LUẬN VĂN: Phát triển và hoàn thiện Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam potx - Pdf 12

LUẬN VĂN:

Phát triển và hoàn thiện Ngân Hàng
Nhà Nước Việt Nam


1.1. Khái niệm về NHTW :
1.1.1. Quan điểm của Việt Nam :
gân Hàng Trung Ương (còn gọi là ngân hàng nhà nước hay ngân hàng dự trữ
liên bang) : là một cơ quan thuộc bộ máy nhà nước được độc quyền phát hành giấy
bạc ngân hàng và thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động tiền tệ, tín
dụng, ngân hàng . Với mục tiêu cơ bản là ổn định giá trị đồng tiền, duy trì sự ổn định
và an toàn trong hoạt động của hệ thống ngân hàng. NHTW mặc cùng thuộc hệ thống
ngân hàng, nhưng NHTW hoàn toàn khác với ngân hàng thương mại (NHTM).
NHTM là một tổ chức tài chính trung gian mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên
của nó là : “ Nhận tiền gửi dựa trên nguyên tắc hoàn trả là cho vay, chiết khấu và làm
các phương tiện thanh toán .
1.1.2. Quan điểm trên thế giới :
NHTW theo quan điểm các nước trên thế giới, họ đồng nhất quan điểm
NHTW chính là ngân hàng phát hành, đồng thời thực hiện chức năng quản lý nhà
nước về hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngân hàng. Nhưng NHTW không bó buộc phải là
một ngân hàng duy nhất mà có thể là một hệ thống các ngân hàng làm nhiệm vụ của
NHTW. Bên cạnh đó, NHTW không phải là một cơ quan hoàn toàn thuộc bộ máy nhà
nước như : Chính Phủ, Quốc Hội, Hội Đồng Nhân Dân, ủy Ban Nhân Dân… Nó có
thể là ngân hàng cổ phần, không hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của nhà nước, nhưng
hoạt động vẫn mang tính chất như một ngân hàng nhà nước. Và có cơ quan quản lý
cao nhất do nhà nước bổ nhiệm, miễn nhiệm ví dụ như :
N +). NHTW Nhật Bản là ngân hàng cổ phần (theo luật 1942). Cổ phần
nhà nước là 55% và cổ phần tư nhân là 45%. Cơ quan quản lý cao nhất là hội đồng

1.2.1.1. Phát hành giấy bạc ngân hàng và điều tiết lượng tiền cung ứng :
Đi liền với sự ra đời của NHTW thì toàn bộ việc phát hành tiền được tập trung
vào NHTW theo chế độ nhà nước độc quyền phát hành tiền và từ đó trở thành trung
tâm phát hành tiền của cả nước .
Giấy bạc do NHTW phát hành là phương tiện thanh toán hợp pháp, làm chức
năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán. Do đó, việc phát hành tiền của
NHTW có tác động trực tiếp đến tình hình lưu thông tiền tệ của đất nước. Để cho giá
trị đồng tiền được ổn định, khi phát hành NHTW phải tuân theo những nguyên tắc
nghiêm ngặt sau :
+). Nguyên tắc phát hành phải có vàng bảo đảm : Nghĩa là việc phát hành giấy
bạc ngân hàng vào lưu thông phải được đảm bảo bằng trữ kim hiện nằm trong kho
của NHTW .
+). Nguyên tắc phát hành thông qua cơ chế tín dụng : Có nghĩa là việc phát
hành giấy bạc ngân hàng không nhất thiết phải có vàng bảo đảm mà có thể đảm bảo
bằng giá trị hàng hóa và dịch vụ .
1.2.1.2. NHTW là ngân hàng của các ngân hàng :
Là ngân hàng của các ngân hàng, NHTW thực hiện các nghiệp vụ quan trọng
sau đây :
Thứ nhất : Mở tài khoản tiền gửi và bảo quản dự trữ tiền cho các ngân
hàng và các tổ chức tín dụng. Như vậy, NHTW nhận tiền gửi từ các NHTM và các tổ
chức tín dụng. Trong đó tiền gửi bao gồm 2 loại : Tiền gửi thanh toán và Tiền gửi dự
trữ bắt buộc .
Thứ hai : Cho vay đối với các ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Với
việc thực hiện nghiệp vụ này thì NHTW trở thành người cho vay cuối cùng của nền
kinh tế (the last leader of the last resorce). Điều này nghĩa là khi các NHTM không có
khả năng thực hiện nghiệp vụ cho vay hay thanh toán thì NHTW sẽ đứng ra cấp vốn
hoặc tái cấp vốn cho NHTM bằng các nghiệp vụ : Chiết khấu và Tái chiết khấu .

