Giáo viên HD: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ QUỐC TẾ
~~~~~~*~~~~~~
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
CUỐI KHÓA
Đề tài:
QUẢN LÝ RỦI RO TỶ GIÁ TẠI VPBANK – CHI NHÁNH ĐÔNG ANH
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS NGUYỄN THƯỜNG LẠNG
Sinh viên : TRẦN QUANG NGUYÊN
Mã sinh viên : CQ482061
Lớp : KINH TẾ QUỐC TẾ 48B
HÀ NỘI - 2010
SV: Trần Quang Nguyên Lớp: Kinh tế quốc tế 48B
1
Giáo viên HD: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là Trần Quang Nguyên, sinh viên lớp Kinh tế quốc tế 48B, Khoa Thương
mại và Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế quốc dân.
Tôi xin cam đoan chuyên đề thực tập cuối khóa “Quản lý rủi ro tỷ giá VPBank –
chi nhánh Đông Anh.” là do tôi tự viết dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thường
Lạng và sự giúp đỡ của các anh chị tại Ngân hàng TMCP các Doanh nghiệp Ngoài quốc
doanh Việt Nam – chi nhánh Đông Anh chứ không sao chép từ bất kỳ nguồn nào khác.
Các dữ liệu được sử dụng trong chuyên đề đều trung thực và có trích dẫn nguồn cụ thể.
Tôi xin chấp nhận mọi hình thức xử lý của trường và khoa nếu có vi phạm những
điều đã cam kết ở trên.
Hà Nội, ngày 04 tháng 05 năm 2010
Sinh viên thực hiện
Trần Quang Nguyên
SV: Trần Quang Nguyên Lớp: Kinh tế quốc tế 48B
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế
thế giới đã làm nổi bật hơn những tồn tại, thách thức và rủi ro mà các NHTM Việt Nam
cần tập trung giải quyết trong tương lai gần.
Tồn tại cơ bản của các NHTM Việt Nam là năng lực cạnh tranh yếu và rất dễ bị tổn
thương từ những biến động hay những cú sốc bất lợi ở trong nước hoặc ngoài nước. Do
năng lực tài chính yếu, trình độ và kinh nghiệm quản lý còn hạn chế (quản trị ngân
hàng, quản trị kinh doanh và quản lý rủi ro, trình độ công nghệ ngân hàng, mức độ áp
dụng công nghệ thông tin trong hoạt động ngân hàng và tính chuyên nghiệp trong hoạt
động ngân hàng chưa cao.
Những thách thức mà các NHTM Việt Nam phải vượt qua là: sức ép cạnh tranh gia
tăng do việc nới lỏng, dỡ bỏ những hạn chế đối với các ngân hàng nước ngoài trong
việc tiếp cận, gia nhập thị trường; sức ép ngày càng tăng từ phía các cổ đông về kỳ vọng
tăng trưởng tài sản có, lợi nhuận, cổ tức…
Các quy định của NHNN về đảm bảo an toàn hoạt động ngày càng cao và sát hơn
với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế; nhu cầu của khách hàng về dịch vụ ngân hàng
ngày càng đa dạng, yêu cầu về tiện ích, chất lượng dịch vụ ngày càng cao và với chi phí
hợp lý.
Sự thiếu hụt nguồn nhân lực có kỹ năng và kinh nghiệm, môi trường hoạt động
ngân hàng thay đổi nhanh và còn chứa đựng các yếu tố khó dự báo, đo lường.
Chấp nhận rủi ro là trung tâm của hoạt động ngân hàng. Các ngân hàng cần phải
đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro – lợi ích nhằm tìm ra những
cơ hội có lợi ích xứng đáng với mức rủi ro chấp nhận.
Trong số các loại rủi ro ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh ngân hàng thì rủi ro
hoạt động là loại rủi ro bao trùm, và trong đó không thể không nói đến rủi ro về tỷ giá.
Đây là loại rủi ro do không kịp thời ban hành các quyết định hoặc có không đầy đủ các
SV: Trần Quang Nguyên Lớp: Kinh tế quốc tế 48B
4
Giáo viên HD: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng
quy trình hoạt động phòng chống rủi ro tỷ giá và các thủ tục tác nghiệp, do thiếu cán bộ
có đủ trình độ, kinh nghiệm, đạo đức.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp ngày 12 tháng 8 năm 1993 với thời gian hoạt động 99
năm. Ngân hàng bắt đầu hoạt động từ ngày 04 tháng 9 năm 1993 theo Giấy phép thành lập
số 1535/QĐ-UB ngày 04 tháng 09 năm 1993.
