TIỂU LUẬN:
Tín dụng ngân hàng đối với
doanh nghiệp vừa và nhỏ trong
nền kinh tế thị trường Lời mở đầu
Khoá luận nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng tín dụng ngân hàng
đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng Thương mại trong nền kinh tế thị trường.
Ngoài ra, khoá luận còn xem xét thực trạng chất lượng tín dụng ngân hàng đối với doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại Sở giao dịch I - Ngân hàng Công thương Việt Nam dựa trên các chỉ
tiêu cơ bản. Đồng thời, trên cơ sở thực tiễn và lý luận, khoá luận đặc biệt quan tâm tới việc
đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
tại Sở giao dịch I Ngân hàng Công thương Việt Nam.
3. Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu của khoá luận chủ yếu tập trung nghiên cứu tình hình tín
dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Sở giao dịch I - Ngân hàng Công thương Việt
Nam.
- Phạm vi nghiên cứu : Tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận liên quan đến
chất lượng hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Sở giao dịch I- Ngân
hàng Công thương Việt Nam từ năm 2004 đến năm 2006, từ đó đề xuất một số định
hướng, giải pháp góp phần nâng cao chất lượng tín dụng nói chung của Sở giao dịch I.
Ngoài phần mở đầu, kết luận khoá luận được trình bày ở 3 Chương:
Chương 1: Lý luận chung về chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
tại Ngân hàng Thương mại.
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Sở
giao dịch I - Ngân hàng Công thương Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa
và nhỏ tại Sở giao dịch I – Ngân hàng Công thương Việt Nam.
nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và có số lao động trung bình hàng năm dưới 200
người”.
Như vậy, tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có đăng ký kinh
doanh như: các DNNN đăng ký theo luật DNNN; các Công ty cổ phần, Công ty TNHH và
các doanh nghiệp tư nhân đăng ký hoạt động theo luật Công ty, luật doanh nghiệp tư nhân,
luật doanh nghiệp và luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; các HTX đăng ký hoạt động
theo luật HTX; các cá nhân và nhóm sản xuất- kinh doanh đăng ký theo NĐ66-HĐBT,
đồng thời các doanh nghiệp này thoả mãn 2 tiêu thức về vốn và lao động theo công văn
681/CP-KTN đều được coi là DNVVN. Với cách phân loại này, ở Việt Nam số DNVVN
chiếm khoảng 96% tổng số doanh nghiệp hiện có.
Tuy nhiên, cùng với tốc độ phát triển nhanh của nền kinh tế khi bước vào Kỷ
nguyên mới, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của các DNVVN, các tiêu chí đánh giá
DNVVN cũng được nâng lên một bậc nhằm khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng sản
xuất và giảm tỷ lệ thất nghiệp. Ngày 23/11/2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định
90/NĐ-CP/2003 về: “ Trợ giúp phát triển DNVVN”. Theo Nghị định này thì DNVVN
được định nghĩa: “DNVVN là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh
theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung
bình hàng năm không quá 300 người”. Căn cứ vào tình hình kinh tế – xã hội cụ thể của
ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể
linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu về vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu
nói trên.
1.1.2. Đặc điểm của DNVVN.
Là một doanh nghiệp nhưng với quy mô vừa và nhỏ nên bên cạnh những đặc điểm
cơ bản của một doanh nghiệp thông thường, DNVVN còn có một số đặc điểm riêng biệt
sau:
- DNVVN tồn tại và phát triển ở mọi thành phần kinh tế bao gồm các loại hình doanh
nghiệp như: Doanh nghiệp Nhà nước, Công ty cổ phần, Công ty TNHH, doanh nghiệp tư
gặp khó khăn trong giai đoạn mới hình thành, phần lớn là khó khăn về vốn. Các NHTM
cũng như các tổ chức tài chính khác thường e ngại, không muốn cho DNVVN vay vốn bởi
vì họ chưa có quá trình kinh doanh uy tín và chưa tạo lập được khả năng trả nợ. Điều này
ngăn cản sự mở rộng doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn khác như:
thiếu sức cạnh tranh trên thị trường, không kịp thời cải tiến công nghệ sản xuất, khó có
điều kiện nâng cao chất lượng lực lượng lao động.