Nh của các NH dụng, ngân hàng với nước ngoài. Đại diện cho nhà nước tại các tổ chức tài chính, tiền
tệ quốc tế mà nước đó là thành viên như : IMF, WB, ADB .
1.2.2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân Hàng Nhà Nước Việt
Nam :
1.2.2.1. Chức năng : Luật Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam (NHNNVN) tại
các khoản 1, 2 điều 1 quy định : NHNNVN là cơ quan của Chính Phủ và là NHTW
của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam . NHNNVN có các chức năng quản
lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, là ngân hàng phát hành tiền, ngân
hàng của các tổ chức tín dụng và ngân hàng làm dich vụ tiền tệ cho Chính Phủ .
Như vậy, nhìn chung, NHNNVN cũng như các NHTW của các quốc gia khác.
Đều có 3 chức năng cơ bản nhằm ổn định giá trị của đồng tiền, góp phần bảo đảm an
toàn trong hoạt động của hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng, điều tiết vĩ mô
nền kinh tế Nhưng tuy nhiên, NHNNVN có một điểm khác biệt lớn nhất là ở chỗ
thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa .
1.2.2.2. Nhiệm vụ, quyền hạn :
Để thực hiện các chức năng của mình, NHNNVN có các nhiệm vụ và quyền
hạn chủ yếu sau đây :
Thứ nhất : Với vị trí là cơ quan của Chính Phủ NHTW có nhiệm vụ và
quyền hạn :
+). Tham gia xây dựng các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của
nhà nước .
+). Xây dựng các dự án CSTT quốc gia để Chính Phủ xem xét trình Quốc Hội
quyết định và thực hiện các dự án này, xây dựng chiến lược phát triển hệ thống ngân
hàng và các tổ chức tín dụng Việt Nam .

ngân hàng và thị trường mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn. Từ đó NHNN thực hiện
nghiệp vụ thị trường mở để thực hiện CSTT Quốc Gia .
+). Trong các trường hợp cấp bách, khi một số tổ chức tín dụng lâm vào tình
trạng kiểm soát đặc biệt, để đảm bảo khả năng chi trả của các tổ chức tín dụng, NHNN có thể xem xét cho tổ chức tín dụng được vay khoản vay đặc biệt sau khi tổ
chức đó sử dụng hết dự trữ bắt buộc, các khoản bảo toàn và bảo hiểm tiền gửi .
+). NHNN mở tài khoản và thực hiện các giao dịch cho các tổ chức tín dụng
như tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt, thanh toán liên ngân hàng, thanh toán bù
trừ. Đồng thời, NHNN còn thực hiện việc cung ứng các phương tiện thanh toán cho
các tổ chức tín dụng .
+). NHNN thu thập thông tin và cung ứng dịch vụ thông tin cho các tổ chức tín
dụng về hoạt động kinh tế, tài chính và ngân hàng .
Thứ tư : Với vai trò là ngân hàng của nhà nước , NHNNVN có các
quyền hạn và nhiệm vụ :
+). NHNN làm đại lý và thực hiện các dịch vụ tiền tệ cho KBNN
+). NHNN tạm ứng cho Ngân Sách Trung Ương để xử lý thiếu hụt tạm thời
quỹ Ngân Sách Nhà Nước (NSNN) theo quyết định của Thủ Tướng Chính Phủ.
Khoản tạm ứng này phải được hoàn trả trong năm ngân sách, trừ trường hợp đặc biệt
do Thủ Tướng Chính Phủ quy định .
+). NHNN quản lý ngoại hối theo quy định của Chính Phủ thông qua việc mua
và bán ngoại hối trên thị trường trong nước và mua bán thực hiện các giao dịch ngoại
hối trên thị trường quốc tế nhằm thực hiện CSTT Quốc Gia, đảm bảo khả năng thanh
toán của đất nước, bảo toàn dự trữ ngoại hối
Thứ năm : Với tư cách là cơ quan duy nhất thực hiện chức năng phát hành
tiền của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NHNNVN có quyền hạn và nhiệm

