Cách mạng khoa học- công nghệ và tác động của nó đến quá trình dạy học đại học - Pdf 12

Đề tài: Cách mạng khoa học công nghệ trong thời đại ngày nay và những tác động của
nó đối với quá trình dạy học đại học
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục đại học (GDĐH) là bậc học đào tạo
nguồn nhân lực có đầy đủ phẩm chất và năng lực nghề nghiệp tham gia trực tiếp hoặc gián
tiếp vào hoạt động kinh tế - xã hội. GDĐH có vai trò to lớn, như một thành phần sinh động của
sự phát triển văn hoá, xã hội, kinh tế và chính trị và như là một trụ cột của việc xây dựng tiềm lực
nội sinh, sự củng cố quyền con người, sự phát triển bền vững.
Ngày nay, với sự phát triển cực kỳ nhanh chóng của khoa học và công nghệ
(KHCN), đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông, nhân loại đang bước đầu quá độ
sang nền kinh tế tri thức. Cùng với GDĐH, KHCN có vai trò then chốt trong sự phát triển
kinh tế - xã hội ở các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển. Trong nền kinh tế
tri thức, KHCN và GDĐH cung cấp tri thức, nhân lực và các yếu tố cạnh tranh cho nền
kinh tế, vì vậy phát triển KHCN và GDĐH không những được coi là nền tảng phát triển
kinh tế - xã hội mà đã trở thành xu hướng lựa chọn tất yếu của nhiều quốc gia. Quá trình
phát triển các quốc gia trên thế giới đã chứng minh rằng quốc gia nào nắm giữ và làm chủ
được công nghệ và tri thức mới, quốc gia đó sẽ phát triển. Bài học thành công từ một số nền
công nghiệp phát triển tại Châu Á gần đây như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung
Quốc đều có chung một cách đi là phát triển dựa vào KHCN và giáo dục đào tạo (với trụ
cột là GDĐH) .
Trong nhà trường đại học đồng thời diễn ra nhiều quá trình họat động và đều nhằm
vào đích cuối cùng góp phần hoàn thiện nhân cách sinh viên, trong quá trình đó dạy học là
cơ bản, chiếm ưu thế và có vai trò quyết định. Với mong muốn tìm hiểu rõ hơn về sự tác
động giữa KHCN và GDĐH, em chọn viết đề tài: “Cách mạng khoa học công nghệ trong
thời đại ngày nay và những tác động của nó đối với quá trình dạy học đại học”
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận về quá trình dạy học đại học (QTDHĐH)
1.1 Khái niệm: QTDHĐH là quá trình tương tác giữa người dạy và người học trong
đó dưới sự tổ chức hướng dẫn của người dạy, người học tích cực, chủ động, độc lập thực
hiện các hoạt động nhận thức nhằm lĩnh hội kiến thức, hình thành KNKX, phát triển và
hoàn thiện nhân cách để trở thành những kĩ sư, chuyên gia… đáp ứng yêu cầu của XH.

hoạt động dạy của người dạy và nội dung học của người học. NDDH đc cụ thể hóa và vật
chất hóa thành SGK, TLHT, TLTK và trở thành đối tượng học tập của người học.
1.2.3. ( vở ghi)
1.2.4.
1.2.5.
1.2.6.
1.2.7.