- Cơ sở vật chất kĩ thuật, trình độ thiết bị công nghệ thường yếu kém, lạc hậu, ít có
khả năng huy động vốn để đầu tư đổi mới công nghệ giá trị cao: Do nguồn vốn nhỏ và sự
hiểu biết còn hạn chế, thông thường các DNVVN chỉ sử dụng các công nghệ trung bình,
đơn giản nên năng suất lao động thấp, làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Rất ít DNVVN được trang bị công nghệ hiện đại, trừ khi liên doanh với nước ngoài. Hơn
nữa các DNVVN rất khó có thể vay được một khoản tín dụng trung dài hạn cần thiết để
nâng cấp công nghệ. So với các doanh nghiệp Nhà nước, các DNVVN rất khó tiếp cận với
thị trường công nghệ máy móc và thiết bị Quốc tế. Do thiếu thông tin về thị trường này,
các DNVVN cũng khó tiếp cận những dịch vụ tư vấn hỗ trợ trong việc xác định công nghệ
thích hợp và hiệu quả, giúp họ cải tiến và nâng cao sức cạnh tranh.
- Khả năng tiếp cận thông tin và tiếp thị của các DNVVN bị hạn chế rất nhiều. Do
quy mô nhỏ và không có mạng lưới, các mối quan hệ rộng nên DNVVN không có hệ
thống cung cấp thông tin chuyên môn, không nắm được tình hình biến đổi bên ngoài
doanh nghiệp mình như: nguyên liệu, mặt hàng, trình độ công nghệ, đối thủ cạnh tranh
Các DNVVN không có bộ phận chuyên trách về thu thập và xử lý thông tin. Nguồn vốn tài
chính có hạn, chúng không đủ kinh phí để mua sắm các thiết bị phục vụ công tác thông tin
nhanh chóng, kịp thời nói riêng và chi phí cho hoạt động tiếp cận, thu thập, xử lý thông tin
nói chung. Trình độ tri thức và năng lực thu thập, xử lý thông tin của các chủ DNVVN còn
hạn chế.
- Trình độ quản lý ở các DNVVN còn bị hạn chế: Nhiều chủ doanh nghiệp tư nhân
không có kiến thức quản lý, không có trình độ chuyên môn, thậm chí trình độ văn hoá
GDP.
- DNVVN tham gia cung cấp một khối lượng hàng hoá đáng kể trong xã hội, đóng
vai trò quan trọng trong lưu thông hàng hoá, cung ứng dịch vụ và có vai trò bổ sung cho
các doanh nghiệp lớn: Từ lợi thế về quy mô, DNVVN hoạt động trong hầu hết các lĩnh
vực, các ngành nghề, kể cả các loại hàng hoá mang tính chất vùng, địa phương. Với nguồn
lực sẵn có của địa phương cùng với đội ngũ nhân công lành nghề của doanh nghiệp, rất
nhiều sản phẩm được ra đời đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.
- Sự có mặt của các DNVVN đã tham gia giải quyết một số lượng lớn lao động, tăng
thu nhập cho người lao động, đặc biệt là lao động giản đơn, lao động thủ công, làm giảm
sức ép việc làm trong xã hội, góp phần xoá đói giảm nghèo. Mặc dù số lượng lao động của
từng DNVVN không nhiều nhưng lại chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng số các doanh nghiệp
nên DNVVN thu hút lượng lao động lớn của toàn xã hội, khoảng 50 – 80%.
- DNVVN có khả năng khai thác, phát huy các nguồn lực và tiềm năng tại chỗ của
các địa phương, các nguồn tài chính trong dân. Do tính chất nhỏ bé, quy mô vốn ban đầu
không nhiều nên DNVVN có thể được thành lập ở tất cả địa phương, tận dụng được những
lợi thế ngay tại chỗ, giảm chi phí sản xuất, tránh gây lãng phí nguồn lực sẵn có. Khu vực
DNVVN thu hút được khá nhiều vốn trong dân tham gia vào sản xuất kinh doanh, góp
phần làm tăng nội bộ nền kinh tế. Điều này đặc biệt quan trọng trong quá trình CNH-HĐH
ở các nước đang phát triển.
- DNVVN đáp ứng tích cực, kịp thời nhu cầu tiêu dùng ngày càng phong phú, đa
dạng của xã hội mà các doanh nghiệp lớn không thể làm được.