(4). Hoạt động thanh toán .
(5). Quản lý ngoại hối và hoạt động ngoại hối .
(6). Thanh tra tổng kiểm soát của NHNN .
(7). Hoạt động thông tin .
Chương II
Thực trạng hoạt động của NHNNVN
2.1. Lịch sử hình thành NHNNVN :
iền thân của NHNNVN là ngân hàng Đông Dương do Pháp thành lập (1875),
nhằm để phục vụ cho cuộc viễn chinh của Pháp ở Đông Dương. Từ sau thành công
của CM Tháng 8 (1945), chính quyền dân chủ nhân dân được xây dựng lại. Với chủ
trương dành lấy độc lập, tự chủ trên mọi phương diện, Đảng và Nhà Nước ta đã dành
nhiều quan tâm cho lĩnh vực tài chính tiền tệ. Quyết tâm xây dựng một nền tài chính
tiền tệ độc lập . Nhưng tuy nhiên, do điều kiện kinh tế chính trị của đất nước ta trong
giai đoạn này hết sức khó khăn, thực trạng nền kinh tế tài chính thì đổ nát, dân sinh
thì nguy ngập với nạn đói và nạn dốt. Chính vì vậy, chúng ta đã không thể thiết lập

Xô Viết, thiếu sự nghiên cứu điều chỉnh cho phù hợp với tình hình và đặc điểm của
Việt Nam .
Thứ tư : Sau chiến tranh quá chậm trễ trong việc tiến hành đổi mới. Cơ
chế tài chính kiềm chế cùng với NHQG lạc hậu đầy mâu thuẫn đã làm cho nền kinh tế
Việt Nam rơi vào tình trạng trì trệ và khủng hoảng trầm trọng.
Thứ năm : Thị trường tài chính không được chú trọng nên không thể phát
triển được, NHQG độc quyền đã không phát huy được vai trò gì hơn là một quỹ tiền
tệ của chính phủ. Lạm phát đã không được thừa nhận vì quan điểm thiếu khoa học
cho rằng : “ Lạm phát chỉ là bạn đường của CNTB, còn trong CNXH không có lạm
phát “ . Và cho đến khi phải “ đưa lên bàn để phẫu thuật “ thì lạm phát đã ở mức phi mã và nhanh chóng chuyển sang siêu lạm phát ( Đỉnh cao là năm 1988, lạm phát đạt
mức kỉ lục là 548% ).
Thứ sáu : Công cụ cơ bản là lãi suất của ngân hàng không những không
đáp ứng được vai trò đòn bẩy kích thích kinh tế phát triển, thu hút vốn đầu tư và tiết
kiệm, mà còn cơ hội cho việc xô vào vay vốn ngân hàng để đầu cơ găm giữ hàng hóa
chờ chênh lệch giá. Bên cạnh đó do lãi suất trần thấp làm cho lãi suất lãi suất thực âm,
lãi suất cho vay nhỏ hơn lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay ngắn hạn lớn hơn lãi suất
cho vay dài hạn . Tất cả những điều đó làm cho hoạt động của các ngân hàng thua lỗ.
Nhà nước lại phải bao cấp bù lỗ bằng cách phát hành tiền. Lạm phát ngày càng tăng
và tình hình kinh tế chính trị ngày càng rối ren hơn .
2.2.2. Sau năm 1988 :
Sau khi thực hiện cải cách hệ thống ngân hàng vào cuối năm 1988 đầu năm
1989, chúng ta đã thu được những thành công nhất định trong việc thực thi CSTT và
hoạt động của NHTW. Lạm phát đã được đẩy lùi và kiềm chế ở mức thấp, hoạt động
của hệ thống ngân hàng ngày càng có hiệu quả hơn, đời sống nhân dân được cải thiện.
Chương III
Giải pháp phát triển và hoàn thiện NHTW
rong giai đoạn hiện nay là kỷ nguyên của toàn cầu hóa. Không một quốc gia
nào có thể phát triển nếu không hội nhập nền kinh tế của mình với khu vực và trên thế
giới. Trong đó, lĩnh vực tài chính tiền tệ là một lĩnh vực quan trọng và phức tạp nhất.
Sự biến động tài chính tiền tệ mang tính toàn cầu và cực kì đa dạng. Các thế lực bên
ngoài có thể tấn công trực tiếp trên mặt trận tiền tệ, phá vỡ an ninh tài chính quốc gia.
Tốc độ và quy mô giao dịch tài chính trong và ngoài nước tăng lên nhiều lần thách
thức hệ thống ngân hàng còn nhiều bất cập và lạc hậu. Chính điều đó dẫn đến một tất
yếu khách quan là phải đổi mới, phát triển hơn nữa để hoàn thiện NHNNVN Trái

