ĐỀ TÀI
“Giới thiệu khái quát về điều tra xã
hội học”
1
Giáo viên hướng dẫn :
Sinh viên thực hiện :
1
PHỤ LỤC
LỜI NÓI ĐẦU:………………………………………………………………………. 3
I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CỦA XÃ HỘI HỌC 4
1. Xã hội học ……………………………………………………………………… 4
2. Quan hệ xã hội………………………………………………………………… 4
3. Tương tác xã hội………………………………………………………………… 5
4. Vị thế xã hội……………………………………………………………………… 5
5. Địa vị xã hội……………………………………………………………………… 6
6. Vai trò xã hội…………………………………………………………………… 6
7. Hành động xã hội……………………………………………………………… 7
8. Thiết chế xã hội………………………………………………………………… 8
9. Bất bình đẳng xã hội…………………………………………………………… 9
10. Phân tầng xã hội……………………………………………………………… 10
11. Di động xã hội………………………………………………………………… 11
II. LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI HỌC………………… 12
1. Lịch sử ra đời của xã hội học…………………………………………………. 12
2. Điều kiện và tiền đề của sự ra đời của xã hội học…………………………. 13
2.1. Điều kiện phát triển kinh tế xã hội………………………………… 13
2.2. Những tiền đề về tư tưởng, lí luận khoa học…………………… 14
2.3. Một số đóng góp của các nhà sáng lập ra xã hội học……………. 15
III. ĐỐI TƯỢNG, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA XÃ HỘI HỌC………… 18
1. Đối tượng nghiên cứu của xã hội học………………………………………… 18
khoa học xã hội: dân tộc học, văn hóa học, chính trị học, giáo dục học, tâm lí học…
Giống như các khoa học nghiên cứu về con người, xã hội học là lĩnh vực
nghiên cứu một cách khoa học những con người trong mối tương quan với người
khác nhưng đi sâu hơn trong việc nghiên cứu các hoạt động xã hội, các hành vi xã
hội của con người.
Để hiểu rõ hơn về xã hội học nên em xin chọn đề tài “Giới thiệu khái quát về
điều tra xã hội học” làm bài tiểu luận của môn học.
4
I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CỦA XÃ HỘI HỌC.
1. Xã hội học.
Muốn hiểu đúng nội dung và tính chất của xã hội học chúng ta bắt đầu tìm
hiểu nguồn gốc của thuật ngữ này. Người đưa thuật ngữ “xã hội học” vào ngôn ngữ
khoa học là Auguste Comte lần đầu tiên vào năm 1839. Thuật ngữ này được ghép từ
hai chữ Societas (xã hội) gốc latinh và logos (học thuyết) gốc Hy lạp có hàm nghĩa
là một khoa học nghiên cứu về xã hội, mặt xã hội của xã hội loài người.
Xã hội học mà Auguste Comte đưa ra là khoa học nghiên cứu vừa trên cơ sở
định tính, vừa trên cơ sở định lượng đối với các quá trình xã hội. Theo đó, xã hội
được mô tả như một hệ thống hoàn chỉnh có cấu trúc xác định (các tập hợp, nhóm,
tầng lớp, các cộng đồng) được cấu trúc và vận hành theo các thiết chế, luôn luôn vận
động, biến đổi và phát triển có tính qui luật. Ngoài các phương pháp thông thường,
theo ông, cần nghiên cứu bằng phương pháp thực nghiệm xã hội, xem đó như là cơ
sở thực tế của lí luận xã hội học.
Nối tiếp Auguste Comte là Emile Durkheim (1858 – 1879), Max Weber
(1864 – 1920) và đặc biệt là sự cống hiến của Karl Marx, các tác giả từ góc nhìn
khác nhau đã phát hiện các khía cạnh mới, vấn đề mới trong đời sống xã hội, làm
cho xã hội ngày càng phát triển và phong phú thêm.
Mặc dù ngày nay có rất nhiều trường phái xã hội học có quan điểm nghiên
cứu khác nhau, nghiên cứu từ thực tiễn xã hội khác nhau, nhưng các định nghĩa về
xã hội học mà họ nêu lên cũng có nhiều điểm tương đồng, những khái quát lí luận
giống nhau.
hưởng tương hỗ, trong đó hai hoặc nhiều người cùng thực hiện các nhiệm vụ xã hội
của họ. Tương tác xã hội không tách rời quá trình xã hội hóa của cá nhân và được
nhìn nhận như là một quá trình tất yếu, kéo dài suốt cuộc đời.