- Hình thành và phát triển đội ngũ các nhà kinh doanh năng động: Cùng với việc phát
triển các DNVVN là sự xuất hiện ngày càng nhiều hơn các nhà kinh doanh sáng lập. Đây
sẽ là nơi đào tạo, rèn luyện các nhà kinh doanh làm quen với môi trường kinh doanh. Bắt
đầu từ kinh doanh quy mô nhỏ và thông qua điều hành, quản lý quy mô vừa và nhỏ, một số
nhà doanh nghiệp trưởng thành lên thành những nhà doanh nghiệp lớn, tài ba. Đây là lực
lượng rất cần thiết góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh ở những nước đang phát triển
cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán”.
Từ định nghĩa tín dụng trên ta có khái niệm về tín dụng ngân hàng:
“Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng vốn giữa ngân hàng với các chủ
thể kinh tế khác trong xã hội, trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay vừa là
người cho vay”.
1.2.1.2 Đặc trưng của tín dụng ngân hàng:
- Tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên cơ sở lòng tin. Nếu không có lòng tin thì
không thể có quan hệ tín dụng bởi vì khi người cho vay tin tưởng người đi vay sẽ sử dụng
vốn vay có hiệu quả và hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi cho người cho vay thì lúc đó mới
thiết lập quan hệ tín dụng.
- Tín dụng là quan hệ vay mượn trên nguyên tắc có hoàn trả và có thời hạn, người đi
vay chỉ được sử dụng tạm thời vốn vay trong một thời gian nhất định, sau khi hết thời hạn
sử dụng thoả thuận thì người đi vay hoàn trả cho người cho vay.
- Giá trị vay được trả thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay hay nói cách khác
người đi vay phải trả thêm phần lãi.
- Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng luôn bị chi phối bởi các quy luật
khách quan như quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị và quy luật lưu
thông tiền tệ.
- Hoạt động TDNH trong nền kinh tế thị trường luôn chứa đựng khả năng rủi ro vì
nếu người vay vốn hoạt động kinh doanh có hiệu quả thì mới trả được cho ngân hàng.
Trong khi đó, có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến người vay như: Giá cả thị trường biến
động, thiên tai , khủng hoảng kinh tế, chính trị … vì vậy sự tồn tại và phát triển hoạt động
kinh doanh của người vay giúp cho ngân hàng tránh được rủi ro.
1.2.1.3. Phân loại tín dụng ngân hàng:
Theo điều 49, luật các tổ chức tín dụng thì: “Các tổ chức tín dụng được cấp tín dụng
cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức: cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có
giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của ngân hàng
Nhà nước”. Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa trên
một số tiêu thức nhất định. Việc phân loại tín dụng có cơ sở khoa học là tiền đề để thiết lập
cỏc quy trỡnh cho vay thớch hợp và nõng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng. Người ta có
+ Cho vay dài hạn: loại cho vay có thời hạn trên 5 năm và thời hạn tối đa có thể lên
đến 20-30 năm, một số trường hợp cá biệt có thể lên đến 40 năm. Loại tín dụng này được
cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như: xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện
vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.
- Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng:
+ Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm như: thế chấp,
cầm cố hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba.
+ Cho vay không có bảo đảm: là loại cho vay không có tài sản thế chấp , cầm cố
hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách
hàng.
- Căn cứ vào phương pháp hoàn trả:
+ Cho vay có thời hạn: là loại cho vay có thoả thuận thời hạn trả nợ cụ thể theo hợp
đồng. Cho vay có thời hạn bao gồm:
. Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ.
. Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ cụ thể.
. Cho vay hoàn trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn trả nợ cụ thể, mà việc trả nợ
phụ thuộc vào khả năng tài chính của người đi vay.
+ Cho vay không có thời hạn cụ thể: đối với loại cho vay không có thời hạn thì ngân
hàng có thể yêu cầu hoặc người đi vay tự nguyện trả nợ bất cứ lúc nào nhưng phải báo
trước một thời gian hợp lí, thời gian này có thể được thoả thuận trong hợp đồng.
- Căn cứ vào xuất xứ tín dụng:
+ Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời
người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
+ Cho vay gián tiếp: Là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các
khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán.
1.2.2. Sự cần thiết của TDNH đối với các DNVVN:
Trong cơ chế cạnh tranh hiện nay, khi mà tất cả các loại hình doanh nghiệp đang phát
cần thiết. Nguồn vốn để mua vật tư, hàng hoá dự trữ cho sản xuất kinh doanh chủ yếu
được bù đắp bằng vốn TDNH. Tuy nhiên, ngân hàng chỉ tập trung cho vay những đối
tượng hàng hoá có chất lượng cao, có sức cạnh tranh tốt, qua đó thúc đẩy việc xác lập cơ
cấu kinh tế mới theo hướng hiện đại.
