Tài liệu tham khảo - Ngữ văn 12 GV: Đinh Quang Phương
MỘT SỐ ĐỀ NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
I. NGHỊ LUẬN VỀ TƯ TƯỞNG ĐẠO LÍ:
ĐỀ: “Người hạnh phúc là người đem đến hạnh phúc cho nhiều người khác” (Đi-đơ-
rô). Suy nghĩ của em về câu nói trên?
1. Mở bài:
- Hạnh phúc là mục đích mà cả nhân loại hằng ao ước muôn đời. Hạnh phúc là gì? Sống
như thế nào để có hạnh phúc.
- Đi-đơ-rô, nhà tư tưởng lớn của nước Pháp đã có câu trả lời đáng cho mọi người suy
nghĩ.
2. Thân bài :
- Luận điểm 1: Trả lời câu hỏi: Hạnh phúc là gì? Câu nói có ý nghĩa gì?
+ Có nhiều cách trả lời khác nhau: là sự thoả mãn những khao khát trong đời sống; là
sự thành công sau những thất bại để đạt được mục đích đã được đặt ra.
+ Điều chung nhất của hạnh phúc: sự mãn nguyện, cảm thấy mình đã sống đúng với ý
nghĩa của sự sống.
- Luận điểm 2: Đánh giá ý nghĩa câu nói
+ Câu nói đã khẳng định một số lối sống đúng đắn, tốt đẹp. Hạnh phúc của một các
nhân phải gắn liền với hạnh phúc của người khác.
+ Đây cũng là lối sống mà các bậc hiền triết ngày xưa, dân tộc ta luôn đề cao. Dẫn
chứng: Đạo phật khuyên người ta yêu thương muôn loài, dân tộc khuyên “Thương người
như thể thương thân…”; vua Lí Thánh Tông thấy con gái mình mặc áo ấm mà thương
cho những tù nhân giá rét trong ngục…
- Luận điểm 3: Bàn bạc, nêu ý kiến bản thân: Sống như thế nào là đem đến hạnh
phúc cho nhiều người?
+ Là làm được những viện to lớn, thoả mãn niềm mong ước của nhiều người, của nhân
loại. Dẫn chứng: nhà phát minh, một bậc anh hùng giải phóng dân tộc.
+ Trong cuộc sống đời thường: hết lòng giúp đỡ người khác không chỉ một lần mà là suốt
cả cuộc đời.Dẫn chứng: Nhà bác học Pax-tơ hạnh phúc khi cứu được em bé và tìm được
thuốc chủng ngừa; một bà xơ chăm sóc những người bị bệnh phong,…
+ Đạo lí của câu nói đòi hỏi hành động tích cực: không chỉ yêu thương mà còn “đem lại
- Luận điểm 4: Rút ra bài học cho bản thân.
+ Luận cứ 1: Dù tiến thân bằng con đường nào, cũng phải coi việc học là công việc suốt
đời.
+ Luận cứ 2: Không ngừng học tập để bổ sung kiến thức…
3. Kết bài:
- Coi chuyện vào đại học sau 12 năm là niềm mong ước đẹp đẽ, cần tập trung và cố gắng
thực hiện bằng được.
- Nhưng đó chỉ là một trong những con đường đi đến sự thành công ở đời.
2
Tài liệu tham khảo - Ngữ văn 12 GV: Đinh Quang Phương
ĐỀ: Có một lần nào đó, đang đi trên đường, em chợt nhìn thấy một cảnh tượng ngộ
nghĩnh: Hai người đàn ông đi xe đạp chẳng may đụng xe vào nhau, cả hai người ngã.
Sau đó, cả hai cùng đứng dậy, mỗi người nhìn thoáng vào xe mình, gật đầu chào
nhau và đựng xe đi tiếp. Em nghĩ gì về câu chuyện đó?
Dàn ý:
1. Mở bài:
- Kể lại câu chuyện theo đề bài.
- Từ câu chuyện gợi chúng ta suy nghĩ gì?
2. Thân bài:
- Luận điểm 1: Một câu chuyện tưởng buồn mà thành vui.
+ Thật không vui khi phải chứng kiến một tai nạn giao thông dù nhỏ, nhất là trong một
buổi sáng đẹp trời.
+ Nhưng thật bất ngờ, tình huống được giải quyết một cách nhanh chóng và giản dị như
vậy.
+ Điều vui nhất: họ đã có cách ứng xử thật văn hoá.
- Luận điểm 2: Từ câu chuyện nhỏ, gợi cho ta những điều lớn hơn.
