Lời Mở Đầu
Ngày 7/11/2006, tại Geneve (Thụy Sĩ) đã diễn ra trọng thể Lễ ký Nghị định
thư về việc Việt Nam được chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế
giới (WTO) được đánh giá là sự kiện quan trọng nhất có tác động cực kì to
lớn tới kinh tế Việt Nam.Sự kiện này mở ra cơ hội mới cho sự phát triển đất
nước và cả những thách thức cần phải vượt qua khi Việt Nam được tham gia
vào tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu.
Như đã biết , Việt Nam chúng ta được đánh giá là 1 nước đang phát triển và
thực sự , chúng ta mới chỉ thoát khỏi khủng hoảng và lệ thuộc kinh tế hơn
chục năm.Đối với đấu trường kinh tế giới , các sân chơi dường như còn quá
xa vời và cao lớn với tầm vóc nền kinh tế Việt Nam.Việc chúng ta gia nhập
WTO ko mang ý nghĩa thúc đẩy ngay việc phát triển kinh tế những năm đầu
này mà mang ý nghĩa quyết định cho tương lai của nền kinh tế Việt Nam
mai sau.Vậy để chuẩn bị tốt cho sân chơi WTO , sẵn sang hội nhập vào biển
kinh tế thế giới mà vẫn giữ cho chúng ta “ hòa nhập chứ ko hòa tan “ , tránh
bị khủng hoảng và lệ thuộc kinh tế cũng như giữ vững được lập trường chính
trị , thể chế ; chúng ta cần 1 lộ trình dài và chắc chắn nhằm giúp kinh tế Việt
Nam tránh sock và có thể hòa nhập trong ổn định với thị trường thương mại
lớn nhất Thế Giới này.
Thuế là nguồn thu chính của ngân sách nhà nước Việt Nam.Khi gia nhập
WTO , điều kiện tiên quyết là phải gỡ bỏ gần như hoàn toàn hệ thống thuế
với hàng nhập khẩu của các nước thành viên WTO.Chúng ta không thể đi
ngược lại quy định chung của WTO , 1 mình 1 luật được , đã chấp nhận gia
nhập WTO là chúng ta phải chấp nhận luật chơi của họ , không ưu đãi ,
không nhượng bộ.Với 1 sân chơi như vậy , việc gia nhập quá nhanh sẽ khiến
nguồn ngân sách nhà nước Việt Nam có thể sẽ bị ảnh hưởng nặng nề , gây
xáo trộn toàn bộ nền kinh tế vốn bị chi phối bởi ngân sách nhà nước.WTO
đã chấp nhận cho chúng ta được phép có 1 khoảng thời gian ổn định và cắt
giảm dần hàng rào thuế quan để gia nhập 1 cách toàn diện vào hệ thống
WTO.Trước khó khăn và thác thức như vậy , Việt Nam chúng ta đã làm gì
và cần làm gì để có 1 lộ trình gỡ bỏ hàng rào thuế quan 1 cách an toàn và
viên của WTO) cam kết duy trì chính sách thương mại trong khuôn khổ
những vấn đề đã thoả thuận. Tuy là do các chính phủ ký kết nhưng thực chất
mục tiêu của những thoả thuận này là để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp,
các nhà sản xuất hàng hoá, cung cấp dịch vụ, các nhà xuất nhập khẩu thực
hiện hoạt động kinh doanh, buôn bán của mình.
• WTO giúp các nước giải quyết tranh chấp
Nếu "mục tiêu kinh tế" của WTO là nhằm thúc đẩy tiến trình tự do hoá
thương mại hàng hoá, dịch vụ, trao đổi các sáng chế, kiểu dáng, phát minh...
(gọi chung là quyền tài sản sở hữu trí tuệ) thì các hoạt động của WTO nhằm
giải quyết các bất đồng và tranh chấp thương mại phát sinh giữa các thành viên
theo các quy định đã thoả thuận, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của công
pháp quốc tế và luật lệ của WTO, chính là mục tiêu chính trị của WTO. Mục
tiêu cuối cùng của các mục tiêu kinh tế và chính trị là nhằm tới "mục tiêu xã
hội" của WTO là nhằm nâng cao mức sống, tạo công ăn việc làm, tăng thu
nhập cho người dân, phát triển bền vững, bảo vệ môi trường.
2. Mục tiêu của WTO :
• Nâng cao mức sống, bảo đảm đầy đủ việc làm và một khối lượng thu
nhập và nhu cầu thực tế lớn và phát triển ổn định; mở rộng sản xuất, thương
mại hàng hoá và dịch vụ, trong khi đó vẫn đảm bảo việc sử dụng tối ưu
nguồn lực của thế giới theo đúng mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ và
duy trì môi trường và nâng cao các biện pháp để thực hiện điều đó theo cách
thức phù hợp với những nhu cầu và mối quan tâm riêng rẽ của mỗi bên ở các
cấp độ phát triển kinh tế khác nhau.