- TDNH góp phần bảo đảm cho hoạt động của doanh nghiệp được liên tục, thuận lợi,
giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro.
- TDNH góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho DNVVN.
Qua những khía cạnh trên, vai trò của TDNH đối với DNVVN là rất to lớn. Vì vậy
việc nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNVVN là thực sự cần thiết để hoàn thiện một
nền kinh tế, đặc biệt là nền kinh tế nước ta đang trong tiến trình hội nhập Quốc tế.
1.3. Chất lượng tín dụng:
1.3.1. Khái niệm:
Chất lượng tín dụng là sự đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng (người vay tiền),
phù hợp với sự phát triển kinh tế- xã hội và đảm bảo sự tồn tại, phát triển của ngân hàng.
- Trước hết xét dưới góc độ xã hội:
Chất lượng tín dụng phải được đánh giá từ hiệu quả kinh tế- xã hội, có nghĩa là phải
xem xét nó có phục vụ chính sách phát triển kinh tế của Chính phủ và địa phương không?
Tác động của chính sách tín dụng trong việc tăng trưởng và phát triển kinh tế, tăng cường
cơ sở vật chất, kĩ thuật. Nhu cầu của thị trường đối với sản phẩm hàng hoá ra sao? Số
lượng lao động thu hút vào hoạt động tín dụng là bao nhiêu? Nếu số lượng lao động thu
hút vào càng lớn thì giải quyết tốt về mặt xã hội. Số lượng lao động này không chỉ giới hạn
ở số lượng nhân viên ngân hàng mà cả số lao động có viêc làm khi tổ chức kinh tế này
được vay vốn. Ngoài việc xem xét về hiệu quả xã hội, người ta còn đánh giá về hiệu quả
kinh tế như: Lợi nhuận mang lại cho xã hội, vòng quay của vốn, một phần quan trọng đó là
các khoản thuế nộp cho Ngân sách Nhà nước, thực hiện cho vay và sử dụng phải theo đúng
quy định của Pháp luật
- Xét dưới góc độ khách hàng:
cơ rủi ro, người ta nói khoản cho vay đó kém chất lượng. Rủi ro tín dụng bao gồm các
khoản cho vay không thu được nợ (rủi ro mất vốn) và các khoản cho vay được hoàn trả
đúng hạn vì người vay đang tạm thời gặp khó khăn (rủi ro sai hẹn). Phần lớn tài sản có của
ngân hàng là dư nợ cho vay, nếu các khoản cho vay không được hoàn trả hoặc hoàn trả
không đúng hạn thì dần dần ngân hàng sẽ mất khả năng thanh toán dẫn đến phá sản.
Tín dụng dựa vào lòng tin về sự hoàn trả trong tương lai tại một thời điểm xác định.
Lòng tin này xuất phát từ hai chủ thể của quan hệ tín dụng là người đi vay và người cho
vay. Khả năng tài chính và uy tín của mỗi chủ thể là cơ sở tạo dựng lòng tin giữa họ.
Nhưng tất cả những dự báo, dự tính trong tương lai chỉ là tương đối, do vậy khó có thể
khẳng định khoản cho vay có được hoàn trả đúng hạn hay không? Lòng tin và sự rủi ro
luôn luôn tồn tại trong quan hệ tín dụng.
Trong nền kinh tế thị trường, rủi ro là khách quan không thể tránh khỏi. Rủi ro và an
toàn là hai thuật ngữ có ý nghĩa trái ngược nhau, hạn chế rủi ro là nâng cao mức độ an toàn
tín dụng. Rủi ro luôn luôn tiềm ẩn, do vậy trong hoạt động tín dụng cần phải tìm ra được
những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng để từ đó có thể phân tích, đánh giá một cách
chính xác các nguyên nhân và đề ra các biện pháp tích cực để phòng ngừa và hạn chế rủi
ro, từ đó nâng cao chất lượng tín dụng.
- Khả năng sinh lời của ngân hàng do hoạt động tín dụng mang lại:
Chất lượng tín dụng tốt góp phần tăng dư nợ tín dụng, từ đó tăng lãi thu được từ
hoạt động tín dụng. Do tín dụng là hoạt động chủ yếu tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng
thương mại nên chất lượng tín dụng đóng góp vai trò quyết định trong việc tăng khả năng
sinh lời của ngân hàng.