4. Vị thế xã hội.
Vị thế xã hội là một dạng biểu hiện địa vị của con người, được hình thành
trong cơ cấu của xã hội, phụ thuộc vào sự thẩm định và sự đánh giá của xã hội trong
một điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể.
Nói cách khác, có thể hiểu vị thế xã hội của một người nào đó chính là địa vị
hay thứ bậc mà những người sống cùng thời dành cho cho trong bối cảnh anh ta sinh
sống, lao động và phát triển. Do vậy, vị thế là sản phẩm của đời sống tinh thần, là
thái độ và mức độ tôn trọng hay khinh rẻ của xã hội bày tỏ, biểu lộ ra đối với các cá
nhân.
Như vậy, những yếu tố tạo nên vị thế tồn tại khách quan ngoài cá nhân, thể
hiện ra ở các tiêu chuẩn có tính phổ biến (trong xã hội) về sự tán thành (khẳng định)
hay chê bai (phủ định) của xã hội. Đó cũng chính là các chuẩn mực, các giá trị xã
hội nghĩa là những điều người ta cho là quan trọng nhất, đáng tôn trọng nhất.
6
Xã hội luôn luôn biến chuyển và phát triển, do đó vị thế xã hội cũng luôn luôn
di chuyển, bởi vì con người và vị thế xã hội của họ luôn luôn có mối tương quan mật
thiết với nhau.
Trong đời sống xã hội, vị thế xã hội thường tương quan với quyền lực. Nếu ta
hiểu rằng quyền lực xã hội có ý nghĩa là ảnh hưởng của một người có thể có đối với
người khác trong xã hội (đó cũng là biểu hiện vị thế của người ấy).
Xét về mặt tâm lí xã hội, người ta thường tin tưởng, tín nhiệm vào những người có
vị thế xã hội cao hơn vì họ có ảnh hưởng lớn, rộng rãi đối với toàn xã hội nghĩa là
hơn hẳn người bình thường.
5. Địa vị xã hội.
Địa vị xã hội là sự phản ánh vị thế xã hội của cá nhân, do cá nhận đạt được ở
trong một nhóm hoặc là một thứ bậc xã hội trong nhóm này khi so sánh với thành
viên khác của nhóm khác.
vào bất cứ công việc gì mỗi cá nhân đều phải được chuẩn bị: học hỏi, đào tạo, bồi
dưỡng, tuyển chọn. Và khi đã chính thức hoạt động phải tuân thủ các nội quy, quy
chế… nhằm đáp ứng đòi hỏi của xã hội, nhằm đạt hiệu quả cao theo đúng chuẩn
mực của các vai trò xã hội mong đợi.
7. Hành động xã hội.
Trong ngành xã hội học, hành động xã hội (Social actions) là một hình thức
hoặc cách thức giải quyết các mâu thuẫn hay các vấn đề xã hội. Hành động xã hội
được tạo ra bởi các phong trào xã hội, các tổ chức, các đảng phái chính trị, v.v
Thực chất, hành động xã hội là sự trao đổi trực tiếp giữa các cá nhân với nhau cũng
như các khuôn mẫu quan hệ đã được cấu trúc hóa bên trên các nhóm, tổ chức, thiết
chế và xã hội. Một thực tế có thể quan sát được trong mọi tình huống cá nhân và
công cộng hàng ngày là hành động xã hội của con người diễn ra theo những quy tắc
nhất định và trong những hình thái nhất định, những quy tắc và hình thái này có một
sự bất biến tương đối. Hành động xã hội là cốt lõi của mối quan hệ giữa con người
với xã hội, đồng thời là cơ sở của đời sống xã hội của con người. Hành động xã hội
mang một ý nghĩa bao trùm tổng thể các mối quan hệ xã hội.
Định nghĩa hành động xã hội:
Định nghĩa của nhà xã hội học người Đức Max Weber về hành động xã hội
được cho là hoàn chỉnh nhất; ông cho rằng, hành động xã hội là hành vi mà chủ thể
gắn cho ý nghĩa chủ quan nhất định, một hành động xã hội là một hành động của
một cá nhân mà có gắn một ý nghĩa vào hành động ấy, và cá nhân đó tính đến hành
vi của người khác, bằng cách như vậy mà định hướng vào chuỗi hành động đó.