• Bảo đảm rằng các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là những quốc
gia kém phát triển nhất, duy trì được tỷ phần tăng trưởng trong thương mại
quốc tế tương xứng với nhu cầu phát triển kinh tế của quốc gia đó;
• Giảm đáng kể thuế và các hàng rào cản trở thương mại khác và theo
hướng loại bỏ sự phân biện đối xử trong các mối quan hệ thương mại quốc
tế;
3
Nguyên tắc này thể hiện ở hai nguyên tắc: đối xử tối huệ quốc và đối xử
quốc gia.
Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN):
"Tối huệ quốc" có nghĩa là "nước (được) ưu đãi nhất", "nước (được) ưu
tiên nhất".
Nội dung của nguyên tắc: WTO quy định rằng, các quốc gia không thể
phân biệt đối xử với các đối tác thương mại của mình.
Cơ chế hoạt động của nguyên tắc: Mỗi thành viên của WTO phải đối xử
với các thành viên khác của WTO một cách công bằng như những đối tác
"ưu tiên nhất". Nếu một nước dành cho một đối tác thương mại của mình
một hay một số ưu đãi nào đó thì nước này cũng phải đối xử tương tự như
vậy đối với tất cả các thành viên còn lại của WTO để tất cả các quốc gia
thành viên đều được "ưu tiên nhất". Và như vậy, kết quả là không phân biệt
đối xử với bất kỳ đối tác thương mại nào.
Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT) :
"Ðối xử quốc gia" nghĩa là đối xử bình đẳng giữa sản phẩm nước
ngoài và sản phẩm nội địa.
Nội dung của nguyên tắc: Hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá tương tự
sản xuất trong nước phải được đối xử công bằng, bình đẳng như nhau.
Cơ chế hoạt động của nguyên tắc: Bất kỳ một sản phẩm nhập khẩu nào,
sau khi đã qua biên giới, trả xong thuế hải quan và các chi phí khác tại cửa
khẩu, bắt đầu đi vào thị trường nội địa, sẽ được hưởng sự đối xử ngang bằng
(không kém ưu đãi hơn) với sản phẩm tương tự được sản xuất trong nước.
Có thể hình dung đơn giản về hai nguyên tắc nêu trên như sau: Nếu
nguyên tắc "tối huệ quốc" nhằm mục tiêu tạo sự công bằng, không phân biệt
đối xử giữa các nhà xuất khẩu hàng hoá, cung cấp dịch vụ... của các nước A,
B, C... khi xuất khẩu vào một nước X nào đó thì nguyên tắc "đãi ngộ quốc
gia" nhằm tới mục tiêu tạo sự công bằng, không phân biệt đối xử giữa hàng
hoá, dịch vụ của doanh nghiệp nước A với hàng hoá, dịch vụ của doanh
nghiệp nước X trên thị trường nước X, sau khi hàng hoá, dịch vụ của doanh
nước ngoài tin chắc rằng hàng rào thuế quan, phi thuế quan của một nước sẽ
không bị tăng hay thay đổi một cách tuỳ tiện. Ðây là nỗ lực của hệ thống
thương mại đa biên nhằm yêu cầu các thành viên của WTO tạo ra một môi
6
trường thương mại ổn định, minh bạch và dễ dự đoán. Nội dung bao gồm các
công việc sau:
Về các thoả thuận cắt giảm thuế quan :
Bản chất của thương mại thời WTO là các thành viên dành ưu đãi, nhân
nhượng thuế quan cho nhau. Song để chắc chắn là các mức thuế quan đã đàm
phán phải được cam kết và không thay đổi theo hướng tăng thuế suất, gây bất
lợi cho đối tác của mình, sau khi đàm phán, mức thuế suất đã thoả thuận sẽ
được ghi vào một bản danh mục thuế quan. Ðây gọi là các mức thuế suất ràng
buộc. Nói cách khác, ràng buộc là việc đưa ra danh mục ấn định các mức thuế
ở mức tối đa nào đó và không được phép tăng hay thay đổi theo chiều hướng
bất lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài. Một nước có thể sửa đổi, thay đổi
mức thuế đã cam kết, ràng buộc chỉ sau khi đã đàm phán với đối tác của mình
và phải đền bù thiệt hại do việc tăng thuế đó gây ra.
Về các biện pháp phi thuế quan :
Biện pháp phi thuế quan là biện pháp sử dụng hạn ngạch hoặc hạn chế
định lượng khác như quản lý hạn ngạch. Các biện pháp này dễ làm nảy sinh tệ
nhũng nhiễu, tham nhũng, lạm dụng quyền hạn, bóp méo thương mại, gây
khó khăn cho doanh nghiệp, làm cho thương mại thiếu lành mạnh, thiếu minh
bạch, cản trở tự do thương mại. Do đó, WTO chủ trương các biện pháp này sẽ
bị buộc phải loại bỏ hoặc chấm dứt.
Ðể có thể thực hiện được mục tiêu này, các hiệp định của WTO yêu cầu
chính phủ các nước thành viên phải công bố thật rõ ràng, công khai ("minh
bạch") các cơ chế, chính sách, biện pháp quản lý thương mại của mình.
Ðồng thời, WTO có cơ chế giám sát chính sách thương mại của các nước
thành viên thông qua Cơ chế rà soát chính sách thương mại.