1.2.8. Mối q hệ giữa các thành tố của QTDHĐH:
( Vẽ sơ đồ)
2. Cuộc cách mạng KHCN ngày nay
2.1. Khái niệm:
Cuộc cách mạng KHCN ngày nay là sự biến đổi tận gốc lực lượng sản xuất của xã hội hiện
đại, được thực hiện vai trò dẫn đường của khoa học trong toàn bộ chu trình: “Khoa học-
Công nghệ-Sản xuất-Con người- Môi trường”. Trong đó quan trọng nhất là việc nổi lên vai
trò hàng đầu của yếu tố con người trong hệ thống lực lượng sản xuất dựa trên việc vận dụng
đồng bộ các ngành công nghệ mới có hàm lượng KHCN cao (ngành công nghệ cao –
hitech) như công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học…
2.2. Nguồn gốc:
Nguồn gốc sâu xa là do yêu cầu của cuộc sống, của sản xuất: đáp ứng những nhu cầu
ngày càng cao của con người. Do yêu cầu bức thiết của tình hình thời hiện đại: bùng nổ dân
số, vơi cạn nguồn tài nguyên, ô nhiễm môi trường, do nhu cầu sinh hoạt ngày càng cao của
con người, đòi hỏi phải có những công cụ sản xuất mới, kỷ thuật cao, phải có những nguồn
năng lượng mới và những vật liệu mới thay thế nguồn tài nguyên thiên nhiên đang ngày
càng vơi cạn. Để phục vụ quyền và lợi ích quốc gia.
2.3. Nội dung :
Cuôc CM KHCN ngày nay có nội dung và phạm vi rất rộng lớn, rất phong phú diễn ra
trong mọi ngành của khoa học cơ bản: Toán học, Vật lý, Hóa học, Sinh học. Khoa học cơ
bản là cơ sở lý thuyết cho các khoa học khác, cho kỷ thuật và là nền móng của tri thức.
Nghiên cứu, phát minh ra nhiều ngành khoa học mới: khoa học vũ trụ, khoa học du hành vũ
2

_ Khoa học cơ bản có những bước nhảy vọt và nhiều thành tựu to lớn:
+ Toán học có nhiều phát minh lớn và thâm nhập vào các ngành khoa học khác, tạo thành
quá trình toán học hóa các khoa học.
+ Hóa học có nhiều thành tựu, tác động vào kỷ thuật và sản xuất.
+ Vật lý với những phát minh về lý thuyết hạt nhân, sóng điện từ, laze số hóa góp phần
sản xuất những công cụ mới, vật liệu mới, công nghệ nano
+ Những phát minh trong Sinh học: hoàn chỉnh “Bản đồ gen người”, tách được tế bào gốc,
đột phá trong y học, công nghệ emzim …, dẫn tới cuộc “cách mạng xanh” trong nông
nghiệp) và sự ra đời của công nghệ sinh hoc.
_ Những phát minh lớn về công cụ sản xuất mới, trong đó quan trong nhất và có ý nghĩa
lớn nhất là sự ra đời của máy tính, hệ thống điều khiển tự động, người máy biết giao tiếp…
_ Chế tạo ra những vật liệu mới thay thế cho nguyên liệu thiên nhiên đang ngày càng vơi
cạn, nhất là chất dẽo (Pôlime), composite, siêu dẫn…
_ Tìm ra nguồn năng lượng mới rất phong phú, vô tận như năng lượng nguyên tử, nhiệt
hạch, mặt trời, thủy triều, gió trong đó năng lượng nguyên tử và mặt trời đang được sử
dụng phổ biến.
3
_ Đạt nhiều tiến bộ trong lĩnh vực GTVT và TTLL: Máy bay hành khách siêu âm khổng lồ,
tàu hỏa tốc độ cao, máy vi tính, cáp quang, internet, thiết bị thông minh…
_ Đạt những thành tựu kỳ diệu về chinh phục vũ trụ: vệ tinh, thám hiểm mặt trăng, sao
Kim, sao Hỏa; phóng những con tàu vũ trụ bay nhiều ngày vòng quanh trái đất, ra khỏi hệ
mặt trời có được những tin tức của
2.6. Tác động
- Nâng cao năng suất lao động, gia tăng khối lượng các sản phẩm, không ngừng nâng cao
mức sống và chất lượng cuộc sống của con người.
- Nền kinh tế thế giới ngày càng được quốc tế hoá cao, từ những năm 80 của thế kỉ XX một
thị trường thế giới với xu thế toàn cầu hoá hình thành.