Weber đã nhấn mạnh đến động cơ bên trong chủ thể như nguyên nhân của hành
động. Một hành động mà một cá nhân không nghĩ về nó thì không thể là một hành
động xã hội. Mọi hành động không tính đến sự tồn tại và những phản ứng có thể có
8
từ những người khác thì không phải là hành động xã hội. Hành động không phải là
kết quả của quá trình suy nghĩ có ý thức thì không phải là hành động xã hội.
Các kiểu của hành động xã hội:
- Kiểu hành động truyền thống được thực hiện bởi vì nó vẫn được làm như thế
điều hành như một giai đoạn vì thế có thể nhận định riêng biệt trong tác phong của
con người.
- Thiết chế phản ánh hệ thống các giá trị, trong đời sống hiện thực được lặp đi
lặp lại trở thành các quy phạm, các luật lệ, tạo nên áp lực xã hội trong tiềm thức của
mọi người và mọi người cùng chia sẻ với nhau.
9. Bất bình đẳng xã hội.
Bất bình đẳng xã hội là sự không bình đẳng, sự không bằng nhau về các cơ
hội hoặc lợi ích đối với những cá nhân khác nhau trong một nhóm hoặc nhiều nhóm
trong xã hội.
Tất cả các xã hội, cả quá khứ hay hiện tại đều được đặc trưng bởi sự khác biệt
xã hội. Đó là một quá trình trong đó con người tạo nên khoảng cách do cách ứng xử
khác nhau bởi các địa vị, vai trò và những đặc điểm khác nhau. Quá trình của sự
khác biệt xã hội không đòi hỏi con người đánh giá các vai trò và các hoạt động cụ
thể tồn tại như là quan trọng hơn những cái khác. Tuy nhiên, sự khác biệt xã hội
chuẩn bị cho sự bất bình đẳng xã hội, là một điều kiện trong đó con người có cơ hội
không ngang bằng về sử dụng của cải, quyền lực và uy tín. Nhà xã hội học Daniel
Rossides cho rằng: ngay trong các xã hội đơn giản nhất "người già thường có uy
quyền đối với người trẻ, cha mẹ có uy quyền với con cái, và đàn ông có uy quyền
đối với đàn bà."
Bất bình đẳng xã hội không phải là một hiện tượng tồn tại một cách ngẫu
nhiên giữa các cá nhân trong xã hội. Xã hội có bất bình đẳng khi một số nhóm xã
hội kiểm soát và khai thác các nhóm xã hội khác. Qua những xã hội khác nhau đã
tồn tại những hệ thống bất bình đẳng xã hội khác nhau. Bất bình đẳng xã hội là một
vấn đề trung tâm của xã hội học, đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với sự
phân tầng trong tổ chức xã hội.
Nguyên nhân của bất bình đẳng xã hội
Ở những xã hội khác nhau, bất bình đẳng cũng có những nét khác biệt. Trong
xã hội có quy mô lớn và hoàn thiện hơn thì bất bình đẳng xã hội gay gắt hơn so
với trong các xã hội giản đơn. Bất bình bình đẳng thường xuyên tồn tại với
những nguyên nhân và kết quả, cụ thể liên quan đến giai cấp xã hội, giới tính,
các cá nhân, các nhóm xã hội có địa vị kinh tế, chính trị, uy tín giống nhau. Phân
tầng xã hội diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị cho
đến văn hóa…
Khi nói đến phân tầng xã hội, các nhà xã hội học đề cập đến bất bình đẳng xã
hội, coi đó như một yếu tố cơ bản cho việc hình thành nên sự phân tầng xã hội. Một
số tác giả lưu tâm đến sự biến đổi hình thức của phân tầng xã hội, và cho rằng điều
đó phụ thuộc vào tính chất "mở" của hệ thống xã hội. Một số tác giả khác quan tâm
đến sự phân phối không đồng đều các lợi ích giữa các thành viên trong xã hội, coi
đó là nguyên nhân dẫn tới sự phân tầng xã hội. Phân tầng xã hội và bất bình đẳng xã
hội có mối quan hệ mật thiết. Bất bình đẳng là nguyên nhân, phân tầng xã hội là kết
quả. Sự không ngang nhau về mọi lĩnh vực giữa các cá nhân trong xã hội dẫn đến cơ
hội và lợi ích của các các nhân là không như nhau, từ đó dẫn đến việc các cá nhân
11
hay các nhóm xã hội có cùng chung lợi ích sẽ tập hợp lại thành một nhóm. Nhiều
nhóm có cơ hội và lợi ích khác nhau ra đời. Có nhóm lợi ích và cơ hội nhiều, có
nhóm thì ít, từ đó dẫn đến phân tầng xã hội.