4.4. Tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng hơn
động hơn trong việc thực hiện các hiệp định của WTO, cụ thể là thời gian
quá độ thực hiện dài hơn để các nước này điều chỉnh chính sách của mình.
Ngoài ra, WTO cũng quyết định các nước kém phát triển được hưởng những
hỗ trợ kỹ thuật ngày một nhiều hơn.
8
II. Các Cơ Hội Và Thách Thức Của
Việt Nam Khi Gia Nhập WTO
1. Cơ Hội :
- Được tiếp cận thị trường hàng hoá và dịch vụ ở tất cả các nước thành
viên với mức thuế nhập khẩu đã được cắt giảm và các ngành dịch vụ mà các
nước mở cửa theo các Nghị định thư gia nhập của các nước này, không bị phân
biệt đối xử. Điều đó, tạo điều kiện cho chúng ta mở rộng thị trường xuất khẩu
và trong tương lai - với sự lớn mạnh của doanh nghiệp và nền kinh tế nước ta -
mở rộng kinh doanh dịch vụ ra ngoài biên giới quốc gia. Với một nền kinh tế
có độ mở lớn như nền kinh tế nước ta, kim ngạch xuất khẩu luôn chiếm trên
60% GDP thì điều này là đặc biệt quan trọng, là yếu tố bảo đảm tăng trưởng.
- Với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế theo cơ chế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện công khai minh bạch các thiết chế
quản lý theo quy định của WTO, môi trường kinh doanh của nước ta ngày
càng được cải thiện. Đây là tiền đề rất quan trọng để không những phát huy
tiềm năng của các thành phần kinh tế trong nước mà còn thu hút mạnh đầu
tư nước ngoài, qua đó tiếp nhận vốn, công nghệ sản xuất và công nghệ quản
lý, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra công ăn việc làm và chuyển
dịch cơ cấu lao động, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, bảo
đảm tốc độ tăng trưởng và rút ngắn khoảng cách phát triển.
Thực tế trong những năm qua đã chỉ rõ, cùng với phát huy nội lực, đầu
tư nước ngoài có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta và xu thế này
ngày càng nổi trội: năm 2006, đầu tư nước ngoài chiếm 37% giá trị sản xuất
công nghiệp, gần 56% kim ngạch xuất khẩu và 15,5% GDP, thu hút hơn một
triệu lao động trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
nhập khẩu phải cắt giảm từ mức trung bình 17,4% hiện nay xuống mức
trung bình 13,4% trong vòng 3 đến 5 năm tới, nhiều mặt hàng còn giảm
mạnh hơn.
Cạnh tranh không chỉ diễn ra ở cấp độ sản phẩm với sản phẩm, doanh
nghiệp với doanh nghiệp. Cạnh tranh còn diễn ra giữa nhà nước và nhà nước
trong việc hoạch định chính sách quản lý và chiến lược phát triển nhằm phát
huy nội lực và thu hút đầu tư từ bên ngoài. Chiến lược phát triển có phát huy
10
được lợi thế so sánh hay không, có thể hiện được khả năng “phản ánh vượt
trước” trong một thế giới biến đổi nhanh chóng hay không. Chính sách quản
lý có tạo được chi phí giao dịch xã hội thấp nhất cho sản xuất kinh doanh
hay không, có tạo dựng được môi trường kinh doanh, đầu tư thông thoáng,
thuận lợi hay không…
Tổng hợp các yếu tố cạnh tranh trên đây sẽ tạo nên sức cạnh tranh của
toàn bộ nền kinh tế, sức cạnh tranh quốc gia.
- Trên thế giới sự “phân phối” lợi ích của toàn cầu hoá là không đồng
đều. Những nước có nền kinh tế phát triển thấp được hưởng lợi ít hơn. Ở
mỗi quốc gia, sự “phân phối” lợi ích cũng không đồng đều. Một bộ phận dân
cư được hưởng lợi ít hơn, thậm chí còn bị tác động tiêu cực của toàn cầu
hoá; nguy cơ phá sản một bộ phận doanh nghiệp và nguy cơ thất nghiệp sẽ
tăng lên, phân hoá giàu nghèo sẽ mạnh hơn. Điều đó đòi hỏi phải có chính
sách phúc lợi và an sinh xã hội đúng đắn; phải quán triệt và thực hiện thật tốt
chủ trương của Đảng: “Tăng trưởng kinh tế đi đôi với xoá đói, giảm nghèo,
thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển”.
- Hội nhập kinh tế quốc tế trong một thế giới toàn cầu hoá, tính tuỳ thuộc
lẫn nhau giữa các nước sẽ tăng lên. Sự biến động trên thị trường các nước sẽ
tác động mạnh đến thị trường trong nước, đòi hỏi chúng ta phải có chính sách
kinh tế vĩ mô đúng đắn, có năng lực dự báo và phân tích tình hình, cơ chế quản
lý phải tạo cơ sở để nền kinh tế có khả năng phản ứng tích cực, hạn chế được
ảnh hưởng tiêu cực trước những biến động trên thị trường thế giới. Trong điều