LUẬN VĂN:
Nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện
những quan điểm, biện pháp để
nền kinh tế nước ta
LỜI MỞ ĐẦU
Năm 1986 trở về trước nền kinh tế nước ta là nền kinh tế sản xuất nhỏ, mang
tính tự cung tự cấp vận hành theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Mặt khác do
những sai lầm trong nhận thức về mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế nước
ta ngày càng tụt hậu, khủng hoảng trầm trọng kéo dài, đời sống nhân dân thấp. Muốn
thoát khỏi tình trạng đó con đường duy nhất là phải đổi mới kinh tế.
Sau đại hôị Đảng VI năm 1986 nền kinh tế nước ta chuyển sang một hướng đi
mới :phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa- đó chính là nền kinh tế thị
Kinh tế thị trường là mô hình kinh tế mà ở đó các quan hệ kinh tế
đều được thực hiện trên thị trường, thông qua quá trình trao đổi mua bán. Kinh tế thị
trường là hình thức phát triển cao của kinh tế hàng hoá dựa trên sự phát triển rất cao
của lực lượng sản xuất, trong đó từ sản xuất đến tiêu dùng đều thông qua thị trường –
nghĩa là trong kinh tế thị trường , các yếu tố “đầu vào” (những hàng hoá dịch vụ cần
cho sản xuất) và “đầu ra” (những hàng hoá, dịch vụ cần cho tiêu dùng) đều thông qua
thị trường. Đồng thời trong kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế đều được tiền tệ
hoá. Chính V.I.LêNin đã dùng khái niệm kinh tế tiền tệ để nói đến trình độ phát triển
cao của kinh tế hàng hoá dưới chủ nghĩa tư bản. Kinh tế thị trường là nền kinh tế vận
hành theo cơ chế thị trường. Cơ chế thị trường là tổng thể các nhân tố, các mối quan
hệ, môi trường, động lưc và các quy luật chi phối sự vận động của thị trường. Kinh tế
hàng hoá và kinh tế thị trường có cùng nguồn gốc và bản chất với nhau nhưng khác
nhau về trình độ phát triển.
- Kinh tế thị trường là nền kinh tế mà trong đó người mua và người bán tác động với
nhau theo quy luật cung cầu, giá trị để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, dịch vụ
trên thị trường.
II. Các bước phát triển kinh tế thị trường:
1. Từ kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hoá giản đơn:
khích xã hội phân bố lại các nguồn lực để phản ánh được sự khan hiếm đã tăng lên
của một loại hàng hóa nào đó.
Thị trường mà nhà nước không can thiệp vào gọi là thị trường tự do. Các cá
nhân trên thị trường tự do theo đuổi quyền lợi của riêng mình bằng cách cố gắng làm
càng nhiều cho mình càng tốt tùy theo khả năng của mình, không có ai trợ giúp hoặc
can thiệp của Chính phủ. Với những động cơ cá nhân như vậy, nhưng chính điều đó
đã làm cho xã hội khá giả lên bằng cách tạo ra những việc làm và những cơ hội mới.
Chính vì vậy, mà đường giới hạn khả năng sản xuất dịch ra xa hơn.
3. Từ kinh tế thị trường tự do lên kinh tế hỗn hợp:
Thị trường tự do cho phép các cá nhân theo đuổi lợi ích riêng của mình mà không có
sự can thiệp khống chế nào của Chính phủ. Kinh tế mệnh lệnh để cho tự do cá nhân
về kinh tế một phạm vi rất hẹp, vì hầu hết các quyết định đều do Chính phủ đưa ra.
Giữa hai thái cực đó là khu vực kinh tế hỗn hợp.
Trong một nền kinh tế hỗn hợp, khu vực nhà nước và khu vực tư nhân tương tác với
nhau trong việc giải quyết các vấn đề cơ bản của nền kinh tế. Chính phủ kiểm soát
một phần đáng kể của sản lượng thông qua việc đánh thuế, thanh toán chuyển giao
cung cấp các hàng hóa và dịch vụ như lực lượng vũ trang, cảnh sát. Chính phủ cũng
điều tiết mức độ theo đuổi lợi ích cá nhân.