Phân tầng xã hội không có ý nghĩa tuyệt đối. Do vị thế xã hội của các nhân có
thể thay đổi, từng ngày, từng giờ, có cá nhân hôm nay thuộc tầng lớp này, mai lại
thuộc tầng lớp khác. Bởi vì cơ hội và lợi ích của họ không còn nằm trong tầng lớp
đó nữa.
Định nghĩa của phân tầng xã hội:
Theo nhà xã hội học Mỹ Neil Smelser, "phân tầng xã hội liên quan đến những
cách thức, trong đó bất bình đẳng dường như từ thế hệ này truyền qua thế hệ khác,
tạo nên vị trí hoặc đẳng cấp xã hội". Một định nghĩa khác: "sự phân tầng trong xã
hội học thường được áp dụng để nghiên cứu về cấu trúc xã hội bất bình đẳng, vì vậy,
nghiên cứu về những hệ thống bất bình đẳng giữa những nhóm người nảy sinh như
là kết quả không chủ ý của những quan hệ xã hội và quá trình xã hội".
Đặc điểm của phân tầng xã hội:
- Phân tầng xã hội diễn ra ở nhiều khía cạnh như chính trị, kinh tế, địa vị xã
hội, học vấn.
+ Di động theo chiều dọc: chỉ sự vận động của các cá nhân giữa các nhóm xã
hội, giai cấp xã hội tới vị trí, địa vị xã hội có giá trị cao hơn hoặc thấp hơn. Biểu
hiện của hình thức này di động là sự thăng tiến, đề bạt - di động lên và miễn nhiệm,
rút lui, lùi xuống, thất bại - di động xuống.
II. LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI HỌC.
1. Lịch sử ra đời của xã hội học.
Ngay từ thời cổ đại những vấn đề lớn của cá nhân và xã hội đã thu hút sự
quan tâm chú ý của nhiều nhà tư tưởng trong các giai đoạn lich sử khác nhau. Nhiều
tư tưởng của các nhà khoa học, đặc biệt là các nhà triết học, chính trị học đã ra đời
và ảnh hưởng khá sâu sắc đến sự phát triển, sự vận động của xã hội. Tuy vậy các mô
hình xã hội, các ý tưởng vĩ đại về con người, về xã hội chỉ được xây dựng trên
những giả định, những dự đoán trừu tượng, chưa giải thích được cơ cấu và sự vận
hành của xã hội trên cơ sở khoa học.
Bắt đầu từ thế kỷ 18, đời sống xã hội ở các nước Châu Âu trở nên hết sức
phức tạp. Cuộc cách mạng công nghiệp năm 1750 đã đưa đến những đảo lộn ghê
gớm. Chủ nghĩa tư bản đã tạo ra những đô thị công nghiệp khổng lồ gây nên những
làn sóng chuyển dịch dân cư lớn, kèm theo đó là những mâu thuẫn giai cấp, mâu
thuẫn dân tộc, mâu thuẫn tôn giáo căng thẳng, các quan hệ xã hội ngày càng thêm đa
dạng và phức tạp. Xã hội rơi vào trạng thái biến động không ngừng: chiến tranh,
khủng hoảng kinh tế, xung đột chính trị, suy thoái đạo đức, phân hoá giàu nghèo,
bùng nổ dân số, tan rã hàng loạt các thiết chế cổ truyền Trước tình hình như thế,
xã hội nảy sinh một yêu cầu cấp thiết là cần phải có một ngành khoa học nào đó
13
đóng vai trò tương tự như một bác sĩ luôn luôn theo dõi cơ thể sống - xã hội tiến tới
giải phẫu các mặt, các lĩnh vực khác nhau trên bề mặt cắt của nó từ tầm vĩ mô đến vi
mô, kể cả khi xã hội đó thăng bằng cũng như khi mất thăng bằng để chỉ ra trạng thái
thật của xã hội đó, phát hiện ra những vấn đề xã hội (social problems), dự báo
khuynh hướng phát triển của xã hội, và chỉ ra những giải pháp có tính khả thi.
