LỜI MỞ ĐẦU
Xu thế hội nhập đã đến, các ngành kinh tế đang xoay mình theo sự vận
động của kinh tế thị trường. Ngành dệt may là ngành được xem trọng trong
suốt những năm qua và cả thời gian tới. Hàng dệt may Việt Nam đã tìm được
đường đến với các thị trường trên thế giới, song việc xác lập một chỗ đứng
vững chắc trên các thị trường ấy không phải là dễ dàng. Để làm được điều đó
chúng ta không thể không xét tới việc đầu tư đổi mới công nghệ để đẩy mạnh
sự phát triển của ngành dệt may Vịêt Nam. Đề tài được viết nhằm đưa ra thực
trạng và giải pháp về đầu tư đổi mới công nghệ ngành dệt may Việt Nam.
1
I.NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
1.Công nghệ và đổi mới công nghệ
1.1.Công nghệ
Công nghệ là hệ thống các kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để
chế biến vật liệu và thông tin. Hoặc công nghệ là việc áp dụng khoa học vào
công nghiệp, bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và sử lý nó một cách
có hệ thống và có phương pháp. Cũng có thể hiểu công nghệ là sản xuất là
cách thức sản xuất theo phương pháp xác định là do con người sáng tạo ra và
vận dụng vào quá trình sản xuất với hệ thống máy móc, thiết bị kỹ thuật
tương ứng.
Theo nghĩa rộng, người ta quan niệm cả yếu tố kiến thức, phương tiện
vật chất, con người và tổ chức đều là các nội dung cơ bản cấu thành công
nghệ. Như vậy công nghệ gồm bốn thành phần cơ bản là:
-Các kiến thức được tổ chức như các khái niệm, phương pháp, thông số,
công thức, bí quyết…Nhờ các kiến thức được tổ chức này người ta mới biết
cách thức cụ thể tiến hành chế tạo sản phẩm, dịch vụ. Người ta quan niệm bộ
phận này là phần thông tin của công nghệ
-Năng lực của con người về công nghệ như kỹ năng, kinh nghiệm, tính
sáng tạo, khả năng làm chủ công nghệ...Bộ phận này được quan niệm là yếu
tố con người.
-Các phương tiện vật chất gồm các cơ sở vật chất, thiết bị, máy móc,
năng đầu tư cho nghiên cứu, chi phí đầu tư đổi mới công nghệ và đặc biệt là
quan điểm tính toán và đánh giá hiệu quả kinh doanh.
Chuyển giao công nghệ
Trong điều kiện chưa đủ trình độ sáng tạo công nghệ mới thì việc
nghiên cứu chuyển giao công nghệ giữ vai trò quan trọng đối với quá trình đổi
mới công nghệ của doanh nghiệp. Nội dung chủ yếu của chuyển giao công
nghệ bao gồm:
3
Xác định thời điểm cần đưa công nghệ mới vào áp dụng. Thời điểm này
phụ thuộc vào chu kỳ sống và tác dụng của công nghệ hiện tại đối với sản
xuất, khả năng về tài chính gắn với việc đổi mới công nghệ, sự sẵn sàng đổi
mới của các nhà quản trị cao cấp…
Nghiên cứu và dự báo về các nhân tố tác động đến công nghệ mới: thị
trường sản phẩm, tình trạng cạnh tranh, khả năng về các nguồn lực…
Đánh giá tính thích hợp của công nghệ mới về kỹ thuật, kinh tế và khả
năng tài chính để lựa chọn công nghệ tối ưu
Tìm kiếm thông tin cụ thể về thị trường công nghệ mới, về các đối tác
đang có ý định chuyển giao công nghệ, về các rào cản có thể trong quá trình
chuyển giao…
Các nghiên cứu tiếp theo là nghiên cứu dự án tuân theo các yêu cầu về
nghiên cứu đầu tư hay liên doanh tuỳ theo cách thức chuyển giao mà doanh
nghiệp lựa chọn.
2.Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đổi mới công nghệ
2.1.Chỉ tiêu định lượng
Tỷ trọng máy móc thiết bị đuợc hiện đại hoá (Ihd)
Ihd = (∆Ghd/vốn đầu tu đổi mới công nghệ trong kỳ)*100%
∆Ghd = Ghd1 = Ghd0: mức gia tăng máy móc thiết bị hoạt động trong
kỳ
Ghd1: giá trị máy móc thiết bị hiện đại kỳ báo cáo
Ghd0: giá trị máy móc thiết bị hiện đại kỳ gốc
II.TỔNG QUAN VỀ NGÀNH DỆT MAY
1.Vai trò và vị trí của ngành dệt may trong nền kinh tế
Dệt may vẫn là một trong những ngành có tiềm năng xuất khẩu cao và
sẽ giữ vững vai trò này trong 10 năm tới.
