Sự cần thiết ban hành Luật Tiếp cận thông tin pot - Pdf 12

Sự cần thiết ban hành Luật Tiếp
cận thông tin

Tại Nghị quyết số 27/2008/NQ-QH12 về Chương trình xây dựng
luật, pháp lệnh năm 2009 và bổ sung Chương trình xây dựng luật,
pháp lệnh của

Tại Nghị quyết số 27/2008/NQ-QH12 về Chương trình xây dựng
luật, pháp lệnh năm 2009 và bổ sung Chương trình xây dựng luật,
pháp lệnh của Quốc hội khoá XII, Quốc hội đã giao Chính phủ
chủ trì xây dựng và trình Dự án Luật Tiếp cận thông tin (sau đây
gọi là Dự án Luật). Do tầm quan trọng và sự cần thiết ban hành
của văn bản, Chính phủ đã kiến nghị Quốc hội đưa Dự án Luật
này vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009 thay vì
để ở chương trình dự bị và ban hành trong năm 2011 như dự kiến
ban đầu.
1. Bối cảnh ban hành Luật
1.1. Bối cảnh trong nước
Quyền được thông tin đã được Hiến pháp năm 1992 quy định là
một trong những quyền cơ bản của công dân: “Công dân có
quyền được thông tin theo quy định của pháp luật (Điều 69).
Quyền được thông tin của công dân cũng được thể hiện trong
nhiều chủ trương, chính sách của Đảng. Gần đây nhất, Nghị
quyết Hội nghị lần thứ Ba, Ban chấp hành Trung ương Đảng
(Khoá X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác

cơ quan nhà nước, quy định về quyền được thông tin mang tính
nguyên tắc, tính khái quát hơn là tính thực tiễn. Các quy định
hiện hành chủ yếu giao quyền tự quyết định việc cung cấp thông
tin cho cơ quan quản lý thông tin thuộc lĩnh vực mà cơ quan đó
phụ trách và kết quả là mỗi cơ quan, mỗi lĩnh vực lại có những
quy định khác nhau về cách thức, quy trình cung cấp thông tin.
Hệ thống pháp luật hiện hành còn thiếu quy định về các loại
thông tin phải công bố công khai rộng rãi; các loại thông tin phải
đăng trên trang thông tin điện tử; các loại thông tin cung cấp theo
yêu cầu; lý do từ chối cung cấp thông tin và nhất là quy trình yêu
cầu, cung cấp thông tin nên việc tiếp cận thông tin của người dân
còn gặp nhiều khó khăn. Trách nhiệm cung cấp thông tin của các
cơ quan nhà nước cũng chưa được pháp luật quy định cụ thể.
Điều này dẫn đến tình trạng một số cán bộ, công chức còn có thói
quen giữ bí mật thông tin do mình nắm giữ để hoặc là bảo đảm an
toàn cho chính bản thân, hoặc dùng thông tin để trục lợi, hoặc rơi
vào tình trạng không biết mình có trách nhiệm cung cấp thông tin
hay không.
Không chỉ được điều chỉnh ở phạm vi luật của Quốc hội, pháp
lệnh của ủy ban Thường vụ Quốc hội, quyền được thông tin của
người dân cũng là mối quan tâm của nhiều nhiệm kỳ Chính phủ.
“Chính phủ chủ trương tăng cường mối quan hệ của bộ máy nhà
nước với công chúng, trước hết là trong quan hệ với cơ quan báo
chí. Trừ những nội dung đã được quy định thuộc bí mật nhà nước
và bí mật kinh doanh, các cơ quan nhà nước phải tôn trọng quyền
được thông tin của dân, bảo đảm cho báo chí tiếp xúc được với
các hoạt động của mình. Việc thực hiện đầy đủ điều này, không
thể tuỳ thích mà phải coi là một nghĩa vụ thể hiện tính chất Nhà
nước của dân, do dân, vì dân. Những quy định cụ thể về quyền
được thông tin của dân cần được thể chế hoá” (1). Báo cáo của