Emile Durkheim một trong các bậc tiền bối của khoa học xã hội học đã phát
biểu rằng: cuối cùng thì nhà xã hội học phải chẩn đoán xem xã hội ở trong tình trạng
hội, nhiều nền văn hóa, nhiều lối sống khác lạ. Họ bắt đầu quan sát, so sánh, đối
chiếu và nhận ra rằng xã hội Tây Âu có nhiều điểm khác xa so với xã hội châu Á,
châu Úc, châu Mĩ, châu Phi về kinh tế, các quan hệ chính trị, xã hội, Từ những
tiền đề kinh tế xã hội và sự phát triển kinh tế xã hội kể trên đã đặt ra yêu cầu phải
nhanh chóng nghiên cứu, phát hiện, tìm kiếm các qui luật, xu thế phát triển của xã
hội và con người, định hướng cho sự phát triển xã hội tương lai. Không thể nghiên
cứu các vấn đề trên chỉ trong phạm vi của triết học, kinh tế học, dân tộc học, văn hóa
học và cũng không thể chỉ bằng lòng với các lý thuyết sẵn có, tất cả tạo ra tiền đề
cho sự xuất hiện một lý thuyết, một khoa học mới nghiên cứu về sự vận động, phát
triển của đời sống xã hội đó là xã hội học.
2.2. Những tiền đề về tư tưởng, lí luận khoa học.
Xã hội học cũng như bất kì một khoa học nào khác sẽ không thể nào phát
triển được nếu chỉ xuất phát, căn cứ từ các nhu cầu thực tiễn mà thiếu những tiền đề
lí thuyết, cơ sở khoa học nhất định.
Khi đi sâu nghiên cứu mặt xã hội trong đời sống con người một thực thể sinh
động và rất phức tạp, xã hội học phải dựa trên cơ sở lí luận phong phú, làm công cụ
cho quá trình nghiên cứu sáng tạo.
Dựa vào và kế thừa nhiều thành tựu của các khoa học khác khi xác lập xã hội
học, Auguste Comte đã cố gắng làm rõ, phân biệt đối tượng, phương pháp nghiên
cứu, hình thành nội dung và cấu trúc của xã hội với tư cách là một khoa học riêng
biệt so với các khoa học khác trong hệ thống các khoa học xã hội.
Trong quá trình nghiên cứu, xã hội học cũng đã tiếp thu và vận dụng có kết
quả, nhất là về phương pháp nghiên cứu của khoa học tự nhiên, các khoa học về con
người, kể cả một số phương pháp của khoa học kỹ thuật. Nhờ vậy mà chất lượng
nghiên cứu ngày càng cao, càng có độ tin cậy. Trong các phương pháp ấy phương
pháp nghiên cứu theo cấu trúc – hệ thống vốn có trong các khoa học tự nhiên, trong
khoa học kỹ thuật (nghiên cứu về vật chất) đã được mô phỏng, chọn lọc, áp dụng
vào việc nghiên cứu xã hội và tương quan giữa cá nhân với đời sống xã hội.
Trong rất nhiều công trình nghiên cứu xã hội học từ trước tới nay người ta đã
áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu của các khoa học khác nhau (như các
2.3. Một số đóng góp của các nhà sáng lập ra xã hội học.
a). Auguste Comte (1798 – 1857).
Ông sinh tại Montpellier, nước pháp, trong một gia đình theo đạo Giatô theo
xu hướng quân chủ.
Trong các tác phẩm đầu tiên của mình, Auguste Comte đã phân tích sự khủng
hoảng của xã hội Tây Âu hồi đầu thế kỷ 19 với sự sụp đổ của xã hội thần học và
quân sự, đồng thời là sự ra đời của xã hội khoa học và công nghệ.
16
Ông đã phát hiện, xây dựng nên quy luật ba trạng thái trong đó trình bày ba
giai đoạn phát triển tinh thần của con người:
- Kỷ nguyên thần học, trong đó tinh thần giải thích các hiện tượng bằng
những thực thể hay sức mạnh có hình người.
- Kỷ nguyên siêu hình học, trong đó tinh thần giải thích các hiện tượng bằng
những thực thể trừu tượng.
- Kỷ nguyên thực chứng, trong đó tinh thần thiết lập những liên hệ đều đặn
gọi là các quy luật.
