nêu trong chào hàng.
Theo điều 52 luật thương mại Việt Nam thì trong trường hợp bên được
chào hàng có sửa đổi bổ sung một trong những nội dung chủ yếu của chào
hàng thì hành vi đó được coi là từ chối chào hàng và hình thành chào hàng
mới.
Trường hợp sửa đổi bổ sung nội dung chào hàng nhưng không làm thay

có những ý kiến lại cho rằng phải căn cứ vào mục đích của hành vi… do vậy
việc đặt ra một chuẩn mực chung là vô cùng khó khăn cần phải có một quá
trình lâu dài trên cơ sở sự tiến bộ chung của thế giới.
2. Giải quyết tranh chấp về hợp đồng ngoại thương có chủ thể là
nhà nước.
Hiện nay chưa có một giải pháp dứt khoát cho vấn đề quyền miễn trừ tư
pháp của nhà nước. Thực tế khi có tranh chấp xảy ra thì sự việc sẽ được giải
quyết tại trọng tài quốc tế nhưng nếu chấp nhận giải quyết tại trọng tài quốc
tế nhưng nếu chấp nhận giải quyết tại trọng tài quốc tế sản xuất đi đến kết
quả là nhà nước chịu sự quyết định của một hoặc một nhóm cá nhân và quyết
định này về bản chất giống như một bản án vấn đề đặt ra là quyền miễn trừ
về tư pháp ở đây có được đề ra không, chủ quyền quốc gia có bị xâm phạm
hay không.
Cần phải thấy rằng chủ quyền quốc gia chỉ ngăn cản một toà án nước
ngoài không được xét xử quốc gia này nếu quốc gia không đồng ý còn trọng
tài là hành vi hoàn toàn do sự thoả thuận của các bên. Nếu trong hợp đồng
không có điều khoản nào thoả thuận về vấn đề trọng tài hoặc trong vụ tranh
chấp hai bên không đi đến thoả thuận là trọng tài giải quyết thì trọng tài
không thể xét xử được.
18
Hầu hết các nước đều ghi nhận trong pháp luật của mình là cho phép các
doanh nghiệp nhà nước được thoả thuận điều khoản vì trọng tài trong hợp
đồng mua bán ngoại thương. Vấn đề này được nhà nước Việt Nam ghi nhận
tại khoản 3 điều 239 Bộ luật thương mại và tại điều 2 quy tắc tố tụng của
trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam ban hành kèm theo quyết định số
204/TTg ngày 28/04/93.
VII. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HỢP ĐỒNG NGOẠI THƯƠNG.
Nội dung của hợp đồng mua bán ngoại thương bao gồm rất nhiều những
điều khoản khác nhau, trong đó có những điều khoản mà nếu thiếu một trong
số đó thì hợp đồng sẽ không có giá trị pháp lý, những nội dung chủ yếu đó

dụng, chuyển khoản… trong đó thông qua tín dụng (L/c) được áp dụng rộng
rãi nhất trong mua bán quốc tế.
6. Địa điểm thời hạn giao hàng.
Đây là điều khoản quan trọng trong mua bán quốc tế, có ảnh hưởng trực
tiếp tới giá cả, về việc xác định quyền sở hữu và trách nhiệm gánh chịu
những rủi ro khi thực hiện hợp đồng.
Địa điểm giao hàng có thể là nơi sản xuất, cảng biển, ga… hoặc tại bất
kỳ nơi nào do các bên thoả thuận. Còn thời điểm giao hàng có thể là một thời
gian nhất định hoặc một khoảng thời gian mà các bên phải hoàn tất việc giao
nhận hàng.
VIII. CÁC TRƯỜNG HỢP MIỄN TRÁCH NHIỆM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ
HỢP ĐỒNG.
Về nguyên tắc, khi một bên không thực hiện, thực hiện không đúng,
không đầy đủ nghĩa vụ của mình đã được xác lập trong hợp đồng mà gây
thiệt hại thì bên vi phạm sẽ phải chịu áp dụng các chế tài và phải bồi thường
thiệt hại. Tuy nhiên trong một số trường hợp, tuy có sự vi phạm nhưng bên vi
phạm vẫn được miễn trách nhiệm bồi thường hoặc thực hiện hợp đồng. Cụ
thể như sau: 20
1. Việc vi phạm hợp đồng là do gặp phải tình thế cấp thiết (bất khả
kháng).
Đó là những tình thế nằm ngoài khả năng kiểm soát của bên vi phạm
hợp đồng tuy nhiên bên vi phạm cần phải chứng minh được rằng mình đã gặp
phải tình thế bất khả kháng đó và thực tế xảy ra.
2. Do lỗi của người thứ ba gây ra.
Điều 77 luật thương mại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và
quyết định số 299/TMDL - XNK ngày 09/04/92, các trường hợp được miễn
trách nhiệm bao gồm:

phải có một tổ chức có đầy đủ phẩm chất cũng như về trình độ chuyên môn
để dung hoà mối bất hoà giữa các bên tạo ra một thương trường ổn định phát
triển.
22
Hầu hết pháp luật của các nước đều ghi nhận các nguyên tắc giải quyết
tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng mua bán nói chung và từ các hợp đồng
ngoại thương nói riêng.
Các hình thức giải quyết tranh chấp chủ yếu được các quốc gia ghi nhận
bao gồm các biện pháp:
- Thương lượng
- Hòa giải
- Thông qua trọng tài.
- Giải quyết tại toà án.
Điều 239 và điều 240 luật thương mại Việt Nam ghi nhận nguyên tắc
giải quyết theo các hình thức giải quyết vì tranh chấp hợp đồng kinh tế bao
gồm các hình thức giải quyết nêu trên. Trừ trường hợp điều ước quốc tế mà
Việt Nam ký kết có quy định khác.
1. Thương lượng trực tiếp giữa các bên
Là việc các bên cùng nhau trao đổi đấu tranh, nhân nhượng và thảo luận
giải quyết tranh chấp.
Thương lượng là hình thức giải quyết hạch tranh chấp không cần đến vai
trò của chủ thể thứ ba. Kết quả thương lượng thường là những cam kết thoả
thuận về những giải pháp nhằm tháo gỡ những bế tắc hoặc bất đồng phát sinh
mà các bên không ý thức được trước. Phương pháp giải quyết này có một số
ưu điểm như sau:
- Khi gặp nhau, các bên có thể bộc lộ được ý định của mình.
- Tiết kiệm được thời gian ít tốt kém có thể giải quyết được linh hoạt
gọn nhẹ, giải toả được tâm lý các bên.
- Giữ được bí mật trong kinh doanh, uy tín trên thương trường quốc tế.
Tuy nhiên sự thành công hay thất bại phụ thuộc vào thiện chí của các bên.

điều kiện cho các bên đảm bảo được hoạt động kinh doanh ít bị gián đoạn và
các phán quyết của trọng tài mang tính chung thông thường được các bên
chấp nhận nhiều hơn.
Ở Việt Nam hiện nay có trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh
phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các
tranh chấp phát sinh từ các quan hệ kinh tế trong đó có tranh chấp về hợp
đồng mua bán ngoại thương.
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status