+ Ta cũng có khi lâm vào tình huống như vậy, nhưng cách ứng xử thì khác hẳn: cãi vả,
cho mình là người có lí, có thể xông vào không nhịn được…
+ Đã có không ít những trường hợp dẫn đến kết quả đáng buồn, đáng tiếc. Ngay cả bản
thân mình cũng như vậy.
- Hoàn cảnh sáng tác bài thơ: Tháng 10 năm 1954, sau thắng lợi của cuộc kháng chiến
chống Pháp, thủ đô Hà Nội được giải phóng, Tố Hữu rời rừng núi Việt Bắc trở về Hà
Nội. Nhà thơ đã dành cho cuộc chia li này một trong những bài thơ đặc sắc nhất: bài thơ
Việt Bắc (tập thơ Việt Bắc – 1955).
- Dẫn vào đoạn thơ: Nhắc lại những kỉ niệm từng gắn bó với Việt Bắc, Tố Hữu có
những đoạn thơ tưởng có thể đặt vào một trong những hợp tuyển những bài ca dao ngợi
ca quê hương đất nước:
“ Ta về, mình có nhớ ta
……
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”
II. THÂN BÀI:
a. Nhận xét chung về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ:
- Cũng như cả bài thơ, đoạn thơ được viết theo thể lục bát của dân tộc, một thứ lục bát
với những lời thơ dể hiểu, giản dị và giàu hình ảnh như ca dao. Đặc biệt, trong đoạn thơ
này, cũng như toàn bài thơ, cảm xúc của nhà thơ được thể hiện qua những lời đối thoại
giữa kẻ ở với người đi trong một cuộc tiễn đưa. Đại từ dùng để xưng hô là cặp đại từ
“mình – ta”, gợi nhớ những câu ca quen thuộc ngày xưa:
“ Mình về có nhớ ta chăng
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười”.
- Đi theo phong cách diễn tả của ca dao, Tố Hữu tạo nên trong đoạn thơ những bức tranh
phong cảnh với những nét chấm phá, tả ít mà gợi nhiều.
b. Khẳng định nỗi nhớ Việt Bắc là nhớ thiên nhiên và con người:
“Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người”.
- Trong bài thơ của Tố Hữu, hai đại từ “mình – ta” được luân chuyển vị trí, khi thì là
người ở, khi thì là người ra đi. Riêng trong đoạn thơ này, ta là người ra đi là Tố Hữu,
mình là người ở lại, là Việt Bắc. Người ra đi muốn hỏi người ở lại: không biết sau khi ta
về xuôi rồi, người ở lại có còn nhớ ta nữa chăng?
- Đây chỉ là câu hỏi mang tính tu từ, hỏi để tạo cái cớ cho người ra đi khẳng định về
chính mình. Người ở lại có thể hiểu rằng: Sau khi ta về xuôi rồi, không biết người ở lại có
vẫn là người lao động bình dị, nhưng công việc gợi lên không khí tĩnh lặng, thanh bình:
“chuốt giang”, “đan nón”. Nhà thơ làm rõ không khí ấy bằng hình ảnh và cả thanh điệu:
“chuốt” – “từng sợi giang”.
e. Bức tranh thứ ba, mùa hạ:
“Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình”.
- Rừng trong tranh lúc này là “rừng phách”, lại là rừng phách với màu vàng.
- Cấu trúc của câu thơ (“Ve” – “kêu rừng phách đổ vàng”) còn như cho phép người đọc
hiểu rằng: tiếng ve kêu khiến rừng phách đổ sang màu vàng, bởi cái màu vàng của rừng
phách nhẹ quá, lung linh quá. Thật ra, theo đúng lo-gích, nghĩa của câu thơ là nghe tiếng
ve kêu, thấy rừng phách đổ vàng.
- Câu thơ gợi một không gian lấp lánh màu vàng: Màu vàng trên cao, mùa vàng phủ đầy
mặt đất, mùa vàng lơ lửng giữa trời…
- Giữa màu vàng ấy, có những bước chân của một cô gái nhỏ Việt Bắc đang hái măng
trong rừng. Thật tĩnh lặng và đáng yêu.
+ Tố Hữu không chỉ nói cô gái, mà nói là “cô em gái”, rất trìu mến.
5
Tài liệu tham khảo - Ngữ văn 12 GV: Đinh Quang Phương
+ Tố Hữu gọi việc lấy măng là “hái măng”, giống như việc hái hoa hái quả. Thật ra, việc
lấy măng rừng không phải là việc nhẹ nhàng như hái hoa hái quả.
+ Hình ảnh “cô em gái” còn thêm hai tiếng “một mình”, khiến cho bức tranh càng tăng
thêm vẻ yên bình.
g. Bức tranh thứ tư, mùa thu Việt Bắc:
“Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”.