Theo ông tất cả các môn học trí tuệ đều phải trải qua ba kỷ nguyên đó nhưng
không đồng thời với nhau. Do đó theo ông, có thể phân loại khoa học theo thư tự
vừa logic vừa lịch sử mà trong đó khoa học cuối cùng, phức tạp nhất là xã hội học.
Đặc trưng của xã hội học là ở tính tổng hợp của nó, cho nên đối tượng của xã hội
học chỉ có thể là lịch sử loài người.
Auguste Comte quan niệm rằng xã hội học sẽ mạng lại giải pháp cho sự
khủng hoảng của văn minh phương Tây, là một thứ “kinh Phúc âm” của khoa học
thực chứng mà ông truyền giảng với tư cách là nhà “cải cách xã hội”. Nhưng ông
không có ảo tưởng đối với vệc can thiệp vào đời sống xã hội, vì đó là việc quá phức
tạp. Cải cách xã hội cũng đòi hỏi phải xét lại nhiều khái niệm căn bản, phải chỉnh
đốn phong tục, rất tốn thời gian và công sức. Ông xem chiến tranh là lỗi thời và dự
báo trước sự xuất hiện một quyền lực tinh thần mới: quyền lực của các nhà bác học
và các nhà triết học.
Về sau Auguste Comte được tôn vinh là người khai sáng ra xã hôi học. Ông
gây hấn luôn luôn ngự trị, còn các xã hội công nghiệp là các “xã hội tự do”. Quá
trình tiến hóa xã hội diễn ra từ kiểu này sang kiểu kia, tùy thuộc vào thời kì chiến
tranh hay hòa bình. Hòa bình có lợi cho xu thế tự nhiên chuyển từ các xã hội quân
sự sang các xã hội công nghiệp, còn chiến tranh thì cản trở và xóa bỏ sự tiến hóa ấy,
tạo điều kiện cho phản cách mạng xuất hiện.
Lí thuyết “tiến hóa xã hội” của Spencer có lúc đã được giới khoa học thừa
nhận nhưng sau đó bị bác bỏ và ông đã phục hưng chúng bằng cách có những thay
đổi và đổi mới nhất định.
d). Emile Durkheim (1858 – 1917).
Nhà xã hội học nổi tiếng được coi là cha đẻ của xã hội học Pháp. Ông là
người lập ra chuyên ngành xã hội học ở trường Đại học Bordeaux và ở Đại học
Sorbonne của Paris. Các nhà xã hội học trên thế giới ngày nay đều ảnh hưởng rất
nhiều lối tiếp cận cấu trúc, chức năng của ông. E. Durkheim đã cố gắng tách các sự
kiện, hiện tượng xã hội ra khỏi sự chi phối của con người và yêu cầu xem xét chúng
như các "vật thể" để không áp đặt vào chúng những định kiến đã có sẵn. Ông cũng
là người sáng lập ra "Niên giám xã hội học" nhằm tập hợp các công trình khoa học
của các nhà xã hội học đương thời. Ông là người có công lao rất lớn trong việc hình
thành và phát triển ngành xã hội học hiện đại.
18
Các tác phẩm chính: Phân công lao động xã hội (1893), Các qui tắc của
phương pháp xã hội học (1897), Tự tử (1897), Các hình thức cơ bản của đời sống
tôn giáo (1912).
Sau khi ra đời, xã hội học đã phát triển rực rỡ và có được những bước tiến dài
trong việc xây dựng nền tảng cũng như các phân nghành xã hội học ở các nước công
nghiệp phát triển. Có thể nói những thành tựu to lớn mà các nước công nghiệp phát
triển đạt được là có sự đóng góp đáng kể của ngành khoa học xã hội học. Ngày nay,
xã hội học đã có mặt ở hầu khắp các nước trên thế giới và chiếm một vị trí xứng
đáng trong hệ thống lý thuyết cũng như ứng dụng. Nó được coi là môn khoa học
phát triển. Rất nhiều trường phái xã hội học hiện đai nổi tiếng có ảnh hưởng lớn trên
thế giới. Chẳng hạn như trường phái lý thuyết hệ thống của Talcott Parsons (Đại học
sống của con người theo các chiều hướng khác nhau: mang tính quy luật khách
quan. Tất nhiên về lĩnh vực này, do xuất phát nghiên cứu ở nhiều xã hội khác nhau,
các tác giả cũng có nhận xét, khái quát khác nhau và thể hiện quan điểm khác nhau.