Chất lượng tín dụng tốt góp phần nâng cao uy tín ngân hàng trên thị trường, giúp
ngân hàng thu hút ngày càng nhiều khách hàng, tăng khả năng huy động vốn cũng như khả
năng sử dụng vốn, tăng dư nợ tín dụng, tăng thu nhập từ hoạt động tín dụng và các dịch vụ
đi kèm như: chuyển tiền thanh toán Quốc tế, ngoại hối…
Như vậy, chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh mức độ thích
có nghĩa là nợ quá hạn cao, rủi ro cao.
Còn nếu tỷ lệ nợ quá hạn ở mức ≤ 3% là cân bằng: Một phần là do trên thực tế bất
kỳ một ngân hàng nào dù làm ăn hiệu quả đến đâu cũng không thể có những khoản cho
vay ra mà thu hồi lại được hoàn toàn. Hơn nữa, ở mức ≤ 3% này vẫn đảm bảo mức độ an
toàn và tổng dư nợ cao, tăng khả năng sinh lời cho ngân hàng nên cũng có thể đưa ra nhận
xét chất lượng tín dụng đó là tốt.
1.3.2.2. Thu nhập từ hoạt động cho vay:
Đối với ngân hàng thương mại nói chung và ngân hàng Công thương nói riêng thì
cho vay là nghiệp vụ chủ yếu và thu nhập từ nghiệp vụ này chiếm tỷ trọng rất cao, thông
thường chiếm từ 70 đến 80% trong tổng thu nhập. “Thu nhập từ hoạt động cho vay là số
tiền dôi ra mà ngân hàng thu được do hoạt động cho vay đem lại”.
Thu nhập từ khoản mục này chịu tác động của quy mô khoản mục cho vay và các
chi phí phục vụ cho nó (lãi suất, các chi phí khác). Nếu quy mô cho vay lớn, chi phí nhỏ
thì thu nhập cao và ngược lại nếu quy mô cho vay lớn mà chi phí lại cũng lớn thì thu nhập
của hoạt động này thấp. Khi đánh giá chỉ tiêu này ta phải kết hợp song song giữa thu nhập
từ hoạt động cho vay với chi phí bỏ ra từ hoạt động đó.
Tỷ lệ này được tính bằng:
Thu nhập từ hoạt động cho vay
Chi phí cho hoạt động cho vay
Nếu tỷ lệ trên > 1: Hoạt động kinh doanh tín dụng có lãi
Nếu tỷ lệ trên =1: Hoạt động kinh doanh tín dụng hoà vốn
Nếu tỷ lệ trên <1: Hoạt động kinh doanh tín dụng bị lỗ
Tỷ lệ Thu nhập/Chi phí phản ánh: Cứ một đồng chi phí thì thu về được bao nhiêu
đồng lợi nhuận? Nếu tỷ lệ này cao thì hoạt động tín dụng tốt, chất lượng tín dụng được
nâng cao và ngược lại. Nếu tỷ lệ này năm sau cao hơn năm trước thì chất lượng tín dụng
được cải thiện.
Vậy nên khi dựa vào chỉ tiêu này để đánh giá chất lượng tín dụng thì ta phải xem
xét đồng thời cả tổng thu nhập từ hoạt động cho vay và tỷ lệ Thu nhập/Chi phí của Sở xem
- Về phía ngân hàng
- Nhân tố khách quan khác
1.3.3.1. Về phía ngân hàng:
1.3.2.4. Mức sinh lời của
tín d
ụng=
Thu nhập từ hoạt động tín
d
ụng
Tổng dư nợ
1.3.2.5. Tỷ lệ thu nợ bằng
vi
ệc xử lý TS
=
Doanh số thu nợ bằng xử
lý tài s
ản
Tổng doanh số
thu n
ợ
Tổ chức của ngân hàng cần cụ thể hoá và sắp xếp một cách có khoa học, có tính linh
hoạt trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc tín dụng đã quy định cả về huy động vốn cũng
như cho vay, quản lý tài sản nợ, tài sản có của ngân hàng. Đây là cơ sở để tiến hành nghiệp
vụ tín dụng lành mạnh. Do hoạt động tín dụng có khả năng rủi ro lớn hơn tất cả những loại
hình kinh doanh khác nên cần phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các phòng ban, các bộ
phận trong ngân hàng, cũng như thiết lập quan hệ với cơ quan như: Tài chính, pháp luật.
