BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
[\ @ [\
VƯƠNG MINH HÙNG
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH -PHÁT TRIỂN CÁC KHU
CÔNG NGHIỆP VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN SỰ
PHÂN BỐ NGUỒN LAO ĐỘNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC ĐỊA LÝ
Chuyên ngành : ĐỊA LÝ – KINH TẾ – XÃ HỘI
Khóa : 12
Mã số : 01.07.02
UBND Ủy ban Nhân dân
XĐGN Xóa đói giảm nghèo Lời Cảm Ơn
#"
Tác giả luận văn xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến thầy
hướng dẫn khoa học PGS. TS. Nguyễn Kim Hồng, Phó Hiệu trưởng Trường Đại
học Sư phạm TP.Hồ Chí Minh, đã tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo tận tình trong suốt
quá trình hoàn thành đề tài nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Phòng Khoa học Công nghệ sau Đại
Học, Khoa Đòa lý Trường Đại học Sư phạm TP.Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận
lợi trong việc học tập, trang bò kiến thức để tác giải có thể hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc KTX Trường Đại học Sư phạm TP.Hồ
Chí Minh, các thầy cô giáo trong tổ quản lý SV đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện
hoàn thành luận văn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn đến các cơ quan: Sở NN và PTNT, Sở Tài
Nguyên và Môi Trường, Sở Kế Hoạch & Đầu Tư, Cục Thống Kê, Sở Công Nghiệp,
Sở Thương Binh Lao Động Xã Hội, Ban Quản Lý các khu công nghiệp Bình Dương,
Tổ chức Chính quyền tỉnh Bình Dương... đã giúp đỡ nhiệt tình, cung cấp tài liệu, số
liệu, cho phép tác giả được tham khảo nhiều tư liệu quý báu, hữu ích để hoàn thành
luận văn này.
Tác giả chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp gần xa, gia đình và
những người thân đã động viên, giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn
thành luận văn.
Tác Giả Luận Văn
VƯƠNG MINH HÙNG
triển các khu công nghiệp hiện nay trên đòa bàn của tỉnh cũng như tìm hiểu
những qui luật của nó tác động đến sự phân bố dân cư và lao động của tỉnh.
Đồng thời, tác giả cũng đã tham khảo một số các chính sách và đưa ra giải
pháp phát triển nguồn nhân lực công nghiệp của tỉnh Bình Dương.
II. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
:
1. Mục tiêu của đề tài
:
Phân tích được những ưu điểm và hạn chế của tỉnh Bình Dương về sự
hình thành và phát triển các khu công nghiệp để nắm bắt xu thế của sự phát
triển các khu công nghiệp.
− Phát triển của các khu công nghiệp tác động đến sự phân bố dân cư
và lao động của tỉnh.
− Một số chính sách và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
của các khu công nghiệp và phát triển nguồn lao động của tỉnh.
2. Nhiệm vụ nghiên cứu
:
− Những tác động của sự hình thành các khu công nghiệp và ảnh hưởng
của nó đến sự phân bố nguồn lao động của tỉnh.
− Đánh giá lại mặt được và chưa được để đề xuất những phương án tối
ưu và các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh tế, tạo môi
trường kinh tế thuận lợi cho sự phát triển nguồn nhân lực.
III. GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
:
− Đề tài đi sâu về việc phân tích quá trình hình thành và phát triển các
khu công nghiệp của tỉnh Bình Dương, tác động của nó đến sự phân bố dân cư
và nguồn lao động của tỉnh Bình Dương.
− Đề tài nghiên cứu sự hình thành từ năm 1993 đến nay, đặc biệt là tập
trung đánh giá về lợi thế của tỉnh và những chủ trương xây dựng khu công
:
Trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, sự tác động của cách
mạng khoa học kỹ thuật – công nghệ cùng với đòi hỏi tăng trưởng kinh tế
nhanh và bền vững. Hầu hết các quốc gia hiện nay đều quan tâm đặc biệt về
việc tìm kiếm những cách thức và giải pháp phát huy hiệu quả tiềm năng
nguồn lực của con người. Do vậy, khi xem xét tổng thể các hệ thống trong
mối quan hệ kinh tế - xã hội trong quá trình phát triển, chất lượng nguồn nhân
lực càng cao thì quá trình hình thành và chuyển dòch cơ cấu kinh tế theo
hướng phát triển mạnh mẽ hơn.