Ngoài việc nghiên cứu về giai cấp, xã hội còn nghiên cứu cơ cấu xã hội với
các nhóm, các cộng đồng khác trong xã hội (nhóm dân tộc, nhóm tôn giáo, nhóm
theo giới tính…)
Nghiên cứu nhóm cộng đồng xã hội chính là nghiên cứu về mối quan hệ, tác
động qua lại giữa các cá nhân trong cộng đồng về lợi ích để xem xét mức độ gần gũi
về quan điểm, tín ngưỡng, về định hướng chính trị, mục tiêu và phương thức hành
động để đạt tới mục đích. Nhờ vậy sẽ có cơ sở để xem xét tác động qua lại giữa các
nhóm, các cộng đồng tạo nên một chỉnh thể xã hội với tất cả những mâu thuẫn, xung
đột, vận động và phát triển…qua đó có thể đoán định được tính ổn định, tính bền
vững của mỗi thể chế xã hội, trong những điều kiện chủ quan và khách quan có tính
xác định.
Nhờ nghiên cứu sâu nhóm cộng đồng, chúng ta cũng sẽ phát hiện được bản
sắc đặc thù trong hành vi xã hội của người. Trong trường hợp này các chuẩn mực
giá trị, thiết chế xã hội, bản sắc văn hóa chính là khuôn mẫu, chuẩn mực hành vi của
mỗi nhóm người. Vậy đối tượng nghiên cứu của xã hội học nói một cách khái quát
chính là hành vi xã hội của con người. Chúng ta chỉ có thể hiểu rõ hành vi xã hội
dựa trên cơ sở làm rõ một tương quan giữa người và người trong các nhóm và trong
cộng đồng xã hội dựa trên các dấu hiệu đặc trưng.
Những nhóm cộng đồng xã hội khác nhau tương tác với nhau tạo nên một kết
cấu chỉnh thể của một xã hội. Nghiên cứu các vấn đề trên, xã hội học phát hiện ra
tính quy luật chi phối các quan hệ, các mối liên hệ tạo thành hệ thống tổng thể, hoàn
chỉnh của xã hội.
2. Chức năng của xã hội học.
20
Mỗi một môn khoa học đều có một số chức năng nhất định. Chức năng của
mỗi môn khoa học được phản ánh ở mối quan hệ và sự tác động qua lại của chính
môn khoa học đó với thực tiễn xã hội. Xã hội học có sáu chức năng cơ bản sau đây:
khách quan của sự phát triển xã hội, giáo dục lí tưởng xã hội chủ nghĩa, tiến lên xây
21
dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Trong quá trình
giáo dục xã hội, một bộ phận cảu xã hội học – xã hội học ứng dụng có vai rò và tác
dụng sâu sắc.
Xã hội học Mác – Lênin còn đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành tư
duy khoa học, hình thành thói quen, nề nếp suy xét trên quan điểm duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử đối với các hiện tượng của đời sống xã hội, nắm bắt và
hành động phù hợp với qui luật khách quan của sự vận động và phát triển của xã
hội, phát huy được bản chất tốt đẹp của xã hội xã hội chủ nghĩa.
Lập trường của nhà xã hội học chân chính phải luôn luôn đảm bảo tính khách
quan, khoa học trong vấn đề nghiên cứu, đảm bảo nguyên tắc tính Đảng trong khoa
học xã hội, trong việc nghiên cứu và vận dụng kiến thức khoa học phục vụ đức lực
cho cho công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Điều đó có nghĩa là nhà xã hội học
không đứng bên lề xã hội, nghiên cứu khoa học với thái độ bàng quan mà luôn gắn
với công tác nghiên cứu khoa học của mình với mục đích, lí tưởng xã hội mà toàn xã
hội đang phấn đấu thực hiện.
2.3. Chức năng thực tiễn.
Trong xã hội học chức năng thực tiễn có liên quan trực tiếp với chức năng
nhận thức. Nhận thức khoa học luôn luôn bao hàm yếu tố tiên đoán khoa học, do đó
chức năng thực tiễn của xã hội học luôn luôn bắt nguồn từ bản chất khoa học của
các nhận thức khoa học. Trên cơ sở phân tích thực trạng xã hội và những mặt, những
quá trình riêng lẻ của sự vận động, phát triển của nó, xã hội học sẽ làm sáng tỏ triển
vọng của sự vận động và phát triển của xã hội trong tương lai gần cũng như tương
lai xa.