Trong cơ chế hỗn hợp, Chính phủ cũng có thể đóng vai trò là nhà sản xuất các hàng
hóa tư nhân thông qua các doanh nghiệp có vốn chi phối của nhà nước. Phần 2 : Sự hình thành, phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam
I. Sự cần thiết khách quan phải chuyển đổi - Cơ sở thực tiễn - Cơ sở lý luận:
1. Cơ chế cũ và hạn chế của nó - Cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu,
bao cấp
- Thứ nhất, Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính
phát triển trong quỹ đạo bị lệ thuộc và bị bóc lột theo quan hệ “trung tâm – ngoại vi”.
Có thể nói, nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa toàn cầu ngày nay là sự thống trị
của một số ít nước lớn hay một số tập đoàn xuyên quốc gia đối với đa số các nước
nghèo, làm tăng thêm mâu thuẫn giữa các nước giàu và các nước nghèo.
Chính vì thế mà, như C.Mác đã phân tích và dự báo, chủ nghĩa tư bản tất yếu phải
nhường chỗ cho một phương thức sản xuất và chế độ mới văn minh hơn, nhân đạo
hơn. nghiệp.
Đây là tất yếu khách quan, là quy luật phát triển của xã hội. Nhân loại muốn tiến
lên, xã hội muốn phát triển thì dứt khoát không thể dừng lại ở kinh tế thị trường
tư bản chủ nghĩa.
3. Thực tế suốt hơn 70 năm tồn tại, chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô đã đạt
được nhiều thành tựu vĩ đại, làm thay đổi hẳn bộ mặt của đất nước và đời sống của
nhân dân Liên Xô. Nhưng có lẽ do nôn nóng, làm trái quy luật (muốn xóa bỏ ngay
kinh tế hàng hóa, áp dụng ngay cơ chế kinh tế phi thị trường), không năng động, kịp
thời điều chỉnh khi cần thiết cho nên rút cuộc đã không thành công.
4. Chủ trương phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định
hướng xã hội chủ nghĩa:
a) Tư duy của Đảng về nền kinh tế thị trường từ đại hội VI đến đại hội VIII :
Kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của chủ nghỉa tư bản mà là
thành tựu phát triển chung của nhân loại.
- Trong một nền kinh tế khi hàng hóa được phân bổ theo nguyên tắc thị trường thì
được gọi là nền kinh tế thị trường.
- Kinh tế thị trường đã có mầm mống từ trong xã hội nô lệ hình thành trong xã hội
phong kiến và phát triển cao trong xã hội tư bản chủ nghĩa.
- Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa phát triển cao đạt đến trình độ thị trường trở
thành yếu tố quyết định sự tồn tại của người sản xuất hàng hóa. Kinh tế thị trường lấy
trường có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của kinh tế xã hội.
b) Tư tưởng của Đảng về kinh tế thị trường từ đại hội IX đến đại hội X:
- Đại hội XI xác định nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình
kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền
kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Đại hội XI xác định kinh tế thị trường định hướng chủ nghĩa xã hội là kiểu tổ chức
kinh tế vừa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và chịu sự dẫn
dắt chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội.
- Đại hội X kế thừa đại hội IX đã làm sáng tỏ thêm nội dung cơ bản của chủ nghĩa xã
hội trong phát triển kinh tế thị trường ở nước ta thể hiện:
Về mục đích phát triển: Thực hiện dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân
chủ văn minh, giải phóng lực lượng sản xuất và không ngừng nâng cao đời sống nhân
dân đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính
đáng. Mục tiêu vì con người giải phóng lực lượng sản xuất phát triển kinh tế để nâng
cao đời sống cho mọi người, mọi người đều được hưởng những thành quả phát triển.
Về phương hướng phát triển: Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với kinh
tế nhà nước giưc vai trò chủ đạo và nền kinh tế phải dựa trên nền tảng của sở hữu toàn
dân về các tư liệu sản xuất chủ yếu.
Về định hướng xã hội và phân phối : Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, hạn chế tiêu cực trong nền kinh tế
thị trường. Thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế và
phúc lợi xã hội.
Về quản lý: Phát huy vai trò của nhân dân đảm bảo vai trò quản lý của nhà
nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.
II. Quá trình hình thành kinh tế thị trường ở nước ta :
giải quyết được một số vấn đề kinh tế - xã hội quan trọng nhất là việc huy động nhân
tài, vật lực phục vụ cho cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, giải phóng Miền nam,
thống nhất đất nước.