động quản lý nhà nước đã phần nào làm hạn chế sự tham gia của
tổ chức, cá nhân vào hoạt động quản lý nhà nước với tính chất là
người giám sát, phản biện và chưa có cơ chế để người dân tự bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Trong việc thi hành pháp luật, do thiếu công khai thông tin nên
đã làm hạn chế khả năng nhận thức, tư duy của những người thi
hành pháp luật dẫn đến tình trạng áp dụng pháp luật không thống
nhất, thiếu bình đẳng. Việc thiếu công khai thông tin cũng là
nguy cơ dẫn đến tình trạng tham nhũng, tuỳ tiện của cán bộ, công
chức.
1.2. Bối cảnh quốc tế
Quyền được thông tin (hay còn gọi là quyền tự do thông tin hoặc
quyền tiếp cận thông tin) là một trong những quyền cơ bản của
con người, thuộc nhóm quyền dân sự - chính trị. Nó được dùng
để chỉ quyền của công dân được biết thông tin của Nhà nước,
theo các cách thức trực tiếp lẫn gián tiếp, để thỏa mãn các nhu
cầu cuộc sống của mình cũng như để bảo vệ và thực hiện các
quyền năng khác đã được pháp luật ghi nhận.
Quyền được thông tin của con người được ghi nhận trong hai
công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia là Tuyên bố nhân
quyền thế giới năm 1948 (2) và Hiệp ước quốc tế về các quyền
dân sự và chính trị năm 1966. Các quyền này tiếp tục được khẳng
định trong Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng;
Tuyên bố Rio về môi trường và phát triển; Công ước UNECE về
tiếp cận thông tin môi trường.
Đến nay, ngày càng có nhiều điều ước, hiệp ước quốc tế, kế
hoạch hành động, các tuyên bố quốc tế yêu cầu hoặc khuyến
khích các quốc gia ban hành Luật tự do thông tin. Ngày càng có
nhiều quốc gia công nhận tầm quan trọng của tiếp cận thông tin
với tư cách là một quyền của con người và cũng là một quyền

hiến định.
Trên thế giới, tính đến năm 2009, đã có 86 nước ban hành Luật
về tiếp cận thông tin. Rất nhiều quốc gia cũng đang trong quá
trình chuẩn bị ban hành luật này hoặc ban hành nghị định riêng
để điều chỉnh về vấn đề này.*
2. Mục đích của việc ban hành Luật
Việt Nam cần thiết phải ban hành Luật Tiếp cận thông tin để một
mặt, xác lập cơ chế pháp lý hữu hiệu, đầy đủ, rõ ràng, bảo đảm
người dân thực hiện quyền hiến định; thể chế hoá các quan điểm,
chủ trương trong các nghị quyết của Đảng về bảo đảm quyền
được thông tin; mặt khác còn nhằm thực hiện các cam kết quốc tế
của Việt Nam về minh bạch hóa hoạt động của các cơ quan nhà
nước và nhằm hài hòa hóa với pháp luật quốc tế, thể hiện nỗ lực
của Nhà nước Việt Nam trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế.
Cụ thể hơn, việc ban hành Luật nhằm đạt một số mục đích sau
đây:
- Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của các cơ quan, tổ chức, cá
nhân để bảo vệ quyền, lợi ích của họ; tạo cơ hội cho mọi người
dân được tham gia giám sát hoạt động quản lý nhà nước, đóng
góp ý kiến vào việc hoạch định chính sách cũng như công tác
quản lý, điều hành của các cơ quan nhà nước;
- Bảo đảm tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình của
các cơ quan nhà nước; góp phần giảm tham nhũng;
- Tăng chất lượng và tính hiệu quả của hoạt động của các cơ quan
nhà nước;
- Tăng cường dân chủ, công bằng và sự hợp tác giữa người dân
và Nhà nước, cải thiện mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân;
- Tạo niềm tin của công chúng vào cơ quan công quyền.
3. Lợi ích của việc ban hành và thực thi Luật
3.1. Các tác động dự kiến trong trường hợp không ban hành