Các chức năng hoạt động chủ yếu của VPBank bao gồm: Huy động vốn ngắn hạn,
trung hạn và dài hạn, từ các tổ chức kinh tế và dân cư; Cho vay vốn ngắn hạn, trung hạn và
dài hạn đối với các tổ chức kinh tế và dân cư từ khả năng nguồn vốn của ngân hàng; Kinh
doanh ngoại hối; chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và các chứng từ có giá khác; Cung cấp
các dịch vụ giao dịch giữa các khách hàng và các dịch vụ ngân hàng khác theo quy định của
NHNN Việt Nam.
Vốn điều lệ ban đầu khi mới thành lập là 20 tỷ VND. Sau đó, do nhu cầu phát triển,
theo thời gian VPBank đã nhiều lần tăng vốn điều lệ. Đến tháng 8/2006, vốn điều lệ của
VPBank đạt 500 tỷ đồng. Tháng 9/2006, VPBank nhận được chấp thuận của NHNN cho
phép bán 10% vốn cổ phần cho cổ đông chiến lược nước ngoài là Ngân hàng OCBC - một
Ngân hàng lớn nhất Singapore, theo đó vốn điều lệ sẽ được nâng lên trên 750 tỷ đồng. Tiếp
theo, đến cuối năm 2006, vốn điều lệ của VPBank sẽ tăng lên trên 1.000 tỷ đồng. Và hiện
nay vốn điều lệ của VPBank đã tăng lên 1.500 tỷ đồng vào tháng 7/2007.
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, VPBank luôn chú ý đến việc mở rộng
quy mô, tăng cường mạng lưới hoạt động tại các thành phố lớn. Cuối năm 1993, Thống đốc
NHNN chấp thuận cho VPBank mở Chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 11/1994,
SV: Trần Quang Nguyên Lớp: Kinh tế quốc tế 48B
6
Giáo viên HD: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng
VPBank được phép mở thêm Chi nhánh Hải Phòng và tháng 7/1995, được mở thêm Chi
nhánh Đà Nẵng. Trong năm 2004, NHNN đã có văn bản chấp thuận cho VPBank được mở
thêm 3 Chi nhánh mới đó là Chi nhánh Hà Nội trên cơ sở tách bộ phận trực tiếp kinh doanh
trên địa bàn Hà Nội ra khỏi Hội sở; Chi nhánh Huế; Chi nhánh Sài Gòn. Trong năm 2005,
VPBank tiếp tục được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận cho mở thêm một số Chi nhánh
nữa đó là Chi nhánh Cần Thơ; Chi nhánh Quảng Ninh; Chi nhánh Vĩnh Phúc; Chi nhánh
Thanh Xuân; Chi nhánh Thăng Long; Chi nhánh Tân Phú; Chi nhánh Cầu Giấy; Chi nhánh
Bắc Giang. Cũng trong năm 2005, NHNN đã chấp thuận cho VPBank được nâng cấp một
trên đại học.
Nhận thức được chất lượng đội ngũ nhân viên chính là sức mạnh của ngân hàng.
Chính vì vậy, những năm vừa qua VPBank luôn quan tâm nâng cao chất lượng công tác
quản trị nhân sự. VPBank thường xuyên tổ chức các khoá đào tạo trong và ngoài nước
nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ cho nhân viên.
Đại hội cổ đông năm 2005 được tổ chức vào cuối tháng 3/2006, một lần nữa, VPBank
khẳng định kiên trì thực hiện chiến lược ngân hàng bán lẻ. Phấn đấu trong một vài năm tới
trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu khu vực phía Bắc và nằm trong nhóm 5 Ngân hàng
dẫn đầu các Ngân hàng TMCP trong cả nước.
1.2 Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của VPBank
Trong những năm vừa qua, VPBank đã rất nỗ lực để nâng cao vị trí mình trong hệ
thống các Ngân hàng TMCP, cụ thể VPbank đã đạt được một số thành tựu sau:
1.2.1 Về huy động vốn của VPBank
Quy mô huy động vốn của VPBank tăng trưởng cao và ổn định, tương ứng với tốc
độ tăng tài sản có.