- Nhưng khi đất nước được hoà bình, thống nhất và bước vào thời kỳ xây dựng,
phát triển kinh tế thì cơ chế quản lý này bộc lộ nhược điểm cơ bản là nó thiếu động
lực cho sự phát triển.
- Trên thực tế, kinh tế hàng hoá vẫn được thừa nhận, quan hệ hàng hoá tiền tệ
được thừa nhận nhưng thực chất đó chỉ là kinh tế hàng hoá một thành phần - thành
phần xã hội chủ nghĩa, dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất dưới hình thức:
toàn dân và tập thể.
2. Sau năm 1986 :
- Đó là thời kỳ đổi mới toàn diện Mô hình kinh tế thông qua nghị quyết của các
đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ Vi, VII, VIII. Mô hình kinh tế bị xoá bỏ, mô hình
kinh tế mới được xây dựng phù hợp với quy luật kinh tế khách quan, với trình độ phát
triển nền kinh tế.
- Trong thời kỳ này, đã diễn ra sự biến đổi cơ bản trong mô hình kinh tế, từ mô
hình quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội sang mô hình quá độ gián tiếp, tức là
chuyển sang mô hình kinh tế lấy sản xuất và trao đổi hàng hoá trong nền kinh tế nhiều
thành phần ở một nước kém phát triển về kinh tế làm nội dung cốt lõi. Đây là mô hình
kinh tế được xây dựng trên cơ sở tổng kết thực tiễn chủ nghĩa xã hội của nước ta, vận
dụng một cách có phát triển sang tạo những quan điểm cơ bản của Lênin về “chính
sách kinh tế mới” vào những điều kiện lịch sử ở nước ta và thế giới ngày nay, đặc biệt
khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ.
- Thực hiện mô hình kinh tế mới nhằm mục tiêu căn bản, cấp thiết là tăng nhanh
lực lượng sản xuất, từng bước cải thiện đời sống nhân dân, tạo cơ sở vật chất và xã
hội hoá từng bước nền sản xuất xã hội.
cuả các nước khác. Tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường ở
nước ta đã quy định kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế
nhiều thành phần. Bởi lẽ, mỗi một chế độ xã hội đều có một cơ sở kinh tế tương ứng
với nó, kinh tế nhà nước, nói đúng ra kinh tế dựa trên chế độ công hữu bao gồm kinh
tế nhà nước và kinh tế hợp tác, tạo cơ sở kinh tế cho chế độ xã hội mới – xã hội chủ
nghĩa.
2. Về quan hệ phân phối:
Nước ta thực hiện nhiều hình thức phân phối thu nhập: phân phối theo kết qủa lao
động và hiệu quả kinh tế, phân phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực và sản
xuất kinh doanh, và phân phối thông qua các quỹ phúc lợi xã hội,trong đó phân phối
theo kết quả lao động giữ vai trò nòng cốt, đi đôi với chính sách điều tiết thu nhập
một cách hợp lí
Như đã biết, mỗi chế độ xã hội có một chế độ phân phối tương ứng với nó. Chế độ
phân phối do quan hệ sản xuất thống trị, trước hết là quan hệ sở hữu quyết định. Phân
phối có liên quan đến chế độ chính trị, xã hội. Chủ nghĩa xã hội có đặc trưng riêng về
sở hữu do đó chế độ phân phối cũng có đặc trưng riêng, phân phối theo lao động là
đặc trưng riêng của chủ nghĩa xã hội.
Mà thu nhập của người lao động không phải chỉ giới han ở giá trị sức lao động, mà nó
phải vượt qua đại lượng đó, nó phụ thuộc chủ yếu vào kết quả lao động và hiệu quả
kinh tế. Việc đo lường trực tiếp lao động là một vấn đề quá phức tạp và kho khăn,
nhưng trong nền kinh tế thị trường, có thể thong qua thị trường để đánh giá kết quả
lao động, sự cống hiến thực tế và dựa vào đó để phân phối. Kết hợp vấn đề lợi nhuận
với vấn đề xã hội, kết hợp chặt chẽ những nguyên tắc phân phối của chủ nghĩa xã hội
và nguyên tắc của kinh tế thị trường.
3. Cơ chế quản lý - vận hành nền kinh tế:
- Một vấn đề quan trọng nước ta quản lý nền kinh tế - xã hội theo nguyên tắc kết
hợp thị trường với kế hoạch, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục mặt tiêu cực
của cơ chế thị trường, bảo về lợi ích của người lao động và của toàn thể nhân dân.