hành sớm nhất có thể. Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam á và tham gia
ASEAN. Vì thế chúng ta có thể tham khảo những kinh nghiệm trong vấn đề hiện đại
hóa ngân hàng của những nước có hệ thống tài chính tiển tệ phát triển hơn. Tiêu biểu
trong số đó là Indonesia ( Xem phụ lục - Khung 7.5 : Hiện Đại Hóa Ngân Hàng :
Kinh nghiệm của Indonesia ). Để từ đó rút ra hướng đi chính xác cho mình. Chương
trình hiện đại hóa NHNNVN, theo tôi, có thể bao gồm 3 bộ phận : Về công nghệ, về
vận hành, và về tài chính.
3.1.1.1. Bộ phận công nghệ của chương trình :
Đó là một hệ thống tự động hóa toàn bộ các hoạt động của ngân hàng, áp dụng
công nghệ ngân hàng tiên tiến và đặc biệt là áp dụng công nghệ thông tin quản lý.
Thông tin phải trở thành công cụ không thể thiếu của NHTW nhằm đưa ra
những hoạt động dự báo, ra quyêt định, điều hành vĩ mô, đủ năng lực tiếp cận sâu với
thị trường, phát hiện và xử lý kịp thời, đặc biệt là điều hành các công cụ của CSTT và
phục vụ đắc lực cho hoạt động giám sát bảo vệ tính ổn định của hệ thống :
+). Trước mắt, mạng thông tin NHTW cần được cải thiện ở các thành phố và
các tỉnh có các NHTW lớn .
+). ứng dụng công nghệ thông tin ngân hàng vào hệ thống thanh toán quốc gia
và các mạng thanh toán của các NHTM. NHTW phải thực hiện dự án hệ thống thanh
toán quốc gia giai đoạn I. Với hệ thống này sẽ nâng cao tốc dộ, độ chính xác của hoạt động thanh toán. Tuy nhiên phạm vi ứng dụng còn hạn chế, trong thời gian tới cần có
dự án mở rộng hoàn chỉnh .
+). Cần sớm đưa thanh toán điện tử vào xử lý tài khoản giao dịch khách hàng
và thiết lập hệ thống quản lý điện tử trong hoạt động thị trường của các ngân hàng .
+). Phải phát triển hình thức giao dịch mới là Thương Mại Điện Tử. Mặc dù
trong điều kiện hiện nay chưa cho phép triển khai rộng, nhưng chúng ta không thể để