- Bức tranh rất đặc biệt: rừng, không rõ rừng gì, chỉ biết là “rừng thu”. Màu của rừng
cũng là màu của “trăng rọi hoà bình”, màu của ánh trăng toả xuống lá rừng.
- Bốn tiếng “trăng rọi hoà bình” gợi lên hai liên tưởng: Ánh trăng dịu dàng, yên ả toả
xuống rừng thu; cũng có thể hiểu là ánh trăng chiếu rọi phong cảnh hoà bình, trong một
đêm thu hoà bình sau khi chiến tranh vừa kết thúc.
DÀN BÀI THAM KHẢO:
I. MỞ BÀI
- Việt Bắc là một bài thơ hay của Tố Hữu và là một thành tựu xuất sắc của nền thơ kháng
chiến chống Pháp 1945 – 1954.
- Nội dung cảm xúc của bài thơ là nỗi nhớ - một nỗi nhớ hướng tới nhiều đối tượng cụ
thể vừa khác biệt vừa thống nhất với nhau. Ở đoạn thơ sau, nỗi nhớ như xoáy vào những
ngày tháng hào hùng của cuộc kháng chiến.
(… Trích dẫn… )
II. THÂN BÀI:
- Trong tám câu thơ đầu, nhà thơ vẽ lại rất sống động hình ảnh những đêm Việt Bắc
trong mùa chiến dịch. Ban ngày kẻ thù đánh phá ác liệt, nhưng ban đêm ưu thế thuộc về
chúng ta. Hai từ “của ta” nằm cuối câu thứ nhất thể hiện rõ ý thức làm chủ của người
kháng chiến đối với quê hương, đất nước.
+ Khí thế trận bừng bừng của quân ta được miêu tả hết sức chân thực bằng những hình
ảnh gân guốc, khoẻ khoắn; bằng những từ tượng hình, tượng thanh chính xác; bằng một
so sánh thoáng nhìn qua không có gì mới mẻ nhưng thực chất lại có ý vị: “Đêm đêm rầm
rập như là đất rừng”, “Sau Toàn quốc kháng chiến trong vô số hình ảnh quanh ta thì
hình ảnh con đường, những con đường đập mạnh vào mắt ta, tâm óc ta nhiều nhất. Con
đường đã là một sự” (Nguyễn Tuân-Đường vui).
+ Nét lãng mạn trong đời sống kháng chiến cũng được nói tới bằng hình ảnh vừa giàu ý
nghĩa tả thực, vừa thấm đẫm tính tượng trưng: “ánh sao đầu súng, bạn cũng mũ nan”.
+ Tuy mô tả cảnh ban đêm, nhưng bức tranh thơ Tố Hữu giàu chi tiết nói về ánh sáng:
ánh sáng của sao trời, của lửa đuốc, của đèn pha…Sự so sánh “Đèn pha bật sáng như
ngày mai lên” tuy có vẻ cường điệu nhưng phản ánh đúng niềm phấn chấn tràn ngập lòng
người kháng chiến.
- Để thể hiện không khí chiến thắng, tác giả lặp lại nhiều lần từ “vui” và đưa vào thơ một
loạt địa danh thuộc cả 3 miền Bắc, Trung , Nam, quyện hoà, xoắn xuýt với nhau. So với
những nhà thơ khác như Quang Dũng, Hoàng Cầm, cách sử dụng địa danh của Tố Hữu
vẫn có những nét riêng độc đáo.
III. KẾT BÀI:
a. Trước khi đi vào phân tích đoạn thơ, ta cần biết một chút về nguyên mẫu của
nhân vật này.
- Đầu năm 1947, sau khi cuộc kháng chiến toàn quốc vừa bùng nổ, một đơn vị bộ đội
được thành lập, từ Hà Nội hành quân về biên giới phía Tây, có nhiệm vụ vừa cùng với bộ
đội Lào kháng chiến, vừa chặn đánh mũi tên tiến quân của giặc Pháp từ Thượng Lào vào
nước ta. Những ngày đầu kháng chiến, cuộc sống của anh bộ đội đã cực kì gian khổ,
những ngày hành quân giữa núi rừng biên giới phía Tây càng gian khổ bội phần.
- Điều đặc biệt nhất của đoàn quân Tây Tiến là hầu như tất cả người trong đơn vị đều từ
Hà Nội ra đi, cái chất chung của đơn vị là “chất Hà Nội”. Quang Dũng, vốn đã sống
nhiều năm ở Hà Nội, trở thành một đại đội trưởng của đơn vị. Đoàn quân Tây Tiến tồn tại
không lâu, chỉ đến đầu năm 1948 thì hoàn thành nhiệm vụ, được rút về nước, giải thể để
thành lập đơn vị mới.