Trong giai đoạn 2005 – 2007, đặc biệt giai đoạn từ đầu năm 2008 đến nay, thị
trường tiền tệ có nhiều biến động về lãi suất trong nước và trên thị trường quốc tế, tình
hình lạm phát, cạnh tranh về huy động vốn giữa các Tổ chức tín dụng trong nước gây
ảnh hưởng đến công tác huy động vốn của các Ngân hàng. Trước các biến động về giá
huy động trên thị trường, VPBank đã chủ động áp dụng những chính sách lãi suất linh
SV: Trần Quang Nguyên Lớp: Kinh tế quốc tế 48B
8
Giáo viên HD: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng
hoạt trên cơ sở cung – cầu vốn thị trường, tích cực cải thiện chênh lệch giữa lãi suất cho
vay – huy động và chênh lệch lãi suất giữa các chi nhánh. Các biện pháp chủ động và
linh hoạt trong điều chỉnh lãi suất đối với cá nhân, doanh nghiệp về cả VND và ngoại tệ
đã góp phần giảm thiểu tác động thị trường đối với việc huy động vốn, nâng cao hệ số
sử dụng vốn, chất lượng quản trị vốn sau cùng là hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Để đạt được những thành tựu trên, có một nguyên nhân chủ yếu là VPBank đã
không ngừng nâng cao vốn chủ sở hữu, tăng tổng tài sản một cách mạnh mẽ.
1,8
64
3,0
14
5,03
1
13,3
24
13,6
09
15,67
9
(Nguồn: Phòng Nghiên Cứu Phát Triển VPBank)
Qua những con số ở bảng 1.1, ta thấy, từ năm 2004 đến năm 2009 quy mô tài sản tăng lên
674%, trong đó có sự tăng lên tương xứng của Vốn chủ sở hữu. Điều này tạo ra những lợi thế trong
cạnh tranh của VPBank với các NHTM khác như về chi phí, uy tín… Chính vì vậy, dư nợ tín dụng
cũng tăng lên mạnh mẽ, đã làm cho lợi nhuận trước thuế tăng từ 43 tỷ đồng năm 2003 lên 382 tỷ
đồng năm 2009. Lợi nhuận của ngân hàng không ngừng thay đổi và chứng tỏ một quy mô sử dụng
vốn và quản lý vốn ngày càng hiệu quả.
SV: Trần Quang Nguyên Lớp: Kinh tế quốc tế 48B
9
Giáo viên HD: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng
VPBank liên tục đạt những kết quả hoạt động kinh doanh đáng khích lệ. Tổng lợi
nhuận trước thuế và sau dự phòng rủi ro của toàn hệ thống VPBank tăng 382 tỷ đồng so
với năm 2008.
Lợi nhuận sau thuế/Vốn điều lệ bình quân (ROE) là: 11.93% ; Lợi nhuận sau thuế/
Tổng tài sản bình quân (ROA) là: 0.9%.
Sự phân tích trên đã chứng tỏ VPBank là một ngân hàng đang vươn lên mạnh mẽ và
năng động, tích cực hội nhập và khẳng định thương hiệu của mình trên thị trường ngân
hàng.
Trong 5 tháng đầu năm, tỷ giá ngoại tệ trên thị trường đặc biệt là USD cũng có
nhiều biến động, nguồn ngoại tệ mua bán khan hiếm, tuy nhiên ngân hàng vẫn luôn cố
gắng khai thác các nguồn ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng để đáp ứng đủ nhu cầu
ngoại tệ của các khách hàng xuất nhập khẩu tại VPBank.
1.2.4 Hoạt động của các công ty con trực thuộc VPBank
VPBank có 2 công ty trực thuộc (sở hữu 100% vốn) là AMC và Công ty chứng
khoán.
- Công ty Quản lý tài sản VPBank (AMC) tiếp tục triển khai các dự án bất động
sản hiện tại (Fideco, Bình Tân – Sakico 362 Phố Huế, Dự án Hòa Bình – Đầm Sen...),
phối hợp với các chi nhánh VPBank triển khai các văn phòng trụ sở, thẩm tra hồ sơ thiết
kế, hồ sơ thanh quyết toán XDCB tại các Chi nhánh, đơn vị trực thuộc...
- Công ty Chứng khoán VPBank, với sự hồi phục dần của thị trường chứng khoán,
giao dịch của thị trường trong tháng 5/2009 đã diễn ra sôi động với xu hướng tăng điểm
mạnh mẽ, hoạt động của công ty trong tháng 5/2009 cũng diễn ra hết sức sôi động.
Trong tháng số lượng tài khoản mở mới đạt 146 tài khoản, lũy kế đạt 4.880 tài khoản.