IV. Thực trạng nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay :
1. Một số thành tựu đạt được:
Từ những nhận định đúng đắn về KTTT định hướng XHCN Đảng và nhà nước ta đã
có những bước đi đúng đắn, đề ra những chính sách phù hợp, chúng ta đã đạt được
những thành tựu bước đầu, là bằng chứng xác thực nhất cho sự lựa chọn đúng đắn của
Đảng và Nhà nước ta, có tác dụng khích lệ to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
đất nước trong tình hinh thế giới đang diễn biến phức tạp.
Kinh tế tăng trưởng khá, văn hoá xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân đang
từng bước được cải thiện, tình hình chính trị- xã hội cơ bản ổn định, hệ thống chính trị
được củng cố, quan hệ đối ngoại không ngừng được mở rộng, hội nhập kinh tế quốc
tế được tiến hành chủ động và đạt được nhiều kết quả khả quan.
Cụ thể, thông qua việc thực hiện các chiến lược 10 năm(1991- 2000) chúng ta đã đạt
được những thành tựu quan trọng:
- Đất nước đã thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế- xã hội, tổng sản phẩm tăng 2,07
lần, tích luỹ nội bộ của nền kinh tế đã đạt 27% GDP, nền kinh tế từ tình trạng hàng
hoá khan hiếm, nay sản xuất đã đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu của nhân dân và
nền kinh tế, tăng xuất khẩu và có dự trữ, kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội phát triển
nhanh, có sự chuyển dịch về cơ cấu nền kinh tế: tỷ trọng nông nghiệp giảm( từ 38,7%
xuống còn 24,3% GDP) công nghiệp, xây dựng tăng (từ 22,7 % đến 36,6 % GDP),
dịch vụ cũng tăng (từ 38,6 % lên 39,1%).
- Quan hệ sản xuất đang từng bước phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang dần hình thành. Vai trò
chủ đạo của kinh tế nhà nước đang ngày càng phát huy vai trò chủ đạo nền kinh tế của
mình.
- Quan hệ đối ngoại cũng ngày càng mở rộng góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng
tư kinh doanh.
Những yếu kém kể trên một phần là do nhiều nguyên nhân, trước hết:
- Điều kiện khách quan: nước ta chịu hậu quả nặng nề của nhiều năm có chiến
tranh trước đó làm cho nền kinh tế bị tàn phá nặng nề mà không chỉ trong một thời
gian ngắn có thể khôi phục được.
- Tuy nhiên nguyên nhan chính là do những hậu quả của cơ chế cũ để lại, mà
khuyết điểm lớn thuộc về công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành, những quan nhiệm
giản đơn trong việc bố trí cơ cấu kinh tế , cơ cấu đầu tư, cho đến việc duy ý chí trong
việc hoạch định chính sách kinh tế, đặt ý chí chủ quan vào đời sống kinh tế - xã hội
không phù hợp với lợi ích quần chúng.
- Mặt khác phải thừa nhận một thực tế đây là một sự chuyển đổi khá phức tạp,
do đó không tránh khỏi thời kỳ đầu phải chấp nhận tình trạng thị trường thiếu, rối
loạn, tiêu cực trongkhi các nhân tố có sứ mệnh tạo ra trật tự là hệ thống ngân hàng, tài
chính, bộ máy nhà nước, doanh nghiệp lớn còn đang ở bước thích nghi.
V . Giải pháp phát triển kinh tế thị trường nước ta hiện nay :
1. Đẩy mạnh quá trình phân công và phân công lại lao động ở nước ta
- Phân công lao động xã hội là của sản xuất hàng hoá, của phát triển kinh tế thị
trường. Vì vậy quá trình phát triển kinh tế thị trường ở nước ta đòi hỏi phải đẩy mạnh
phân công và phân công lại lao động xã hội.