- Những thay đổi lớn về cơ cấu dân cư, chất lượng nguồn nhân lực, những đòi hỏi mới về
giáo dục và đào tạo nghề nghiệp.
- Hậu quả tiêu cực, chủ yếu do con người tạo ra, như tình trạng ô nhiễm môi trường, các

khác, sự phát triển của KHCN giúp cho phương pháp cũng có thay đổi cũng như các công
cụ hổ trợ đã đổi mới cần phương pháp phù hợp hơn.
4
- Phương tiện dạy học: KHCN phát triển giúp cho phương tiện dạy học ngày càng phong
phú và hiện đại hơn, tạo điều kiện cho hoạt động dạy và hoạt động đạt hiệu quả tốt hơn.
Song nó cũng đòi hỏi người dạy cũng như người học phải có những kiến thức kĩ năng nhất
định để sử dụng chúng một cách hiệu quả.
- Người dạy và hoạt động dạy: Trong xã hội hiện nay, khả năng trình độ con người
được nâng cao nên cách dạy của thầy cũng phải thay đổi. Với sự hỗ trợ của PTDH hiện đại,
thì việc tổ chức, hướng dẫn, điều khiển các hoạt động học cần có sự đổi mới để hoạt động
dạy đạt hiệu quả hơn và đáp ứng yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học.
- Người học và hoạt động học: Quá trình đổi mới nội dung và PPDH đòi hỏi người
học phải đổi mới cách học, tích cực chủ động sáng tạo trong học tập. Đồng thời, sự phát
triển của KHCN đáp ứng cho người học nhiều điều kiện thuận lợi trong học tập như:
phương tiện, thông tin, điều kiện sinh hoạt…Đồng thời đòi hỏi người học phải năng động
nhạy bén hơn trong hoạt động học tập, tăng cường thời gian tự học và rèn luyện kĩ năng PP
tự học.
- Kết quả dạy học: Những phẩm chất năng lực, KNKX, thái độ mà người học đạt được cần
có sự đổi mới nhằm đáp ứng được yêu cầu thực tiễn XH trong sự phát triển của KHCN.
Trong quá trình toàn câu cầu hóa, hội nhập hiện nay, kết quả dạy học không những phải
được yêu câu xã hội mà còn phải đáp ứng được các tiêu chí của nhiều cơ quan kiểm định kể
cả trong nước và ngoài nước.
Sự phát triển của KHCN tác đến mọi mặt của đời sống XH, tác động sâu sắc trong
các mối quan quan hệ biện chứng của QTDHĐH. KHCN và QTDHĐH là quá trình song
song phát triển, hỗ trợ, tương tác và thúc đẩy lẫn nhau, luôn đặt ra cho nhau những thời cơ
và thách thức mới.
Cuộc cách mạng KHCN ngày nay là sự thay đổi căn bản trong bản thân các lĩnh vực KHCN
cũng như mối quan hệ và chức năng XH của chúng, khiến cho cơ cấu và động thái phát
triển của các lực lượng sản xuất cũng bị thay đổi hoàn toàn. Ở nét khái quát nhất có thể
định nghĩa cuộc CM KHCN hiện đại là sự biến đổi tận gốc lực lượng sản xuất của XH, đưa

kỹ năng kỹ xảo mới( kỹ năng nghề nghiệp), những thái độ mới. Là cái rất khó đo lường
đánh giá, song kết quả đó nằm ở bên trong người học, nhưng đó lại là công lao mồ hôi nước
mắt của thầy và trò., như trên đã nói kết hợp hai độ đo.
Với vai trò và đặc điểm của tr
Mối quan hệ giữa các thành tố QTDH ĐH & Môi trường.