1.2. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
:
Khi nghiên cứu vấn đề phát triển các khu công nghiệp Bình Dương, ta
không chỉ tách rời vấn đề tác động của nó trong việc hình thành và phát triển
các vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và các khu công nghiệp quốc gia vì nó
có mối quan hệ hữu cơ trong cơ cấu tổng hợp lãnh thổ cả nước, là một mối quan
hệ tổng hòa vì sự thay đổi của yếu tố này sẽ dẫn đến sự thay đổi yếu tố khác.
1.3. Quan điểm lòch sử – viễn cảnh
:
Quan điểm này được thể hiện rõ nét nhất là khi sự phát triển các khu
công nghiệp và sự phân bố lại vấn đề nhân sự và nguồn lao động, nó là mắt
xích của hệ quả trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Đây là vấn đề đòa lý – lòch sử ta phải nắm bắt những tư liệu quá khứ và
hiện tại sẽ làm rõ được bản chất của vấn đề nghiên cứu. Vì vậy, khi nghiên
cứu nguồn lao động, nếu đứng trên quan điểm lòch sử người nghiên cứu mới
có sự phản ánh khách quan, có cái nhìn sâu sắc mới xác đònh được chính xác
các nguyên nhân, hiện tượng, quá trình phát triển và phân bố lao động theo
thời gian.
1.4. Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
:
phân tích tìm ra hàng loạt những mối quan hệ để tìm ra nguyên nhân và kết
luận hoặc có những dự đoán trong tương lai .
2.5. Phương pháp thực đòa
Đây là phương pháp hết sức cần thiết trong việc nghiên cứu các vấn đề
đòa lý kinh tế –xã hội . Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi đã đến tham
quan thực tế các khu công nghiệp và khu dân cư của tỉnh nhằm thẩm đònh
những tư liệu và nguồn thông tin mà mình thu thập được Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH & PHÁT TRIỂN
CÁC KHU CÔNG NGHIỆP VÀ SỰ PHÂN BỐ NGUỒN LAO ĐỘNG
µ¸
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHU CÔNG NGHIỆP:
1. Khái niệm về khu công nghiệp
:
1.1. Tập trung công nghiệp theo không gian là gì?
Tập trung công nghiệp theo không gian là hình thái tổ chức không gian
công nghiệp khách quan xuất phát từ bản chất hoạt động của ngành, được thể
hiện ở hai mặt: qui mô xí nghiệp ngày càng lớn, mật độ xí nghiệp ngày càng
cao. Quá trình này, ngoài việc tạo ra các loại hình xí nghiệp hiện đại, qui mô
lớn, còn làm xuất hiện hệ thống các không gian công nghiệp với những cấp độ
khác, những phân hóa lãnh thổ mạnh mẽ về qui mô và cường độ kinh tế nói
chung; các dòng chảy sản phẩm cũng trở nên mở rộng, nhanh chóng hơn giữa
các không gian kinh tế - xã hội.
Tổ chức không gian công nghiệp là quá trình lựa chọn vò trí phân bố,
đồng thời thiết lập các mối liên kết kinh tế – xã hội liên ngành, liên vùng và
− Khu công nghiệp là sự kết hợp theo lãnh thổ của những điểm công
nghiệp ở gần nhau, được qui tụ về một hay một vài trung tâm công nghiệp và
bò chi phối bởi các nhân tố phân bố công nghiệp đồng nhất.
− Một đònh nghóa khác cho rằng khu công nghiệp là sự tập hợp theo
lãnh thổ của những điểm công nghiệp, tạo thành sự thống nhất kinh tế và nền
tảng là các ngành công nghiệp lớn có ý nghóa toàn quốc và các ngành phục
vụ có liên quan (Iu. Xautxkin, 1981). 2. Các đònh nghóa và những đặc trưng của khu công nghiệp:
BẢNG 1
:
CÁC THUẬT NGỮ ĐỒNG NGHĨA VỚI KHU CÔNG NGHIỆP
− Industrial Estates
− Industrial Parks
− Industrial Zones
− Industrial Cluster
− Industrial Processing Zones
− Export Processing Zones
− Business Parks
− Science and Research Parks
− High-tech-centers
− Bio-technology Parks
− Eco-industrial Parks
Nguồn: Quản lý môi trường các KCN INFOTERRA. 2000
Hiện nay, phần lớn các tài liệu nghiên cứu về khu công nghiệp ở Việt
Nam đều sử dụng đònh nghóa trích từ qui chế khu công nghiệp, khu chế xuất,
khu công nghiệp cao được ban hành cùng Nghò đònh 36/CP ngày 24/04/1997.
Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp khu công nghiệp chuyên
tế - kỹ thuật với nhau, thống nhất sử dụng hạ tầng sản xuất và hạ tầng xử lý
chất thải (nếu có). Đồng thời phát triển một số hạ tầng xã hội do dân cư
ngày càng gia tăng
(1)
.
3. Phân biệt khu công nghiệp với những không gian công nghiệp khác
:
Quá trình tập trung công nghiệp thường tạo ra những không gian công
nghiệp đặc thù có quy mô, mức độ liên kết và tính đa dạng trong cách khác
nhau. Có thể phân biệt 4 mức độ cơ bản từ thấp đến cao như sau:
BẢNG 2
:
(1)
Các khu công nghiệp, khu chế xuất Việt Nam – Hiệu quả hoạt động và xu hướng phát triển, Thạc só Lê Thò
Hương, tháng 5/2004.
Dải công nghiệp
Trung tâm công nghiệp
Khu công nghiệp
Điểm công nghiệp
3.1. Điểm công nghiệp:
Điểm công nghiệp là mức tập trung thấp nhất trong tổ chức không gian
công nghiệp, bao gồm một vài xí nghiệp liền kề nhau, gắn với một điểm dân
cư, phân bố gần nguyên liệu hoặc thò trường tiêu thụ, không nhất thiết phải có
kinh tế-kỹ thuật, gắn liền với những đô thò vừa và lớn, đa dạng và hiện đại
trong các loại hình dòch vụ. Mỗi trung tâm công nghiệp có thể gồm một số khu
và điểm công nghiệp liền kề nhau, có những xí nghiệp lớn mang tính “hạt
nhân”, tác động đến xung quanh, biểu thò xu hướng chuyên môn hóa nói
chung của toàn trung tâm.
3.4. Dải công nghiệp
:
Dải trong nghiệp là kết quả tập trung cao độ các hoạt động công nghiệp
và dòch vụ trong quá trình công nghiệp hóa, đô thò hóa. Dải công nghiệp
thường bao gồm một số trung tâm công nghiệp, xen kẽ nhiều khu và điểm
công nghiệp liền kề nhau, trong đó có những xí nghiệp quy mô lớn mang tầm
cỡ quốc tế. Dải công nghiệp là hạt nhân tạo ra những thành phố cực lớn, các
chuỗi đô thò (urban agglomeration), hoặc vùng đô thò (urban region), hay khu
vực đô thò (urban area). Qui mô tập trung này hiện nay bộc lộ nhiều vấn đề
phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực cả về kinh tế, xã hội, môi trường, lẫn quốc
phòng; do vậy chính phủ các nước thường khống chế không cho phát triển.
II. TỔNG QUAN CÁC LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN VÀ TỔ CHỨC
KHÔNG GIAN CÔNG NGHIỆP:
Quy luật phát triển và tổ chức không gian các khu công nghiệp không
nằm ngoài quy luật phát triển và tổ chức không gian công nghiệp nói chung.
Trên thế giới, có nhiều lý thuyết về phát triển và tổ chức không gian công
nghiệp; trong đó, một số quan điểm dựa chủ yếu vào những nhân tố khách
quan gắn liền với cơ cấu nguồn lực nội sinh lẫn ngoại tụ của từng vùng, từng
quốc gia và đặc điểm kinh tế-kỹ thuật cụ thể của từng ngành công nghiệp;
những quan điểm còn lại đặt nền tảng vào hành vi của nhà đầu tư.
Mặt khác, không gian công nghiệp là một bộ phận quan trọng của
không gian kinh tế-xã hội, quá trình tổ chức không gian công nghiệp là quá
trình có ảnh hưởng quyết đònh đến toàn bộ quá trình tổ chức không gian kinh
tế-xã hội, nhưng đồng thời cũng chòu tác động từ các quá trình tổ chức không
trí những trung tâm, những hành lang, các bề mặt, trên cơ sở tận dụng cao
nhất các nguồn lực, tạo ra một cơ cấu không gian kinh tế-xã hội tối ưu trong
một giai đoạn phát triển nhất đònh.