Tổng giá trị giao dịch chứng khoán niêm yết toàn công ty đạt 530 tỷ đồng, phí môi giới
thu được đạt gần 1,3 tỷ đồng. Tuy tình hình thị trường phục hồi và tăng điểm thời gian
gần đây, song định hướng và chỉ đạo đầu tư của các cấp lãnh đạo Công ty Chứng khoán
là không tham gia đầu tư, tập trung vào phân tích tình hình thị trường cũng như các công
SV: Trần Quang Nguyên Lớp: Kinh tế quốc tế 48B
11
Giáo viên HD: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng
ty niêm yết để có bước chuẩn bị thích hợp về sau, đồng thời xử lý và cơ cấu lại danh
mục hiện tại.
Tổng thu nhập thuần của công ty 5 tháng trong năm 2009 đạt 16,6 tỷ đồng, tổng chi
phí hoạt động là 18,4 tỷ đồng.
1.2.5 Các sản phẩm dịch vụ của VPBank
1.2.5.1 Hoạt động thanh toán quốc tế của VPBank
Hệ thống thanh toán được thiết kế để chuyển tiền từ TCTD này sang TCTD khác
một cách nhanh chóng và hiệu quả, dù là chuyển tiền trong nước hay chuyển ra nước
(Nguồn: Trung tâm thanh toán VPBank)
Trước đây theo mô hình thanh toán phân tán thì chỉ cho phép xử lý TTQT ở một số Chi
nhánh cấp I. Các Chi nhánh khác và Phòng giao dịch không có cán bộ thao tác kỹ thuật TTQT
cũng không có phần mềm để tự thực hiện giao dịch TTQT tại đơn vị mình. Hiện nay, theo mô
hình tập trung, mô hình này cho phép Hội sở có thể kết nối online để quản lý và xử lý trực tuyến
các giao dịch TTQT trên màn hình của tất cả các Chi nhánh và Phòng Giao dịch của VPBank.
Điều này phù hợp với xu thế chung của Ngân hàng hiện đại, cho phép bán sản phẩm rộng khắp
trên toàn hệ thống, chuyên môn hóa nghiệp vụ thanh toán. Tốc độ tăng trưởng trong hoạt động
thanh toán quốc tế của VPBank luôn đạt ở mức cao và ổn định là nhờ sự đóng góp của mạng
SWIFT. Trung bình khoảng 6.000 điện SWIFT/tháng.
SV: Trần Quang Nguyên Lớp: Kinh tế quốc tế 48B
13
Giáo viên HD: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng
1.2.5.2 Hoạt động kinh doanh thẻ của VPBank
Trong những năm qua, dịch vụ phát hành và thanh toán thẻ của VPBank đã phát
triển với tốc độ rất nhanh. Hoạt động này đã thực sự trở thành một dịch vụ của ngân
hàng hiện đại mang tính nền tảng, là mũi nhọn cho chiến lược phát triển dịch vụ ngân
hàng bán lẻ, mở ra một hướng cho việc huy động vốn, cũng như cấp tín dụng.
Sau khi chính thức phát hành thẻ ghi nợ nội địa mang tên Autolink vào cuối năm
2006. VPBank đã ký hợp đồng với Diebold mua 1.000 máy ATM và triển khai ký kết
thuê địa điểm lắp đặt ATM tại Hà Nội, Hồ Chí Minh và các tỉnh thành có sự hiện diện
của VPBank. Đến nay, đã có 170 máy ATM của VPBank được lắp đặt và đi vào hoạt
động. Đến 31/12/2007, số lượng thẻ Autolink phát hành là gần 17,000 thẻ. Số lượng thẻ
Platinum là 752 thẻ, trong đó có 508 thẻ Tín dụng. Tháng 7/2007, VPBank đã hoàn
thành việc kết nối với hệ thống ATM của Vietcombank. Tính đến tháng 9/2009,
VPBank đã phát hành được 60.000 thẻ Autolink và 5.000 thẻ Platinum.
1.2.5.3 Các dịch vụ khác của VPBank
Bên cạnh những dịch vụ kể trên, VPBank cũng thể hiện mình trên các lĩnh vực
khác như: Dịch vụ kiều hối và séc du lịch, dịch vụ “gửi và giữ tài sản”, “giữ két sắt”,
“nhờ thu tự động”…
mua VPBank dự kiến mua đất và xây dựng trung tâm dữ liệu theo đúng tiêu chuẩn quy
định của NHNN khoảng 58 tỷ đồng. Xây dựng trự sở chính chi nhánh Cần Thơ khoảng
14,5 tỷ đồng. Xây dựng trụ sở chính tại chi nhánh Hải Phòng, Huế khoảng 58 tỷ đồng.