Trong giai đoạn 2000-2004, Dệt may tuy tốc độ phát triển không đều
song luôn giữ ở mức hơn 8% và ngày càng mở rộng quy mô, phát triển từ
5
16.089 chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong GDP cả nước, tăng từ 5.88% năm
2000 lên 6.55% năm 2002 và có những bước đột phá vào 2 năm 2003 và
2004. Đến 2004 Dệt may Việt Nam đã chiếm đến 8.04% tổng sản phẩm quốc
nội. Mặc dù tỷ trọng Dệt may so với giá trị sản xuất công nghiệp và công
nghiệp chế biến không tăng rõ nét như so với GDP nhưng Dệt may cũng vẫn
khẳng định vị trí của mình trong công nghiệp cũng như công nghiệp chế biến
với tỷ trọng hàng năm lần lượt trên 7.5% và 9.5%.
Trong giai đoạn 31/12/2000 -31/12/2004 kim ngạch xuất khẩu Dệt may
tăng 231.8%, tương đương mức tăng bình quân 23.4%/năm. Điều này cho
thấy Dệt may vẫn xứng đáng là “mũi nhọn xuất khẩu” của nước ta.
Việt Nam hiện là ngành sử dụng nhiều lao động nhất, khoảng gần 2tr
lao động, gần 5% trong tổng lực lượng lao động toàn quốc. Đối với một đất
nước có nguồn lao động dồi dào như nước ta (40.8055tr lao động, giải quyết
công ăn việc làm là điều khó khăn, do đó Dệt may không những đóng vai trò
quan trọng trong khía cạnh kinh tế mà còn trong khía cạnh xã hội. Với gần
2000 doanh nghiệp và hàng chục nghìn cơ sở nhỏ của các thành phần kinh tế
như tạo công việc trồng bông, trồng dâu-nuôi tằm, Dệt may đã giải quyết việc
làm cho những đối tượng có thu nhập thấp, đối tượng đang được nhà nước
đặc biệt quan tâm.
Như vậy trong điều kiện nước ta hiện nay, ngành Dệt may vẫn đóng vai
trò chiến lược trong phát triển kinh tế bởi chính sự đóng góp tích cực của
ngành.
2. Đặc điểm của ngành dệt may
bản. Hầu hết các doanh nghiệp phải tự đầu tư công nghệ trước khi đưa vào
dây chuyền sản xuất.
Tuy nhiên, một thế mạnh của lao động ngành dệt may là trẻ, dễ đào tạo
khi có điều kiện. Bên cạnh đó, lực lượng lao động quản lý cũng có trình độ
chuyên môn thấp, hầu hết trưởng thành từ sản xuất. Do vậy kinh nghiệm được
hình thành, tích luỹ ở mỗi doanh nghiệp một khác chất lượng cũng không
đều.Với trình độ trên các doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn trong quản lý,
tổ chức sản xuất như:
-Nhận thức về pháp luật, chính sách lao động, nội quy kỷ luật, khoa học
công nghệ tiên tiến.
-Trình độ văn hoá và tay nghề của cán bộ quản lý hạn chế dẫn đến tổ
chức sản xuất kém hiệu quả, năng suất thấp, chất lượng sản phẩm kém.
7
Sản phẩm mang tính tổng hợp
Dệt may và ngành nghề công nghiệp có sự kết hợp chặt chẽ cuả ngành
công nghiệp dệt và công nghiệp may, hai ngành này có mối quan hệ hữu cơ
với nhau tuy nhiên mỗi ngành lại có công nghệ riêng và tạo rất nhiều sản
phẩm khác nhau, phục vụ tiêu dùng như sợi, vải lụa, vải bạt, vải màn, quần áo
dệt kim, len, khăn...Nói chung những sản phẩm chính của dệt may Việt Nam
đều có sự tăng lên về số lượng và cải thiện về chất lượng.Sản phẩm dệt may
rất phong phú và đa dạng về chủng loại, quy cách chất liệu được đưa ra thị
trường.
Chính sự đa dạng về chủng loại, mẫu mã khiến các doanh nghiệp không
thể đào tạo vào tất cả các sản phẩm. Doanh nghiệp phải có sự lựa chọn sản
phẩm chính và công nghệ thích hợp.
Thị trường tiêu thụ ngày càng khắt khe.
-Thị trường trong nước:
Thị trường trong nước gồm thị trường nông thôn và thị trường thành
thị. Hai thị trường này khác biệt nhau khá lớn về nhu cầu hàng dệt may.