Để đảm bảo tính chiến lược, có tầm nhìn sâu rộng và tổng hợp, quá
trình tổ chức không gian kinh tế-xã hội phải được thực hiện một cách trình tự,
có kế thừa và điều chỉnh qua lại giữa các bước sau đây:
− Phân vùng kinh tế: đònh hướng phát triển các ngành kinh tế trong một
cơ cấu có chuyên môn hóa và phát triển tổng hợp trên phạm vi cả nước cũng
như từng vùng (tầm nhìn rộng, lâu dài).
− Lập tổng sơ đồ phát triển và phân bố các ngành, các vùng kinh tế lớn:
thực chất đây là những sơ đồ phát triển và phân bố từng ngành, từng vùng
kinh tế lớn (tầm nhìn lâu dài, bao quát trên toàn vùng lớn, toàn quốc, thậm chí
thế giới nhưng giới hạn ở từng ngành).
− Quy hoạch vùng: tổ chức hợp lý và cụ thể hơn toàn bộ các hoạt động
kinh tế, dân cư, mạng lưới hạ tầng sản xuất và xã hội trên một không gian
không lớn lắm. Quy mô không gian thích hợp cho bước quy hoạch, tức là quy
mô có khả năng đảm bảo cả tính hợp lý nhất lẫn cụ thể nhất của quy hoạch so
với những bước trước, thường phải nhỏ hơn cấp vùng kinh tế lớn và lớn hơn
một đơn vò sản xuất (tầm nhìn sâu, cụ thể, tổng hợp nhiều mặt khác nhau
trong phạm vi không gian hẹp).
2. Lý thuyết vò trí phân bố công nghiệp tối ưu (optimum industry
location theory):
Lý thuyết này thoạt tiên do Alfred Weber (1909) đưa ra, sau đó được
M.L. Greenhut, Isard (1956) và Smith (1981) cải thiện. Lý thuyết vò trí phân
bố công nghiệp tối ưu quan tâm đến hai yếu tố:
− Một là, đặt gần các đầu vào quan trọng như nguyên liệu, nhiên liệu-
năng lượng, lao động, vốn đầu tư và thò trường tiêu thụ sản phẩm (đầu ra).
− Hai là, chi phí mua các đầu vào và phân phối sản phẩm đến thò
trường tiêu thụ phải thấp; trong đó, yếu tố chi phí được xem là quan trọng hơn
ngành công nghiệp:
Nhiều tác giả rất chú trọng đến công nghệ sản xuất của ngành công
nghiệp, đặc biệt là tính liên hệ sản xuất thường xuyên giữa các ngành, tính
liên tục giữa các khâu trong quá trình sản xuất, từ đó có những giải pháp phân
bố đồng thời hàng loạt các ngành công nghiệp phù hợp với nguồn lực của
từng vùng. Chúng tôi xin tổng quan quan điểm này dưới dạng một số lý
thuyết.
4.1. Lý thuyết chu trình động lực - sản xuất hay liên hợp công nghiệp
:
Quan điểm này do N.N. Koloxopxki 9/1947) đề xướng và được nhiều
nhà kinh tế Nga ủng hộ vào những năm 60 – 70. Xuất phát từ đặc điểm công
nghệ sản xuất của các ngành công nghiệp, nhằm đảm bảo mục tiêu hiệu quả
kinh tế gắn liền với sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, tận dụng phế
phụ phẩm, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, các tác giả đã làm rõ những liên
hệ sản xuất giữa các ngành khác nhau trên cơ sở sử dụng một loại tài nguyên
nhất đònh. Chu trình động lực - sản xuất là tập hợp các quá trình sản xuất có
liên quan với nhau, trong đó có nhiều quá trình sản xuất phụ xoay quanh một
quá trình sản xuất chính; dựa trên cơ sở chế biến tổng hợp một loại nguyên
liệu (chủ yếu). Như vậy, khi phân bố các xí nghiệp gần nhau phải theo những
quy đònh chặt chẽ chứ không thể tùy tiện. Đó là những xí nghiệp có liên hệ
mật thiết với nhau về sản xuất, có tác động mạnh mẽ đối với nhau chứ không
chỉ đơn giản là cùng tồn tại trong một phạm vi không gian nào đó. Mặt khác,
sự tồn tại của những xí nghiệp trong chu trình cũng phải phù hợp với cơ cấu
nguồn lực của vùng. Trong các tài liệu về tổ chức không gian công nghiệp ở
Mỹ, Anh, khái niệm liên hợp công nghiệp (industrial complex) đồng nghóa với
khái niệm chu trình động lực - sản xuất. Theo W. Isard, “trước kia liên hợp
công nghiệp được hiểu là tập hợp các hoạt động tồn tại trong một vò trí phân
bố nhất đònh (tức trong một xí nghiệp, gọi là xí nghiệp liên hợp), bao gồm một
loạt các ngành có quan hệ qua lại với nhau về sản xuất, tiếp thò cùng với
W. Isard, Methods of interegional and regional analysis, Ch. 5, pp. 225, 1998
xí nghiệp chuyên môn hóa sâu có xu hướng tách rời về không gian, ngày càng
ít liên hệ nhau, có thể dẫn đến mất cân đối công suất thiết kế, kém đồng bộ
về tiêu chuẩn kỹ thuật, và tăng chi phí vận chuyển các bộ phận, các chi tiết
của thành phẩm. Do đó, chuyên môn hóa sâu phải kèm theo hợp tác hóa rộng.