Mua đất và xây dựng trụ sở tại một số địa phương khác khoảng 159,9 tỷ đồng.
Khoản 1451 tỷ đồng để đầu tư vào cổ phiếu, chứng từ có giá có khả năng thanh
khoản cao, vay trung và dài hạn... với tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng khoảng 12-15%/năm.
Tăng vốn lên 12 nghìn tỷ đồng vào 2014
Ngoài ra thì trong kì họp cổ đông cũng thông qua các chỉ tiêu cần đạt được trong
năm 2010.
SV: Trần Quang Nguyên Lớp: Kinh tế quốc tế 48B
15
Giáo viên HD: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng
Bảng 1.3 Chỉ tiêu của VPBank trong năm 2010
Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu 2009 2010
Tăng trưởng
2010/2009
Tổng tài sản
27,998 40,000 68%
Tổng dư nợ
15,679 23,000 47%
Tổng huy động
24,995 40,000 60%
Lợi nhuận trước thuế
382 650 70%
Lợi nhuận sau thuế
253 487.5 93%
(Nguồn: Báo cáo tài chính VPBank 2009)
Qua bảng trên chúng ta thấy năm 2010, VPBank đặt kế hoạch lợi nhuận trước thuế
là 650 tỷ đồng, tương đương tăng 70% so với năm 2009.
thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền
đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.
2.1.2 Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại
2.1.2.1 Hoạt động huy động vốn của NHTM
Ngân hàng thương mại được huy động vốn dưới các hình thức sau:
- Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới hình thức
tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác;
SV: Trần Quang Nguyên Lớp: Kinh tế quốc tế 48B
17
Giáo viên HD: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giáy tờ có giá khác để huy động vốn của
tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước;
- Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam,các tổ chức nước ngoài;
- Vay vốn ngắn hạn của ngân hàng nhà nước;
- Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước;
2.1.2.2 Hoạt động tín dụng của NHTM
Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho
vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các
hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.Trong các hoạt động cấp tín dụng, cho
vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất.
A, Cho vay
Ngân hàng thương mại được cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới hình thức sau:
- Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và
đời sống.
- Cho vay trung hạn và dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ và đời sống.
B, Bảo lãnh
NHTM được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu
thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác bằng uy tín và bằng khả năng tài chính của mình
đối với người nhận bảo lãnh. Mức bảo lãnh đối với một khách hàng và tổng mức bảo lãnh của
- Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép.
SV: Trần Quang Nguyên Lớp: Kinh tế quốc tế 48B
19
Giáo viên HD: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng
2.1.2.4 Các hoạt động khác của NHTM
Ngoài các hoạt động chính bao gồm huy động tiền gửi, cấp tín dụng và cung cấp
dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, ngân hàng thương mại còn có thể thực hiện một số hoạt
động khác bao gồm:
Góp vốn và mua cổ phần – Ngân hàng thương mại được dùng vốn điều lệ và quỹ
dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác
trong nước theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, ngân hàng thương mại còn được
góp vốn, mua cổ phần và liên doanh với ngân hàng nước ngoài để thành lập ngân hàng
liên doanh.
Tham gia thị trường tiền tệ - Ngân hàng thương mại được tham gia thị trường tiền
tệ, theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, thông qua các hình thức mua bán các công
cụ của thị trường tiền tệ.
Kinh doanh ngoại hối – Ngân hàng thương mại được pháp kinh doanh hoặc thành
lập công ty trực thuộc để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong nước và thị
trường quốc tế.
Ủy thác và nhận ủy thác – Ngân hàng thương mại được ủy thác, nhận ủy thác làm
đại lý trong các lính vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản,
vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng ủy thác, đại lý.
Cung ứng dịch vụ bảo hiểm – Ngân hàng thương mại được cung ứng dịch vụ bảo
hiểm, đươch thanh lập công ty trực thuộc hoặc lien doanh để kinh doanh bảo hiểm theo
quy định của pháp luật.
Tư vấn tài chính – Ngân hàng thương mại được cung ứng các dịch vụ tư vấn tài
chính, tiền tệ cho khách hàng dưới hình thức tư vấn trực tiếp hoặc thành lập công ty tư
vấn trực thuộc ngân hàng. Bảo quản vật quý giá – Ngân hàng thương mại được thực
hiện các dịch vụ bảo quản vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ
khác có liên quan theo quy định của pháp luật.