Sự đổi mới và cải cách giáo dục ở khắp các nước trên thế giới đang diễn ra ở quy mô
toàn cầu tạo cơ hội tốt cho giáo dục Việt Nam nhanh chóng tiếp cận được với nhiều xu thế
mới, những tổ chức hệ thống và phương thức mới; tận dụng được nhiều kinh nghiệm hay
của các nền giáo dục tiên tiến được thể hiện
6
+ Sự phát triển khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông
đã là công cụ hàng đầu giúp cho giáo dục phát triển đến với tất cả người học và vùng miền
khó khăn, xa xôi, hẻo lánh.
+
+ Tốc độ phát triển kinh tế nhanh của nước ta, tạo nguồn lực đầu tư ngày càng đa dạng
và nhiều hơn cho phát triển giáo dục và KHCN.
+ Sự phát triển kinh tế-xã hội và yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
tạo sức ép về số lượng cũng như chất lượng đối với nguồn nhân lực, đòi hỏi giáo dục phải
đổi mới.
Tuy nhiên sự tụt hậu hiện tại của nền giáo dục Việt Nam tạo ra một khoảng cách
tương đối lớn so với các nền giáo dục trong khu vực và trên thế giới. Giáo dục nước ta vừa
phải phát triển mạnh để thu hẹp khoảng cách, vừa phải khắc phục những mất cân đối nội
tại, những mâu thuẫn đang tồn tại hiện nay:
+ Quy mô và chất lượng còn rất mất cân đối. Chất lượng, hiệu quả giáo dục đại trà
còn thấp và rất khồng đồng đều ở các bậc, ở các vùng miền khác nhau, giữa thành thị và
nông thôn, giữa các nhóm dân cư có thu nhập khác nhau. Chúng ta cũng chưa có chính sách
phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài hợp lý.
+ Cung và cầu giáo dục có khoảng cách lớn. Cung ứng giáo dục không theo được
nhu cầu giáo dục mà thị trường lao động, việc làm đang đòi hỏi; không đáp ứng được nhu
cầu của người học và có khoảng cách xa trong việc đáp ứng sự đòi hỏi của phát triển kinh

quốc gia phát triển đến nước ta đang ngày càng có xu hướng gia tăng.
- Quá trình đô thị hoá làm khoảng cách phát triển kinh tế và tri thức giữa các vùng
miền trong nước ngày càng gia tăng.
-Nhiều tiêu cực xuất hiện trong giáo dục do chạy theo mặt trái của nền kinh tế thị
trường, hoạt động vì lợi nhuận, trái với mục đích phát triển con người, phát triển đất nước.
-Tổ chức bộ máy và nhân sự quản lý giáo dục Việt Nam còn chồng chéo, yếu kém,
chưa đủ khả năng ngăn chặn những tiêu cực, rủi ro trong tiến trình hội nhập quốc tế và toàn
cầu hoá.
4.3.1 Yêu cầu của sự phát triển giáo dục đại học
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học CN, tính chất phức tạp của môi trường kinh tế -
chính trị - văn hoá - xã hội nói riêng, xu thế phát triển của thời đại nói chung đã ảnh hưởng
sâu sắc đến ngành giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng. Thực tiển đó đã đề ra
những yêu cầu ngày càng cao đối với nền giáo dục đại học. Theo tài liệu của UNESCO về
sự định hướng cho sự phát triển của giáo dục đại học thì nền giáo dục đại học hiện đại cần
đáp ứng 10 yêu cầu cơ bản sau:
1. Các trường đại học phải là một trung tâm đào tạo có chất lượng cao, phải đa dạng
hoá, chuyên môn hoá trong giáo dục đào tạo nhằm đạt hiệu quả cao trên nhiều lĩnh vực
khoa học.
2. Các trường đại học phải là một trung tâm tập hơpj những sinh viên có năng lực trí
tuệ phát triển ở mức độ cao. Đó là những thanh niên có năng lực tham gia tích cực vào các
chương trình đào tạo của nhà trường và luôn quan tâm đến vấn đề công bằng xã hội và giáo
dục- đào tạo.