- Ở nước ta, đẩy mạnh phân công lại lao động xã hội cũng đồng nghĩa với quá
trình đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hoá đất nước. Trong bối cảnh thế giới hiện
đại, công nghiệp hoá ở nước ta phải kết hợp chặt chẽ hai chiến lược công nghiệp hoá
theo hướng xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu. Để thực hiện chiến lược này, cần
phải phân công lại lao động để phát triển những ngành, những lĩnh vực mà đất nước
có lợi thế so sánh trong việc sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu. Trước mắt đó là các ngành:
nông nghiệp, công nghiệp dệt may, công nghiệp chế biến nông, lâm, hải sản, công
nghiệp lắp ráp, điện tử và một số lĩnh vực khác. Thông qua việc phát triển và xuất
trung trong các lĩnh vực công nghiệp điện tử và tin học, công nghiệp sinh học, công
nghiệp chế tạo và gia công vật liệu nhất là nguồn vật liệu trong nước. Chú trọng đúng
mức các hoạt động nghiên cứu khoa học cơ bản.
- Tăng đầu tư bằng nhiều nguồn vốn cho việc nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng
đội ngũ cán bộ khoa học, phát triển giáo dục và đào tạo, có cơ chế bồi dưỡng và bảo
vệ nhân tài.
4. Kinh tế đối ngoại
- Thu hút ngày càng nhiều vốn và công nghệ hiện đại của các nước thông qua
vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp
- Quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng đa dạng hoá, đa phương hoá để tránh lệ
thuộc, nhưng cần ưu tiên cho khu vực Châu á Thái Bình Dương.
- Sử dụng có hiệu quả lợi thế so sánh trong xuất nhập khẩu, trong phân công và
hợp tác quốc tế về lao động.
- Coi trọng việc đào tạo người có năng lực và bản lĩnh để sử dụng có hiệu quả
vốn nước ngoài, để nhận chuyển giao công nghệ mới của nước ngoài không mắc
những sai lầm đáng tiếc có thể xẩy ra.
- Phát triển thị trường ngoài nước, đẩy mạnh hoạt động ngoại thương: phải thực
hiện xuất siêu. muốn vậy cần phải xuất thành phẩm chứ không xuất nguyên liệu.
Khuyến khích phát triển công nghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, chế biến
đảm bảo tiêu chuẩn quốc tế để thu hút được giá trị cao cho hàng xuất khẩu cho chính
sách bảo hộ hợp lý để khuyến khích các ngành kinh tế trong nước phát triển thu hút
công nghệ - khoa học kỹ thuật từ bên ngoài; ngăn chặn nhập những hàng hoá mà
trong nước có thể sản xuất và đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng.
5. Hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường
- Đối với thị trường hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ: Phải tăng quy mô tiêu dùng
và dịch vụ với chủng loại ngày càng phong phú và chất lượng ngày càng nâng cao.
Việc phát triển thị trường hàng tiêu dùng và dịch vụ đòi hỏi phải tăng dung lượng thị
trong sự gắn bó với chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, gắn bó với quy
hoạch tổng thể và phân bố lực lượng sản xuất lấy kinh tế thị trường làm đối tượng để
kế hoạch hoá vĩ mô thông qua hệ thống chi tiêu cân đối lớn định hướng trong từng
thời kì
- Tổ chức tốt thông tin và dự báo tình hình trong nước và thế giới về các mặt có
liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh cho các chủ thể doanh nghiệp
- Nhà nước thực hiện chính sách tài chính quốc gia: Xây dựng một chính sách tài
chính quốc gia lành mạnh, trên cơ sở thu đúng và chi đúng, trên cơ sở thu đủ và chi
đủ, chống thất thu dưới mọi hình thức. Khắc phục có hiệu quả những lãng phí, tệ tham
nhũng mang tính phổ biến và trầm trọng hiện nay.
- Khắc phục tình trạng bội chi tiến tới thực hiện một ngân sách thăng bằng thu
chi và có dư cho tài khoá sau
- Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia: Ngân hàng trung ương trên cơ
sở thực hiện tốt việc điều hoà lưu thông tiền, khống chế và kiềm toả lượng tiền phát
hành góp phần ổn định kinh tế, giá cả, khống chế và kiềm toả lạm phát ở mức bình
thường, đề phòng và ngăn chặn những hiện tượng tái phát. Củng cố sức mua của đồng
tiền Việt Nam, để có thể trở thành đồng tiền có khả năng chuyển đổi. Phân định rõ
chức năng quản lý vĩ mô của nhà nước và chức năng sản xuất kinh doanh. Đầu tư và
phát triển nhanh thị trường chứng khoán
- Đối với các doanh nghiệp Nhà nước thì Nhà nước phải chi phối và hướng hoạt
động của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đi theo định hướng đã xác
định. Nắm các ngành thuộc kết cấu hạ tầng dịch vụ sản xuất kinh doanh. Đối với
ngành kinh tế phải nắm những mặt hàng thuộc quốc kế dân sinh, mang tính công
cộng. Phân biệt doanh nghiệp nhà nước với sở hữu hỗn hợp của các doanh nghiệp liên
doanh, liên kết, công ty cổ phần. Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm căn cứ đánh giá và
tổ chức lại các doanh nghiệp nhà nước
- Tăng cường dự trữ quốc gia và tạo một ngân sách và kho bạc Nhà nước lành
ra. Kết quả cụ thể của cuộc đấu tranh này là thước đo bản lĩnh, trình độ và năng lực
quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
8. Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản.