chức không chắc chắn về các thông tin nào có thể cung cấp,
không cung cấp, thông tin nào cần giữ bí mật sẽ tiếp tục có xu
hướng giấu thông tin hơn là cung cấp thông tin. Giải pháp này
cũng sẽ không ngăn chặn được tham nhũng và khả năng mua /bán
thông tin. Nó sẽ tạo ra cơ chế cung cấp thông tin mang tính tùy
tiện và như vậy, sẽ không khác nhiều so với tình trạng hiện tại.
Giải pháp này không thực sự khuyến khích sự tham gia của người
dân, do đó, đây không phải là một phương án tối ưu. Hơn nữa, sẽ
rất khó khăn nếu để cơ quan nhà nước hoàn toàn tự nguyện trong
việc cung cấp thông tin.*
Hình thức tổ chức các chiến dịch giáo dục tuyên truyền đã rất phổ
biến tại Việt Nam. Thông qua hoạt động giáo dục tuyên truyền,
người dân nhận thức rõ hơn về quyền của mình, tuy nhiên, nếu
chỉ thực hiện giáo dục tuyên truyền thì sẽ khó thay đổi sự tin
tưởng của người dân đối với hệ thống pháp luật hiện tại. Các hoạt
động giáo dục, tuyên truyền đóng một vai trò quan trọng, nhưng
chưa có hiệu quả để thay đổi những hiểu biết của dân chúng về
quyền và nghĩa vụ của họ đối với việc tiếp cận thông tin cũng
như trách nhiệm của cán bộ, công chức trong việc cung cấp thông
tin.
Như vậy, trong tình trạng tiếp cận thông tin hiện tại ở Việt Nam
thì việc chỉ sử dụng các giải pháp khác mà không can thiệp bằng
một đạo luật sẽ không tối ưu và sẽ không có nhiều khác biệt so
với tình trạng hiện nay.
Sửa đổi các luật hiện thành mà không ban hành Luật Tiếp cận
thông tin, thì sẽ không bao phủ hết các lĩnh vực thông tin mà
người dân cần tiếp cận (ví dụ: Luật Phòng, chống tham nhũng chỉ
yêu cầu công khai, cung cấp các thông tin nhằm mục đích khắc
phục tình trạng tham nhũng; ). Mặt khác, trong các luật hiện
hành đều không có quy trình, hoặc không rõ, hoặc quy trình

Lợi ích đối với doanh nghiệp, công dân: việc tiếp cận thông tin dễ
dàng sẽ khắc phục những thiệt hại, giảm chi phí cho người dân và
chi phí cơ hội cho doanh nghiệp; giảm rủi ro cho hoạt động sản
xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhờ giảm rủi ro phát sinh từ
việc nhầm lẫn và không chắc chắn về các nghĩa vụ pháp lý liên
quan; các rủi ro đối với người dân cũng giảm. Với việc chia sẻ
thông tin, các tổ chức, cá nhân có thể sử dụng các kết quả nghiên
cứu, điều tra của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác, tiết kiệm
được các nguồn lực trong xã hội. Với việc tăng cường tiếp cận
thông tin, người dân sẽ nâng cao hiểu biết và nhận thức, nâng cao
tri thức, qua đó, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần.
Lợi ích về mặt kinh tế: việc tiếp cận thông tin đầy đủ sẽ giúp cho
các nhà đầu tư trong và ngoài nước xây dựng cho mình các kế
hoạch đầu tư dài hạn, tin tưởng vào kế hoạch kinh doanh; đây sẽ
là tiền đề cho đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam tăng lên
vì các hoạt động đầu tư nước ngoài chủ yếu dựa vào tính ổn định,
sự minh bạch và thông tin thị trường. Tăng cường tiếp cận thông
tin cũng đồng thời giảm cạnh tranh không lành mạnh giữa các
doanh nghiệp. Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin còn giúp cho
các doanh nghiệp giảm thiểu chi phí kinh doanh và các rủi ro khi
đầu tư, tăng tỷ số doanh thu của doanh nghiệp, từ đó thu hút đầu
tư và tạo công ăn việc làm nhiều hơn, nền kinh tế đất nước tăng
trưởng nhanh hơn.
Tăng niềm tin của người dân đối với Nhà nước: bảo đảm quyền
tiếp cận thông tin của công dân sẽ góp phần tăng lòng tin của
người dân đối với các cơ quan nhà nước. Việc người dân có đầy
đủ các nguồn thông tin giúp họ đóng vai trò chủ động hơn trong
xã hội. Người dân cũng tin tưởng hơn vào Nhà nước và sẵn sàng,
chủ động đóng góp xây dựng, hoàn thiện chính sách, quy định
pháp luật.