3. Các trường đại học phải là một cộng đồng toàn tâm toàn ý, sáng tạo trong nghiên
cứu khoa học, trong phổ biến, vận dụng và đưa những phát minh công nghệ vào thực tiển
cuộc sống.
4. Các trường đại học phải là một trung tâm học tập tích cực, có ý chí học tập thường
xuyên, học suốt đời để không ngừng phục vụ sự phát triển xã hội.
5. Các trường đại học luôn là một trung tâm bồi dưỡng, cập nhật văn hoá và hoàn
thiện tri thức.
6. Các trường đại học là một trung tâm trong đó có sự liên thông hợp tác đào tạo, hợp

Hiện nay, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ trong thời kỳ toàn cầu hoá đã và
đang diễn ra mạnh mẽ, tác động đến mọi quốc gia, dân tộc. Tốc độ phát minh khoa học
ngày càng gia tăng. Khoảng cách từ phát minh đến ứng dụng rút ngắn. Sự cạnh tranh về
công nghệ cao diễn ra quyết liệt. Truyền thông về khoa học - công nghệ diễn ra sôi động.
Nhiều tri thức và công nghệ mới ra đời, đòi hỏi con người phải học tập thường xuyên, học
tập suốt đời. Quá trình giáo dục phải được tiến hành liên tục để người lao động có thể thích
nghi được với những đổi mới của tiến bộ khoa học - công nghệ. Trong những năm qua, ở
nước ta, hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ được đẩy mạnh, quản lý
khoa học - công nghệ có đổi mới, thị trường khoa học - công nghệ được hình thành,đầu tư
cho khoa học được nâng lên. Cùng với giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là động
lực phát triển kinh tế xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và CNXH.
Khoa học và công nghệ là nhân tố chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và củng cố quốc
phòng an ninh. Phát triển khoa học công nghệ để tạo tiền đề cơ sở ứng dụng tiến bộ kỹ
thuật, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật.
Phát triển khoa học - công nghệ và GDĐT có tác dụng thực hiện tốt hơn nhiệm vụ
bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền
vững. “Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát
triển 2011)” nhấn mạnh: “Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ có sức mạnh nâng
cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát
triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào
tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo
dục và đào tạo là đầu tư phát triển. Sự phát triển của khoa học và công nghệ ngày càng có
ý nghĩa quyết định trong việc làm thay đổi nền sản xuất vật chất của xã hội”.
Với sự phát triển của nền kinh tế đã có sự tác động mạnh mẽ đến giáo dục đại học, giáo
dục đại học đổi mới mục tiêu, nội dung và cả phương pháp, phương tiện dạy học, trên
phương diện đa phương hoá, đa dạng hoá loại hình đào tạo, phù hợp với sự đổi mới của
9
nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa
của Việt Nam nói riêng. Phấn đấu xây dựng một nền giáo dục hiện đại, của dân, do dân và
vì dân, đảm bảo công bằng về cơ hội học tập, cho mọi người, tạo điều kiện để toàn xã hội

Đến khoảng giữa thế kỷ XVIII, kinh tế công nghiệp cơ giới xuất hiện và phát triển mạnh,
dựa vào các tri thức cơ học cổ điển để chế tạo ra máy móc cơ khí phục vụ sản xuất. Nhưng
để hình thành được thị trường hàng hóa của kinh tế công nghiệp cổ điển thì tài nguyên và
vốn (tư bản) lại quan trọng hơn nên tri thức cơ học cổ điển cũng chỉ có vai trò thứ yếu.