Hợp tác hóa rộng là quá trình tổ chức những liên hệ sản xuất thường
xuyên giữa các xí nghiệp chuyên sâu, để từ nhiều nguyên liệu khác nhau tạo
ra một loại sản phẩm cuối cùng.
Các xí nghiệp cùng trong một tổ chức hợp tác hóa có thể phân bố gần
nhau (tức tập trung) để thuận lợi cho việc liên kết. Như vậy, một khi đã có
khả năng tạo đòa bàn cho các xí nghiệp công nghiệp được tập trung, thì các xí
nghiệp ấy nên là những xí nghiệp chuyên môn hóa sâu trong một tổ chức hợp
tác hóa hơn là tập trung máy móc các đơn vò sản xuất ít thậm chí không liên
hệ gì với nhau. Điều này ngoài làm tăng hiệu quả tập trung còn tránh được
những tác động bất lợi có thể xảy ra giữa các xí nghiệp có mâu thuẫn về mặt
công nghệ.
Nhưng, tất nhiên, không hẳn toàn bộ các tổ chức hợp tác hóa đều phải
phân bố tập trung các xí nghiệp chuyên sâu của mình. Khi quy mô tập trung
vượt quá giới hạn cho phép của các nguồn lực tại chỗ, khiến chi phí sản xuất
gia tăng, tốt hơn cả nên bố trí các xí nghiệp chuyên sâu phân tán vào những
vùng, thậm chí những quốc gia sẵn có các nguồn lực cần thiết cho đơn vò. Như
vậy, không gian hợp tác giữa các xí nghiệp chuyên sâu có thể mở rộng trên
toàn quốc, thậm chí trên nhiều quốc gia.
5. Lý thuyết tạo cực phát triển
:
Nhà kinh tế học người Pháp Fran{oi Perroux đã đưa ra lý thuyết tạo
cực phát triển vào đầu những năm 50, sau đó được Albert, O. Hirshman,
Gunnar Myrdal, Friedmann tổng hợp lại. Lý thuyết này cho rằng công nghiệp
và dòch vụ có vai trò to lớn trong việc tạo ra cực phát triển, mỗi cực phát triển
Đài Loan có thể vừa tập trung phát triển các ngành công nghiệp kỹ thuật cao,
có sức cạnh tranh mạnh trên thò trường thế giới, vừa tận dụng các nguồn lực đòa
phương, phát triển ổn đònh các ngành công nghiệp chế biến thấp, nhằm tăng tốc
công nghiệp hóa các vùng nông nghiệp.
− Đặc biệt lưu ý đến những điều kiện hạ tầng: giao thông thuận lợi;
điện nước đầy đủ và ổn đònh; thông tin nhanh chóng với giá dễ chấp nhận.
− Chính sách ưu tiên nhất đònh như miễn giảm thuế một số năm, thuế
suất thấp, một số trường hợp được vay vốn ưu đãi. Chẳng hạn thuế thu nhập xí
nghiệp chỉ ở mức 22-25% trong các khu công nghiệp kỹ thuật cao, trong khi ở
Singapore là 40%.
− Chi phí đầu tư hạ tầng trung bình/km
2
và giá thuê nhà xưởng tương
đối thấp (so với Hàn Quốc Quốc, Hồng Kông, Singapore, Thái Lan).