3.1.2. Xác định mối quan hệ giữa NHTW và các cơ quan có liên quan :
3.1.2.1. Mối quan hệ giữa NHTW và Chính Phủ :
Như đã trình bầy ở phần cơ sở lý luận, cho đến nay trên thế giới có 2 mô hình
tổ chức và quản lý của NHTW : NHTW trực thuộc Chính Phủ và NHTW trực thuộc
Quốc Hội.Với NHTW trực thuộc Quốc Hội sẽ được độc lập với Chính Phủ và do đó
sẽ được quyền chủ động trong việc thực thi CSTT. Chẳng hạn như FED (NH dự trữ
liên bang Hoa Kỳ) trực thuộc Quốc Hội và hoàn toàn độc lập với Chính Phủ. Hội
Đồng Quản Trị gồm 7 thành viên, nhiệm kì 14 năm. Tổng thống chỉ được phép bổ
nhiệm hoặc miễn nhiệm 2/7 thành viên. Do đó về mặt quyết định là chưa quá bán.
Điều đó làm cho FED hầu như độc lập hoàn toàn với Chính Phủ, với tổng thống và
điều hành có hiệu quả nền Tài Chính Tiền Tệ của nước Mỹ.
Đối với Việt Nam, NHNNVN là NHTW trực thuộc Chính Phủ , là cơ quan của
Chính Phủ, làm nhiệm vụ hoạch định chính sách và quản lý vĩ mô toàn bộ hệ thống
ngân hàng. Tuy vậy thực trạng NHNNVN trong giai đoạn vừa qua là sự can thiệp quá
sâu của Chính Phủ. Chính Phủ can thiệp vào NHTW kể cả trong việc hoạch định và
thực thi CSTT. Về mặt cơ cấu tổ chức : Thống đốc NHNNVN tương đương với một
bộ trưởng. Hội Đồng Thống Đốc có 11 người ngoài ra còn có thêm một người được
Thủ Tướng Chính Phủ cử vào Hội Đồng Thống Đốc với mục đích giám sát hoạt động
của NHTW. Như vậy, vị thế của NHTW hết sức nhỏ bé, chỉ như một công cụ dễ bị
Chính Phủ lạm dụng cho việc phát hành tiền. Hơn thế nữa sự kết hợp giữa NHTW và
Chính Phủ còn nhiều bất cập. Nhất là khi hai bên hành động ngược ý nhau .
Trong thời gian tới, vấn đề cấp thiết phải quyết để hoàn thiện NHTW là cần
phải xác định một cách đúng đắn vị thế NHNNVN là một cơ cấu độc lập với Chính
Phủ. Chịu trách nhiệm trước Quốc Hội về hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt
Nam. Nắm trong tay công cụ quan trọng nhất để quản lý nền kinh tế Vĩ Mô là CSTT.
nhằm thực thi CSTT đạt được những mục tiêu của nó. Chính vì vậy, nâng cao hiệu
quả vận hành CSTT cũng chính là nâng cao hiệu quả hoạt động của NHTW. Đó cũng
là một tất yếu khách quan không thể thiếu trong quá trình hoàn thiện NHNNVN .
Trước hết, để có thể vận hành CSTT một cách có hiệu quả cần phải xác định
được một mục tiêu đúng đắn, cần phải định hướng được trong thời gian tới (2001-
2010), mục tiêu của CSTT là gì, hoạt động của CSTT nhằm mục đích gì ?
3.1.3.1. Mục tiêu của CSTT :
Nhìn tổng quát và có chiến lược lâu dài thì các mục tiêu của CSTT có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ và thúc đẩy nhau phát triển. Điều đó cho thấy rằng,
trong quá trình thực thi CSTT không thể tuyệt đối hóa một mục tiêu nào, không thể
giải quyết độc lập một mục tiêu nào trên tầm vĩ mô. Thực tiễn các nước phát triển
theo cơ chế thị trường cho thấy, trong giai đoạn đầu của quá trình CNH-HĐH cần
phải kiên trì và nhất quán với mục tiêu ổn định vững chắc sức mua, gắn liền với củng
cố, nâng cao địa vị uy tín của đồng bản địa. Đối với Việt Nam cũng vậy, mục tiêu
tổng quát của chặng đường 10 năm chính là đưa VNĐ thành một đồng tiền mạnh và
có uy tín trong khu vực. Trên cơ sở đó thực hiện chuyển đổi tự do vào cuối giai đoạn
2001-2010 .
Trên cơ sở mục tiêu tổng quát đó, Bộ Tài Chính đưa ra 3 mục tiêu cơ bản như
sau :
(1). Duy trì sự ổn định giá trị của VNĐ mà trọng tâm là kiềm chế lạm phát ở
mức thấp hơn nhịp độ tăng trưởng kinh tế, ổn định ở mức 6 - 7% / năm, góp phần
phát triển kinh tế cao và bền vững .
(2). Đảm bảo sự phù hợp giữa tổng phương tiện thanh toán và nhu cầu của nền
kinh tế, phát triển hệ thống thanh toán, mở rộng phạm vi thanh toán không dùng tiền
mặt. Duy trì cán cân thanh toán lành mạnh và nằm trong phạm vi an toàn .
(3). Duy trì hành lang an toàn về tài chính, đảm bảo an ninh tiền tệ trong mở
cửa, hội nhập .

Thứ nhất : Phải mở rộng phương thức phát hành trái phiếu Chính Phủ để
huy động được tối đa các nguồn lực trong xã hội. Điều này được thực hiện bằng cách
phát triển trái phiếu Chính Phủ trên cả thị trường sơ cấp và thứ cấp, số lượng trái
phiếu được tung ra thị trường một cách hợp lý và thường xuyên. Trong đó đặc biệt chú ý đến phương thức phát hành hiện đại theo hình thức bán buôn để thúc đẩy giao
dịch trên thị trường thứ cấp. Việc hình thành và phát triển thị trường thứ cấp phải chú
ý cả ở thị trường tập trung và phi tập trung .
Thứ hai : Phải xây dựng chiến lược quản lý nợ tốt. Nhằm nâng cao hiệu
quả và tính thanh khoản của trái phiếu chính phủ, lịch phát hành trái phiếu Chính Phủ
phải được công bố rõ ràng, tạo ra chuẩn mực thị trường bằng cách tái phát hành một
cách có hệ thống trái phiếu có cùng ngày đáo hạn .
Thứ ba : Phải đa dạng hóa các thời hạn của trái phiếu Chính Phủ, bên
cạnh những trái phiếu có thời hạn 3 năm, 5 năm thì cần có những loại 10 năm hoặc
thậm chí 30 năm. Nhằm phục vụ tốt cho cả hai mục đích : Ôn định tiền tệ, lạm phát
trong ngắn hạn và Phát triển kinh tế bền vững trong dài hạn .
Thứ tư : Xác định lãi suất một cách khoa học, gắn liền với các công cụ
lãi suất khác cũng như căn cứ vào tình hình kinh tế để lãi suất trái phiếu Chính Phủ là
lãi suất chuẩn trên thị trường và có tác động tích cực tới nền kinh tế .
Đồ thị : Diễn biến lãi suất bình quân của các loại tín phiếu KBNN,
trái phiếu Chính Phủ :