SV: Trần Quang Nguyên Lớp: Kinh tế quốc tế 48B
21
Giáo viên HD: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng
cũng đều là nhóm trung gian tài chính lớn nhất, cũng là trung gian tài chính mà các chủ
thể kinh tế giao dịch thường xuyên nhất.
2.1.3.2. NHTM đảm nhiệm những chức năng quan trọng trong nền kinh tế
Chức năng trung gian tín dụng, khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng thì
ngân hàng thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu
cầu về vốn. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi
vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa
lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham
gia: người gửi tiền và người đi vay.
- Đối với người gửi tiền, NHTM thu được lợi từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗi
dưới hình thức lãi tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ. Hơn nữa ngân hàng còn đảm
bảo cho họ sự an toàn về khoản tiền gửi và cung cấp các dịch vụ thanh toán tiện lợi.
- Đối với người đi vay, NHTM sẽ thỏa mãn được nhu cầu vốn kinh doanh tiện
lợi, chắc chắn và hợp pháp, chi tiêu, thanh toán mà không chi phí nhiều về sức lực
thời gian cho việc tìm kiếm những nơi cung ứng vốn riêng lẻ.
- Đặc biệt là đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản
xuất được thực hiện liên tục và mở rộng quy mô sản xuất.
Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân
hàng thương mại.
Chức năng tạo tiền: Chức năng tạo tiền không giới hạn trong hành động in thêm
tiền và phát hành tiền mới của Ngân hàng Nhà nước. Bản thân các ngân hàng thương
mại trong quá trình thực hiện các chức năng của mình vẫn có khả năng tạo ra tiền tín
dụng (hay tiền ghi sổ) thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại
ngân hàng thương mại. Đây chính là một bộ phận của lượng tiền được sử dụng trong
các giao dịch.
SV: Trần Quang Nguyên Lớp: Kinh tế quốc tế 48B
SV: Trần Quang Nguyên Lớp: Kinh tế quốc tế 48B
23
Giáo viên HD: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng
nhau rất chặt chẽ, chỉ một trục trặc nhỏ trong quá trình thanh toán của một ngân hàng
cũng sẽ gây lên vấn đề thanh khoản của cả hệ thống. Mặt khác sự sụp đổ của ngân
hàng sẽ gây khó khăn về vốn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa
và nhỏ, đồng thời ảnh hưởng đến quyền lợi của người gửi tiền.
2.1.3.3. Chứa đựng nhiều rủi ro do trong hoạt động kinh doanh của NHTM
- Đối tượng kinh doanh của NHTM là tiền tệ – một hàng hoá đặc biệt với đặc
điểm rất nhạy cảm dễ bị tác động ảnh hưởng bởi những thay đổi, biến động của các
yếu tố môi trường. Nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng là nguồn vốn đi vay dưới
hình thức tiền với tính chất ổn định tương đối thấp.
- NHTM sử dụng vốn chủ yếu là cấp tín dụng cho các doanh nghiệp, tổ chức cá
nhân, hoặc đầu tư vào tài sản tài chính;
- Cường độ cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng cao;
- Khách hàng của các ngân hàng có quan hệ tiếp tục, thường xuyên, gắn bó mật
thiết và lâu dài với ngân hàng;
- Sản phẩm của ngân hàng là dịch vụ tài chính với những đặc điểm vô hình,
không ổn định và không dự trữ;
- Tuy mức dư nợ trong những năm gần đây, tăng trưởng khá phù hợp với tốc độ
phát triển của nền kinh tế. Nhưng bên cạnh đó, hoạt động tín dụng của ngân hàng vẫn
còn tồn tại nhiều vướng mắc. Các rủi ro này chủ yếu là do thủ tục pháp lý và yếu tố chủ
quan làm kéo dài thời gian thu hồi nợ và gây lỗ cho ngân hàng vì thời gian kéo dài, tài
sản hư hao, vốn tồn đọng.
Vì vậy các hoạt động ngân hàng luôn song hành với các rủi ro, mức lợi nhuận
luôn tỉ lệ thuận với độ rủi ro nên luôn cần sự quản lý vĩ mô cần thiết để hạn chế rủi
ro cho hệ thống ngân hàng. Có rất nhiều rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân
hàng, nhưng rủi ro tín dụng, thanh khoản và tác nghiệp đang là những rủi ro chính
mà các ngân hàng Việt Nam đối mặt:
SV: Trần Quang Nguyên Lớp: Kinh tế quốc tế 48B