− Các khu chế xuất đều đã bước vào giai đoạn trưởng thành, tỷ lệ nội
đòa hóa ngày càng cao, thông qua hoạt động gia công của các xí nghiệp vệ
tinh ngoài khu chế xuất, những liên kết phía sau, thậm chí liên kết phía trước
với thò trường nội đòa hiện nay cũng được tăng cường.
2. Kinh nghiệm phát triển khu công nghiệp ở Thái Lan
:
Năm 1972, Thái Lan bắt đầu xây dựng các khu công nghiệp, đến nay
(1997) đã có 64 khu đi vào hoạt động. Các khu công nghiệp Thái Lan hiện
vẫn chưa lấp đầy toàn bộ, nhưng trong hơn 30 năm phát triển, các khu công
nghiệp đã góp phần đắc lực giúp Thái Lan nhanh chóng vượt qua thời kỳ đầu
của quá trình công nghiệp hóa, và đang chuẩn bò kết thúc công cuộc công
nghiệp hóa, chuyển mình thành một con rồng thứ hai trong khu vực Đông
Nam Á, sau Singapore.
Đặc trưng phát triển các khu công nghiệp Thái Lan có những điểm đáng
lưu ý sau:
Thái Lan, và tuy diện tích Malaysia nhỏ hơn Thái Lan, nhỏ hơn cả Việt Nam,
nhưng có số lượng khu công nghiệp nhiều nhất trong khu vực Đông Nam Á,
đạt đến 166 khu (1997). Có thể rút ra một số nhận xét trong mô hình phát
triển khu công nghiệp ở Malaysia như sau:
− Malaysia đã mạnh dạn mở ra nhiều khu thương mại tự do (50 khu), có
nhiều ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài. Chẳng hạn, nhà đầu tư được tự
do chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, không bò quốc hữu hóa tài sản, thời hạn
thuê đất kéo dài đến 99 năm.
− Phát triển nhiều doanh nghiệp chế xuất nằm ngoài khu chế xuất. Hình
thức này đã lôi cuốn được nhiều doanh nghiệp trong nước tạo ra nhiều nguồn
hàng xuất khẩu mà không phải tăng đầu tư mở rộng hạ tầng và diện tích các
khu chế xuất.
Có chính sách hỗ trợ vốn tích cực từ phía Nhà nước. Nguồn vốn từ ngân
sách các bang và liên bang chủ yếu dành cho xây dựng cơ sở hạ tầng.
Hầu hết các khu công nghiệp đều có vò trí thích hợp, giao thông thuận
lợi, mặt bằng mở rộng, giá đất không cao, phần lớn nằm ở ngoại vi thành phố
có thể tránh ô nhiễm môi trường cho những trung tâm dân cư đông đúc, mà
vẫn tiếp cận nơi cung cấp lao động.
Quan tâm thích đáng đến hạ tầng xã hội như nhà ở cho người lao động,
chợ, trường học, trạm xá, khu vui chơi; nhất là những điều kiện sinh hoạt cho
chuyên gia nước ngoài.
Bên cạnh những ưu điểm trên đây, Malaysia có cơ chế quản lý các khu
công nghiệp chưa được thích hợp lắm. Bộ máy quản lý các khu công nghiệp
tương đối cồng kềnh, mỗi tiểu bang đều có một ban quản lý riêng nhưng
không được phép giải quyết sự việc, họ chỉ tập hợp các vấn đề rồi kiến nghò
lên ban quản lý trung ương xử lý. Mặc dù các nhà đầu tư chỉ cần tiếp xúc với
Phòng Xúc Tiến được thành lập ở các ban quản lý đòa phương (không phải
liên hệ với tất cả các bộ phận khác nhau), nhưng do không được phân cấp
quyết đònh, phải qua một số khâu trung gian, nên nhiều vụ việc không được
nghóa với lực lượng lao động.
1.2.1. Nguồn lao động
:
− Theo từ điển thuật ngữ trong lónh vực lao động của Liên Xô
(Matxcơva tái bản năm 1997 bản tiếng Nga), nguồn lao động là toàn bộ những
người lao động dưới dạng tích cực (đang tham gia lao động) và tiềm năng (có
khả năng lao động nhưng chưa có tham gia lao động).
− Theo từ điển thuật ngữ Pháp (1977 – 1985 bản tiếng Pháp), nguồn lao
động không gồm những người có khả năng nhưng không có nhu cầu làm việc.