10
Đến khoảng giữa thế kỷ XX, kinh tế công nghiệp cổ điển hết tiềm năng phát triển và bắt
đầu suy thoái, vì tài nguyên trở nên cạn kiệt, ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng, chiến tranh
hủy diệt đe dọa thường xuyên Trong bối cảnh đó cuộc cách mạng khoa học công nghệ
hiện đại xuất hiện và phát triển bùng nổ, dựa trên những khối tri thức khổng lồ, rất mới và
vô cùng phong phú về thế giới vật chất vĩ mô và vi mô, với thuyết tương đối và thuyết
lượng tử. Lực lượng sản xuất mới được hình thành dựa trên nguồn lực chủ yếu là tri thức,
tạo nên hệ thống công nghệ cao với máy móc thông minh mà điển hình là máy tính điện tử
(máy điện toán) mô phỏng não người.
Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất mới này đã dẫn tới một hình thái kinh tế
mới. Đó là một nền kinh tế trong đó việc sáng tạo tri thức, sự lan truyền và quảng bá nhanh
tri thức đưa vào ứng dụng là động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, tạo ra của cải, tạo
ra việc làm cho tất cả các ngành kinh tế. Nhà kinh tế học P.F.Durker gọi đó là nền kinh tế
tri thức và tên gọi này hiện nay đã trở thành phổ biến với việc sử dụng chính thức của
Ngân hàng thế giới. Trong nền kinh tế mới, kinh tế tri thức sản xuất chủ yếu dựa vào
nguồn lực tri thức. Tài nguyên và vốn dù quan trọng vẫn chỉ giữ vai trò thứ yếu.
Như vậy, trong tiến trình lịch sử phát triển của nhân loại con người là động vật duy nhất có
năng lực sáng tạo tri thức, do đó biết lao động sản xuất và tiến dần tới nền kinh tế dựa vào
tri thức là chính. Bởi vậy, kinh tế tri thức là một lịch sử tất yếu.
Cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, khoảng từ giữa thế kỷ XX, dựa trên những tri
thức sáng tạo, đi sâu vào thế giới vĩ mô và thế giới vi mô, dẫn tới sự phát minh ra các máy
móc, thuộc loại hoàn toàn mới, gọi là máy móc thông minh. Điển hình là máy điện toán,
mô phỏng được những chức năng chủ yếu của não người: biết nhớ, biết tính toán kể cả các
bài toán rất phức tạp, biết thực hiện các lệnh, biết tư vấn cho người dùng trong một số
việc , đóng vai trò chính trong các hệ tự động hóa toàn phần của sản xuất và trong các
mạng thông tin toàn cầu. Máy móc thông minh kết hợp với tri thức sáng tạo trở thành

cầu hoá trong lĩnh vực giáo dục. Đó là quá trình hội nhập quốc tế về giáo dục trong đó các
yếu tố quốc tế và liên văn hoá được tích hợp vào chức năng nhiệm vụ, cách cung ứng và
tiến trình tổ chức thực hiện giáo dục. Quá trình này diển ra theo hai chiều đo: Chiều đo nội
tại và chiều đo bên ngoài.
Chiều đo nội tại của quốc tế hoá giáo dục là việc đổi mới chương trình giáo dục,
phương pháp dạy và học, hoạt động nghiên cứu và hợp tác trong phạm vi của một nước
nhằm hướng tới tính quốc tế và liên văn hoá trong giáo dục và đào tạo. Chiều đo này còn
được gọi là quốc tế hoá tại chổ bởi lẽ người học vẫn tiếp nhận được các yếu tố quốc tế và
liên văn hoá với các điều kiện trong nước về nhà trường, chương trình giáo dục, người dạy
và người học.
Chiều đo bên ngoài của quốc tế hoá giáo dục là sự dịch chuyển xuyên biên giới của
bốn nhân tố cơ bản: người học, nhà giáo, chương trình giáo dục và nhà cung ứng giáo dục.
Chiều đo này có tên riêng là giáo dục xuyên biên giới (giáo dục xuyên biên giới là nói tới
sự chuyển dịch qua biên giới quốc gia của người dạy, người học, chương trình giáo dục,
nhà cung ứng giáo dục).