Thiết lập mối quan hệ này sẽ tạo điều kiện cho quản lý có hiệu quả các khoản vốn tín
dụng, phát hiện và giải quyết kịp thời các khoản tín dụng khi cần thiết.
+ Chất lượng nhân sự:
Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong quản lý vốn tín dụng nói
riêng và đến hoạt động của ngân hàng nói chung. Nghiệp vụ hoạt động ngân hàng càng
phát triển càng đòi hỏi chất lượng nhân sự càng cao để có thể sử dụng các phương tiện làm
việc hiện đại, phù hợp với sự phát triển không ngừng. Việc tuyển chọn nhân sự phải đảm
bảo cả về đạo đức lẫn nghề nghiệp.
Cán bộ tín dụng phải có khả năng phân tích, thẩm định dự án để đánh giá tính khả
thi của dự án, phải phân tích báo cáo tài chính một cách chính xác, phân tích khả năng
quản lý doanh nghiệp và phải biết được năng lực thực sự của khách hàng trước khi thiết
lập quan hệ tín dụng. Trong nhiều trường hợp, khách hàng không nắm bắt được nhu cầu
của thị trường, không phân tích cung cầu, không dự đoán được biến động của thị trường,
nếu cán bộ ngân hàng có kiến thức tư vấn cho khách hàng thì sẽ tránh được rủi ro trong
kinh doanh.
+ Quy trình cho vay:
Quy trình cho vay bao gồm các bước: Chuẩn bị cho vay, phát tiền vay, kiểm tra quá
trình cho vay cho đến khi thu hồi được nợ. Trong quá trình cho vay, bước chuẩn bị rất
quan trọng, làm tốt khâu này sẽ tạo tiền đề cho thu hồi cả vốn lẫn lãi khi đến hạn thanh
toán, tạo điều kiện cho vốn tín dụng luân chuyển nhanh.
Việc thực hiện tốt bước chuẩn bị cho vay tuỳ thuộc vào công tác thẩm định cũng như
đã định.
1.3.3.2. Về phía khách hàng:
Năng lực kinh nghiệm quản lý kinh doanh của khách hàng bị hạn chế. Một số doanh
nghiệp khi cho vay họ lập phương án kinh doanh có hiệu quả, nhưng không tính hết đến
biến động của thị trường nên thua lỗ. Trong số món vay trung và dài hạn nhập máy móc
thiết bị, do phân tích dự án không chính xác dẫn đến máy nhập về không phát huy được tác
dụng, như vậy không hoàn trả được vốn vay cho ngân hàng.
Khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích, nhiều doanh nghiệp dùng tiền vay ngân
hàng không đúng với phương án và mục đích xin vay. Thậm chí họ còn sử dụng vốn ngắn
hạn đầu tư vào tài sản cố định hoặc bất động sản nên không trả nợ đúng hạn.
Nếu ngân hàng có năng lực kinh doanh, kinh nghiệm quản lý, am hiểu thị trường sẽ
góp phần đảm bảo cho khoản cho vay của ngân hàng được an toàn, chất lượng của khoản
cho vay được đảm bảo , ngân hàng sẽ thu được cả gốc và lãi.
1.3.3.3. Yếu tố khác:
- Do cơ chế chính sách thay đổi trong quá trình chuyển đổi cơ chế, các chính sách
phải điều chỉnh là không tránh khỏi, do đó sự điều chỉnh tác động làm ảnh hưởng đến hoạt
động tín dụng ngân hàng, như nghị định 18/CP về quản lý đất đai làm cho nhiều doanh
nghiệp vay vốn kinh doanh bất động sản bị kẹt không trả nợ ngân hàng đúng hạn được.
- Việc sắp xếp lại doanh nghiệp như giải thể, sát nhập không đồng bộ với việc giải
quyết các khoản nợ ngân hàng. Những khoản nợ này dễ trở thành nợ quá hạn, dễ ảnh
hưởng tới chất lượng ngân hàng.
- Môi trường pháp lý về cầm cố, thế chấp tài sản chưa đầy đủ. Nhà nước chưa có luật
xử lý, chưa có cơ quan nào chứng thực tài sản và quản lý quá trình chuyển dịch quyền sở
hữu, cho nên tất cả tài sản của doanh nghiệp nhà nước và nhiều doanh nghiệp quốc doanh
không có chứng nhận sở hữu dẫn đến khi doanh nghiệp thua lỗ, các tài sản đó không đủ cơ
sở pháp lý để phát mại.