Tuy nhiên, nhiều khoản chi phí nêu trên chỉ phát sinh đáng kể
trong những năm đầu khi bắt đầu thực hiện Luật và sẽ giảm nhiều
trong các năm tiếp theo, ví dụ như chi phí cho xây dựng cơ sở dữ
liệu, cập nhật và lưu trữ dữ liệu Một số chi phí khác nếu không
ban hành Luật vẫn phát sinh như: chi phí cho việc xây dựng cơ sở
dữ liệu, thiết lập, duy trì hạ tầng công nghệ thông tin (5).
4. Những nội dung cơ bản cần có trong Luật
Vì mục đích nêu trên, Luật Tiếp cận thông tin sẽ là một đạo luật
chung bao quát mọi vấn đề về bảo đảm quyền được thông tin của
người dân. Nó có nhiệm vụ bổ khuyết các văn bản pháp luật hiện
hành về trình tự, thủ tục tiếp cận thông tin, đặc biệt là đối với
thông tin không công bố rộng rãi nhưng cần phải được cung cấp
theo yêu cầu của công dân.
Bên cạnh nhiệm vụ thể chế hoá quy định của Hiến pháp và chủ
trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta, việc ban hành Luật
cần phải bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam,
bảo đảm tính tương thích và phù hợp với thông lệ pháp luật quốc
tế; phù hợp với các nguyên tắc về quyền tự do thông tin của Liên
hợp quốc.
Tuy nhiên, chỉ cần thiết ban hành Luật và chỉ có thể đạt được các
mục đích nêu trên của Luật nếu như Luật có được các nội dung
sau đây:
Luật Tiếp cận thông tin phải quy định về các nguyên tắc chung
bảo đảm tiếp cận thông tin; các loại thông tin phải được công
khai rộng rãi, hình thức công khai rộng rãi thông tin, các loại
thông tin phải được công khai trên trang thông tin điện tử, việc
công khai rộng rãi thông tin vì lợi ích cộng đồng. Các quy định
về các loại thông tin này phải theo nguyên tắc mở rộng thông tin
tối đa.
Luật cần quy định cụ thể các loại thông tin và các hình thức cung

trên, đáp ứng nhu cầu nội tại của quốc gia và đáp ứng yêu cầu hội
nhập quốc tế, hội nhập khu vực, việc Việt Nam ban hành Luật
Tiếp cận thông tin trong bối cảnh hiện nay thực sự là cần thiết.
**** (1)Phát biểu tại phiên khai mạc Quốc hội ngày 18/10/2005
của nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải.
(2)Khoản 2, Điều 19 của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người
quy định: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận. Quyền này
bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin, ý kiến,
không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng,
bằng bản viết, in hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất
kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tuỳ theo sự lựa chọn của
họ”.
(3)Xem Báo cáo Tự do thông tin thế giới năm 2006.
(4)Xem Báo cáo Tự do thông tin thế giới năm 2006.
(5)Xem chi tiết trong Báo cáo đánh giá tác động của Dự thảo
Luật đã được đăng trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ,
trang thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.
(6)Xem “Các văn kiện quốc tế và luật của một số nước về tiếp
cận thông tin”, Nxb. Công an nhân dân, 2007.

(Bài đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 154-thang-8-2009
ngày 10/09/2009) Ths Nguyễn Thị Hạnh - Bộ Tư pháp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status