Giáo dục xuyên biên giới diển ra ở mọi cấp và trình độ đào tạo: Giáo dục mầm non,
giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, giáo dục thường xuyên.
là nền khoa học công nghệ (KHCN) và giáo dục đào tạo (GDĐT) của chúng ta có tiềm năng rất lớn, thế nhưng lại
hầu như không có đóng góp nào vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước". GS. Đỗ Hoài Nam nhận xét:
Hầu như các sinh viên, học sinh của chúng ta khi ra trường đều không vận dụng được lượng kiến thức thu lượm từ
trường lớp để phục vụ cho công việc của mình. Những thành tựu của nền công nghệ nước nhà cũng trợ giúp không
đáng kể đối với sự phát triển của đất nước.
Việc áp dụng những công nghệ hoàn toàn mới đã tạo điều kiện cho sản xuất phát triển theo chiều sâu, giảm hẳn
tiêu hao năng lượng và nguyên liệu, giảm tác hại cho môi trường, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, thúc
đẩy mạnh mẽ sự phát triển của sản xuất. Trong giai đoạn trước, máy móc thay thế lao động cơ bắp; trong giai đoạn
cách mạng tin học, máy tính làm nhiều chức năng của lao động trí óc. Song song với việc đi sâu vào từng khoa học
riêng lẻ là sự xuất hiện của những lí thuyết ngày càng bao trùm hơn, của càng nhiều khoa học cụ thể khác nhau,
cho phép sử dụng các thành tựu của khoa học này phục vụ khoa học kia, dù các ngành khoa học có khi rất xa nhau.
Cho nên ngày nay, sản xuất chịu ảnh hưởng không phải là của những ngành khoa học riêng biệt nữa. Các thành
quả của sản xuất là sản phẩm của một phạm vi nghiên cứu rộng lớn, và ngày càng rộng lớn hơn, bao trùm không

4.5.2 Quá trình dạy học đại học.
Chúng ta đã có Nghị quyết 14 của Chính phủ : về tầm vĩ mô, một điểm khẳng định
hết sức quan trọng của Nghị quyết 14 của Chính phủ về " Đổi mới cơ bản và toàn diện GD
ĐH Việt Nam giai đoạn 2006-2020" là cần phải " xây dựng chiến lược hội nập quốc tế,
nâng cao năng lực hợp tác và sức mạnh cạnh tranh của giáo dục đại học Việt Nam thực hiện
các hiệp địn cam kết quốc tế ". Thông qua việc xây dựng chiến lược đó, các trường đại học
sẽ nhận thức được rõ hơn những cơ hội và thách tức của tình hình mới, và hệ thống GD ĐH
sẽ thiết lập được những thể chế và tổ chức cần thiết đáp ứng tình hình mới.
" (Văn kiện Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ X).
5. KẾT LUẬN
Kinh tế tri thức, là một đặc điểm nổi bật và là sự phát triển tất yếu của nền kinh tế
hiện đại. Và như vậy, giá trị của nền kinh tế của bất kì một quốc gia nào được xác định bởi
lượng tri thức làm nên nền kinh tế và hàm lượng “chất xám” trong hàng hoá của nền kinh tế
đó. Giáo dục đại học với chức năng là đạo tạo nguồn nhân lực có tri thức cho xã hội phải
thay đổi để góp phần tạo nên giá trị cho nền kinh tế.
13
Những phân tích trên đây chỉ là những suy luận chủ quan của tác giả nên chúng
không thực sự chính xác và đầy đủ. Nhưng chúng góp phần khẳng định một điều rằng trong
nền kinh tế tri thức, một đặc điểm của nền kinh tế hiện đại, giáo dục – đào tạo nói chung và
giáo dục đại học nói riêng phải thay đổi dù xó thể chưa phải là đổi mới. Sự thay đổi này là
cần thiết và là một quá trình tiếp tục kéo dài cùng sự phát triển của nền kinh tế nói chung và
kinh tế tri thức nói riêng.
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status