- Thị trường thế giới có lúc biến động mạnh, một số thị trường xuất khẩu truyền
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA
VÀ NHỎ TẠI SỞ GIAO DỊCH I – NHCT VIỆT NAM
2.1 Giới thiệu về Sở giao dịch I Ngân hàng công thương Việt Nam:
Sở giao dịch I có trụ sở tại số 10 Lê Lai, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, nơi tập trung
các trung tâm kinh tế, thương mại phát triển, dân cư đụng, trỡnh độ dõn trớ cao, an ninh xó
hội được bảo đảm. Là địa bàn có nhiều cơ quan Nhà nước như: Uỷ ban nhân dân Thành
phố Hà Nội, Bưu điện Hà Nội, nhiều NHTM… đặc biệt tập trung nhiều Công ty lớn, các
doanh nghiệp vừa và nhỏ có tiềm lực tài chính mạnh, nên hoạt động kinh doanh thương
mại phát triển. Kinh doanh trên địa bàn có nhiều lợi thế nhưng cũng nhiều đối thủ cạnh
tranh, Sở giao dịch I luôn khẳng định được vị thế của mỡnh, luụn đổi mới để phát triển, có
nhiều đúng gúp quan trọng vào lộ trỡnh đổi mới và phát triển kinh tế của Thủ đô cũng như
của ngành ngân hàng.
2.1.1.Sự hình thành và phát triển của sở giao dịch I-Ngân hàng công thương
Việt Nam.
trên các mặt : Huy động vốn, mở rộng hoạt động kinh doanh, công nghệ tin học được phát
triển rộng rãi, sản phẩm dịch vụ mới ra đời. Sở giao dịch I là một trong hai Sở giao dịch
lớn nhất của hệ thống Ngân hàng Công thương Việt Nam (hàng năm Sở đã tạo khoảng 4%
lợi nhuận cho Ngân hàng Công thương Việt Nam ). Có trụ sở đặt tại số 10 Lê Lai- quận
Hoàn Kiếm Hà -Nội, khu trung tâm kinh tế chính trị - xã hội của thủ đô, do vậy Sở giao
dịch I có uy thế và điều kiện thuận lợi để phát huy vai trò và các hoạt động kinh doanh của
mình.
Sở giao dịch I hoạt động có con dấu, được mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước và
các tổ chức tín dụng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng Công thương
Việt Nam.
2.1.2 Mô hình tổ chức bộ máy điều hành của Sở giao dịch I-Ngân hàng Công
thương Việt nam.
Từ ngày 20/10/2005 Sở giao dịch I-Ngân hàng Công thương Việt nam hoạt động theo
mô hình hiện đại hoá Ngân hàng theo quyết định số 090/QĐ/HĐQT-NHCT ngày
04/06/2005 gồm có các bộ phận, phòng ban nghiệp vụ sau:
Ban giám đốc:
Gồm có 1 Giám đốc và 4 phó Giám đốc. Trong đó, Giám đốc là người quy định chức
năng nhiệm vụ chi tiết cho từng phòng, ban nghiệp vụ tại Sở phù hợp với mô hình tổ chức
và phương thức quản lý mới nhưng không trái với chức năng nhiệm vụ mà HĐQT - Ngân
hàng Công thương Việt Nam quy định.
Các phòng nghiệp vụ: Sở giao dịch I có 11 phòng nghiệp vụ.
Phòng kế toán giao dịch: Là phòng nghiệp vụ thực hiện các giao dịch trực tiếp với
khách hàng, cung cấp dịch vụ ngân hàng liên quan đến nghiệp vụ thanh toán, xử lý hạch
toán các giao dịch theo quy định của Nhà nước và của ngân hàng Công thương Việt Nam.
Quản lý và chịu trách nhiệm đối với hệ thống giao dịch trên máy, quản lý quỹ tiền mặt đến
từng giao dịch viên, thực hiện nhiệm vụ tư vấn cho khách hàng về sử dụng các sản phẩm
của ngân hàng.
Phòng thanh toán xuất nhập khẩu: Là phòng nghiệp vụ tổ chức thực hiện nghiệp vụ
về thanh toán xuất nhập khẩu , tài trợ thương mại tại chi nhánh theo quy định của Ngân
hàng Công thương Việt Nam.