Thị trường nông thôn chiếm ~80% dân số song lại có thu nhập bình
ngạch xuất khẩu sẽ tăng đột biến vào thị trường này
Bảng 2: kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam 1995-2002
Năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
KNXK 850 1.150 1.500 1.451 1.764 1.892 1.962 1.050
Nguồn: Tổng công ty dệt may VN
III.THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ CỦA
NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM
1.Khái quát về thực trạng sản xuất kinh doanh ngành dệt may
(2001-2005)
1.1.Thực trạng sản xuất kinh doanh ngành dệt may (theo số liệu của
tổng công ty dệt may VN tới 31/12/2005)
1.1.1.Ngành dệt may Việt Nam
9
Ngành dệt may có gần 2000 doanh nghiệp, trong đó 307 doanh nghiệp
Nhà nước, 1170 doanh nghiệp tư nhân và 470 doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài, tạo công ăn việc làm cho gần 2tr lao động, giá trị sản xuất
~29.144 tỷ đồng(chiếm 10% công nghiệp chế biến) và kim ngạch xuất khẩu
đạt 4.386 tr đôla(chiếm 16.5% kim ngạch xuất khẩu cả nước)
Hình vẽ
1.1.2.Tổng công ty dệt may Việt Nam-Vinatex
Trong tổng công ty dệt may Việt Nam hiện nay ngành kéo sợi chiếm
7%, sản phẩm dệt chiếm 50% và nhuộm hoàn tất chiếm trên 7% năng lực
ngành dệt Việt Nam và sản phẩm may chiếm khoảng 30-35% năng lực toàn
ngành may. Cho nên vai trò cuả Vinatex có tác động rất lớn đến chiến lược
của ngành dệt may Việt Nam. Nhà nước đã đặt trọng trách vô cùng nặng nề
lên vai Vinatex trong việc tập hợp lực lượng cùng các doanh nghiệp 100%
vốn nước ngoài, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các liên doanh mà
Vinatex đang chi phối hoặc tham gia cổ phần để phát huy sức mạnh toàn
ngành, đảm bảo mục tiêu mà ngành dệt may đã đề ra đến năm 2010.
1.2.Thực trạng về năng lực thiết bị, công nghệ sản xuất
hoàn tất sản phẩm và sản xuất phụ kiện may... được nâng cấp, đổi mới. Một
số công ty đã áp dụng công nghệ tin học vào một số khâu trong sản xuất để
nâng cao chất lượng sản phẩm.
-Thiết bị công nghệ in nhuộm
Đối với lĩnh vực này, chất lượng sản phẩm không chỉ phụ thuộc vào
thiết bị mà còn phụ thuộc vào công nghệ, bao gồm: hoá chất, thuốc nhuộm,
quy trình công nghệ...Không có thiết bị máy móc tốt thì không có sản phẩm
tốt nhưng không có công nghệ cao thì cũng không có vải in nhuộm chất lượng
cao được. Có thể nói máy móc tốt chỉ chiếm 50% còn công nghệ và bí quyết
nghề in nhuộm chiếm tới 50% còn lại trong chất lượng sản phẩm.Thiết bị tẩy,
nhuộm, in hoa và hoàn tất chủ yếu nằm ở các DNNN và hầu như 100% đều
phải nhập ngoại.
11
-Thiết bị công nghệ dệt kim
Dệt kim là một trong những mặt hàng chủ yếu xuất khẩu đi Mỹ nên có
lợi thế về nguồn vốn đầu tư hơn lĩnh vực dệt thoi và kéo sợi.Lĩnh vực dệt kim
đã được nâng cấp được tỷ lệ lớn thiết bị dệt.Những năm gần đây, tốc độ tăng
trưởng kim ngạch xuất khẩu của dệt may nước ta sang Mỹ cao góp phần thúc
đẩy dệt kim tăng trưởng khá (trung bình hơn 12%/năm). Chính vì thế trình độ
công nghệ của ngành dệt kim được đánh giá ở mức trung bình khá.
1.3.Thực trạng về nguồn nhân lực dệt may
Ngành dệt may Việt Nam hiện đang sử dụng gần 2tr lao động trong các
dây chuyền công nghiệp. Tuy nhiên chất lượng lao động lại đặt ra nhiều vấn
đề đối với các doanh nghiệp dệt may, nguồn nhân lực trình độ chưa cao , khả
năng đào tạo nguồn nhân lực lại hạn chế
1.3.1 thực trạng cơ cấu nguồn lực dệt may
Dệt may là ngành đòi hỏi khéo léo, chăm chỉ nên cơ cấu có sự khác biệt
rõ giữa tỷ trọng nam và nữ. Trong toàn ngành dệt may, lao động nam ngành
dệt chiếm 5,72%, nam ngành may chiếm 17,30% ; trong khi đó lao động nữ
ngành dệt chiếm 12,8% và nữ ngành may chiếm 64,7%.Có thể thấy tỷ lệ lao
Điều đáng quan tâm trong nguồn nhân lực của các doanh nghiệp dệt
may là nguồn nhân lực công nghệ. Họ là một trong những nhân tố quan trọng
không những quyết định sự thành công trong hoạt động sản xuất kinh doanh
mà còn là hạt nhân của quá trình đổi mới công nghệ ở doanh nghiệp. Đồng
thời do hạn chế về trình độ nên năng lực của họ mới chỉ dừng lại ở vận hành
và tiếp thu công nghệ một cách thụ động, chưa phát huy được vai trò sáng tạo
và đổi mới công nghệ.
1.3.2.Khả năng đào tạo nguồn lực công nghệ ngành dệt may
Trong khi chiến lược phát triển ngành dệt may rất quy mô thì công tác
chuẩn bị nhân lực cho ngành lại chưa được các ngành các cấp quan tâm. Ở
cấp đại học, hầu như chưa chú ý khôi phục việc đào tạo kỹ sư ngành dệt may;
trình độ cao đẳng và trung cấp mới có hai trường của Tổng công ty dệt may
13