20%

0%

25%

30%

Lãi Su
ất

Năm

5%:
Trái phi
ếu bán lẻ kì hạn 2 n
ăm

: Trái phi
ếu
đ
ấu thầu kì hạn
1 năm

chứng khoán . (2). Chính sách chiết khấu (CSCK) và Tái chiết khấu (TCK) :
CSCK và TCK là một công cụ khá quan trọng trong việc thực thi CSTT của
NHTW. Với chính sách này NHTW sẽ đóng vai trò là người cho vay cuối cùng của
nền kinh tế để tránh những cơn sụp đổ về tài chính trong hệ thống ngân hàng. Trong
giai đoạn này, chính sách này được gọi là chính sách truyền thống cổ điển vì hiệu quả
thấp và chi phí cao. Mặt khác NHTW thường bị động trong việc điều tiết lượng tiền
cung ứng. Bởi vì NHTW chỉ có thể điều tiết CSCK và TCK chứ không thể buộc các
NHTM phải tiến hành vay ở NHTW. Chính vì vậy, thời gian tới NHTW cần phải nới
lỏng CSCK va TCK, tạo điều kiện cho các NHTM tăng khả năng kinh doanh, tăng tốc
độ luân chuyển vốn, đáp ứng được nhu cầu về vốn cho sự nghiệp CNH-HĐH đất
nước .
(3). Chính sách tỷ lệ dự trữ bắt buộc :
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là một công cụ rất mạnh trong việc điều hành CSTT. Bởi
lẽ chỉ cần thay đổi 1 lượng nhỏ tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến
lượng tiền gửi mới được tạo ra. Cụ thể là sẽ ảnh hưởng theo hệ số nhân tiền tệ ( Hệ số
nhân tiền tệ = 1 : ( Tỷ lệ dự trữ bắt buộc ) - ( theo thuyêt tạo tiền của các NHTM ).
Chính vì thế việc hoạch định, sử dụng chính sách dự trữ bắt buộc cần phải hết sức
thận trọng trong từng hoàn cảnh cụ thể. Với chính sách phát triển kinh tế như hiện
nay, công cụ dự trữ bắt buộc đóng vai trò thứ yếu bởi lẽ nó phức tạp, kém linh hoạt và
để lại nhiều hậu quả. Đặc biệt là ảnh hưởng đến lợi nhuận của các NHTM. Do đó
hướng giải quyết là phải giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc xuống từng bước, nhưng vẫn phải
đảm bảo độ an toàn trong hoạt động kinh doanh của hệ thông ngân hàng .
3.1.3.3. Nâng cao quyền hạn và nhiệm vụ của NHTW trong việc điều hành
nền kinh tế Vĩ Mô :

dụng và điều chỉnh lãi suất cơ bản thay cho các biện pháp mang tính hành chính, áp
đặt hiện nay, xóa bỏ việc quy định lãi suất trần, thị trường hóa đầu ra, đầu vào trong
hoạt động tín dụng, thực hiện đầy đủ quyền tự quyết định lãi suất huy động, cho vay
căn cứ vào tình hình thị trường, thời điểm huy động và đối tượng cho vay .
3.1.4. Kiện toàn lại nền tảng pháp lý của NHTW :
Nền tảng pháp lý, khuôn khổ pháp lý là một thành tố cực kì quan trọng và là
điều kiện tiên quyết để thực hiện các giải pháp nhằm hoàn thiện NHTW. Đặc biệt nó

Trích đoạn Hướng tới thị trường mở, tự do hóa lãi suất Xu hướng phát triển tất yếu trong tương lai :
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status