Khi nghiên cứu thực trạng của các quan hệ xã hội, xã hội học tạo điều kiện để
con người có thể kiểm soát được quan hệ xã hội của mình và điều hòa các quan hệ
đó sao cho phù hợp với yêu cầu khách quan của sự vận động, phát triển và tiến bộ
xã hội.
Việc dự báo trên cơ sở nắm bắt chính xác các quy luật và xu hướng phát triển
Trên cơ sở nhận diện được hiện trạng xã hội thực tại và sử dụng các lý thuyết
dự báo, các nhà xã hội học sẽ mô tả được triển vọng vận động của xã hội trong
tương lai gần cũng như tương lai xa hơn. Dự báo xã hội là một thế mạnh của xã hội
học. Có thể nói trong tất cả các môn khoa học xã hội thì xã hội học có chức năng dự
báo mạnh nhất và hiệu qủa nhất.
2.5 Chức năng quản lý.
Trước hết cần phải nói rõ ngay rằng xã hội học không phải là khoa học quản
lý, nhưng có một điều chắc chắn rằng tất cả các hoạt động quản lý kể cả quản lý
kinh tế, hành chính hay nhân sự chỉ trở nên tối ưu khi mà biết sử dụng tốt các kết
luận, nhận định và dự báo của xã hội học.
2.6. Chức năng công cụ.
Các phương pháp, các kỹ thuật thao tác, các cách thức tiếp cận xã hội của xã
hội học được các ngành khoa học khác nhau cũng như các lĩnh vực khác nhau của
23
kinh tế, chính trị, văn hóa, sử dụng như một công cụ hữu ích và hết sức cần thiết
trong quá trình hoạt động. Chúng ta có thể thấy rõ điều đó qua các cuộc thăm dò dư
luận xã hội trước các cuộc tranh cử, hay các phương pháp điều tra của xã hội học
được ứng dụng vào việc thăm dò nhu cầu, thị hiếu khách hàng trong marketing. Do
vậy "xã hội học sẽ làm một công cụ hữu hiệu để cho con người có thể xây dựng cho
mình một xã hội tốt đẹp hơn ".
3. Nhiệm vụ của xã hội học.
- Nhiệm vụ hàng đầu của xã hội học là nghiên cứu các hình thái biểu hiện và
các cơ chế hoạt động của các quy chế hoạt động của xã hội.
- Nhiệm vụ tiếp theo của xã hội học là phục vụ cho công tác tổ chức và quản
lí xã hội một cách trực tiếp và gián tiếp.
Xã hội học đại cương cung cấp thông tin phục vụ gián tiếp cho công tác quản
lí xã hội vĩ mô, xem như là một bộ phận của nhân sinh quan, như cơ sở phương pháp
luận của các xã hội học chuyên ngành và kể cả các khoa học trong hệ thống khoa
học xã hội.
IV. MỘT SỐ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU CỦA XÃ HỘI HỌC.
- Các yếu tố thuộc phạm vi không gian – vật chất của đô thị.
- Các yếu tố về tổ chức xã hội đô thị.
Các vấn đề trong nghiên cứu xã hội học đô thị hiện nay là:
- Các vấn đề về cơ cấu dân số và sinh thái học ở đô thị.
- Lối sống đô thị, hiện tượng quá tải ở đô thị nguyên nhân và giải pháp.
- Cộng đồng dân cư và các thiết chế xã hội ở vùng đô thị.
- Vấn đề đô thị trung tâm với các vệ tinh và các vùng phụ cận.
- Dự báo quy hoạch đô thị trong điều kiện xã hội phát triển.
- Môi trường văn hóa ở đô thị, sự giao lưu văn hóa ở các đô thị.
- Chính sách xã hội ở vùng đô thị…
3. Xã hội học gia đình.
Xã hội học gia đình cũng là một chuyên ngành trong xã hội học chuyên
nghiên cứu về quan hệ xã hội trong phạm vi gia đình. Gia đình được quan niệm là
một nhóm xã hội, hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống.
Trong xã hội học gia đình chúng ta nghiên cứu gi đình ớ các mặt sau:
- Gia đình được xem là một thiết chế xã hội, là tế bào của xã hội luôn luôn
gắn với mọi mặt của đời sống xã hội và luôn luôn có tác động tương hỗ lẫn nhau
thông qua các chức năng của gia đình.
25