- Đây là vấn đề có tính nguyên tắc và là nhân tố quyết định nhất bảo đảm định
hướng xã hội chủ nghĩa của kinh tế thị trường, cũng như toàn bộ sự nghiệp phát triển
của đất nước. Đây cũng là một trong những bài học lớn nhất được rút ra trong những
năm đổi mới.
- Càng đi vào kinh tế thị trường, thực hiện dân chủ hóa xã hội, mở rộng hợp tác
quốc tế càng phải tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Thực tế ở
một số nước cho thấy, chỉ cần một chút mơ hồ, buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng là
lập tức tạo điều kiện cho các thế lực thù địch dấn tới phá rã sự lãnh đạo của Đảng,
cướp chính quyền, đưa đất nước đi con đường khác.
- Hiện nay, có ý kiến cho rằng, đã chuyển sang kinh tế thị trường – tức là nền
kinh tế vận động theo quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh… thì
không cần phải có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Sự lãnh đạo của Đảng nhiều khi
cản trở, làm “vướng chân” sự vận hành của kinh tế. Ý kiến này không đúng và thậm
chí rất sai lầm. Bởi vì như trên đã nói, Việt Nam chủ trương phát triển kinh tế thị
trường nhưng không phải để cho nó vận động một cách tự phát, mù quáng mà phải có
lãnh đạo, hướng dẫn, điều tiết, phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực, vì lợi ích
của đại đa số nhân dân, vì một xã hội công bằng và văn minh. Người có khả năng và
điều kiện làm được việc đó không thể ai khác ngoài Đảng Cộng sản – là đảng phấn
đấu cho mục tiêu lý tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, thật sự đại diện và
bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
- Đảng lãnh đạo có nghĩa là Đảng đề ra đường lối, chiến lược phát triển của đất
nước nói chung, của lĩnh vực kinh tế nói riêng, bảo đảm tính chính trị, tính định
hướng đúng đắn trong sự phát triển kinh tế, làm cho kinh tế chẳng những có tốc độ
tăng trưởng và năng suất lao động cao, có lực lượng sản xuất không ngừng lớn mạnh
quan liêu, tham nhũng, v.v
Với phương châm “Hãy bắt tay vào hành động, thực tiễn sẽ cho câu trả lời”, hy vọng
rằng từng bước, từng bước, thực tiễn sẽ làm sáng tỏ được các vấn đề nêu trên, góp
phần làm phong phú thêm lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội phù hợp với điều kiện Việt Nam trong thời đại ngày nay. MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
Phần 1: Những vấn đề lý luận chung về nền kinh tế thị trường 3
I. Kinh tế thị trường: 3
II. Các bước phát triển kinh tế thị trường: 4
1. Từ kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hoá giản đơn: 4
2. Từ kinh tế hàng hoá giản đơn lên kinh tế thị trường tự do: 4
3. Từ kinh tế thị trường tự do lên kinh tế hỗn hợp: 5
Phần 2 : Sự hình thành, phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam 5
I. Sự cần thiết khách quan phải chuyển đổi - Cơ sở thực tiễn - Cơ sở lý luận: 5
1. Cơ chế cũ và hạn chế của nó - Cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu,
bao cấp 5
2. Những mặt trái của kiểu tổ chức kinh tế chủ nghĩa tư bản: 6
4. Chủ trương phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định
hướng xã hội chủ nghĩa: 7
II. Quá trình hình thành kinh tế thị trường ở nước ta : 9
1. Trước năm 1986 : 9
2. Sau năm 1986 : 10
III. Đặc trưng của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam: 11