- Riêng Quang Dũng, chuyển công tác sang làm văn hoá văn nghệ tại Quân khu. Chính ở
đây, nơi một làng quê có tên là Phù Lưu Chanh, vào khoảng cuối năm 1948, nhớ về đơn
vị cũ, Quang Dũng đã viết bài thơ Nhớ Tây Tiến, về sau đổi thành Tây Tiến.
b. Bức chân dung người chiến sĩ với những nét độc đáo cả ngoại hình lẫn nội tâm.
- Đây là hai nét về ngoại hình của họ:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
- Giống như một lời định nghĩa, Tây Tiến là một đoàn binh của những người không mọc
tóc. Thật độc đáo, đến như là quái dị. Nhưng ở đây, đằng sau sự độc đáo ấy là sự thật của
cuộc đời, hào hùng và bi thương.
8
Tài liệu tham khảo - Ngữ văn 12 GV: Đinh Quang Phương
+ Có một thời của cuộc kháng chiến chống Pháp, gian khổ thiếu thốn đến vô cùng, anh
bộ đội còn có những tên gọi rất ngộ nghĩnh: Vệ trọc, Vệ túm. Vệ trọc bởi vì thiếu ăn, đau
ốm, tóc rụng hết, phải trọc đầu. Vệ túm bởi vì áo quần rách rưới, phải túm trước túm sau.
+ Quang Dũng không nói về trọc mà nói không mọc tóc vì cách nói này độc đáo hơn,
đậm chất Tây Tiến hơn, ngộ nghĩnh mà cũng ngang tàng hơn. Nhà thơ như muốn nói, anh
bộ đội ở đâu cũng gian khổ, thiếu thốn, nhưng không đầu bằng Tây Tiến. Hơn nữa,
chân dung người chiến sĩ Tây Tiến trở nên trọn vẹn:
- Nỗi nhớ của Quang Dũng là một câu thơ rất buồn:
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
+ Nhịp thơ chậm, mỗi từ đều gợi lên cảm xúc buồn.
+ Từ câu thơ, hiện lên một bức tranh rất buồn: Một vùng đất biên cương, rải rác những
nấm mồ hiu quạnh…
+ Hình ảnh này đã có sẵn từ Chinh phụ ngâm khi nói về người tử trận với những nấm
mồ:
9
Tài liệu tham khảo - Ngữ văn 12 GV: Đinh Quang Phương
Non Kì quạnh quẽ trăng treo
Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò
Hồn sĩ tử gió ù ù thổi
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi….
- Từ câu thơ rất buồn, Quang Dũng đến một câu rất đẹp, không phải nói về cái chết mà
nói về lẽ sống của con người:
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
+ Như một lẽ sống, câu thơ còn vang lên như một lời thề trước lúc lên đường của các
chiến sĩ Tây Tiến: sẵn sàng chiến đấu dũng cảm, sẵn sàng hi sinh.
+ Cái chết không còn sự mất mát, một nỗi đau, mà là một sự tự nguyện. Câu thơ không
chỉ nói về những người đã chết mà còn nói về những người đang sống, đầy sự cổ vũ.
- Nhà thơ nói tiếp về một sự việc mà có lẽ nhiều người không dám nói:
Áo bào thay chiếu anh về đất
+ Sự thật ẩn chứa trong câu thơ là gì? Thiếu cả chiếu, người chiến sĩ Tây Tiến được mai
táng với chiếc áo đang mặc trên người. Đây là những điều rất dễ gây ra cảm xúc ngậm
ngùi.
+ Cách nói của Quang Dũng: không chỉ vì thiếu chiếu mà vì đã có áo bào thay chiếu. Áo
bào là chiếc áo mà các võ tướng ngày xưa mặc lúc ra trận. Được mai táng cùng với chiếc
áo bào, hình ảnh thiêng liêng mà anh hùng. Cách nói của Quang Dũng có vẻ lãng mạn
nhưng sự lãng mạn ở đây là rất cần thiết và rất phù hợp.
Đoàn Vệ quốc quân một lần ra đi
Là có sá chi đâu ngày trở về
Ra đi, ra đi bảo tồn sông núi
Ra đi, ra đi, thà chết chớ lùi.
+ Điều tuyệt đẹp ở đây là tinh thần ấy không phải là của riêng ai, mà là của cả đoàn quân
Tây Tiến.
- Tinh thần một đi không trở lại còn được nhà thơ khắc sâu thêm một lần nữa:
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
+ “một chia phôi”: Khẳng định dứt khoát, quyết chí ra đi, không lưu luyến bịn rịn, không
chút băn khoăn bao giờ trở lại. Từ “một” ở đây như một cánh tay giơ lên để khẳng định
một lời thề.
+ Nhà thơ như đang nhớ đến những ngày đầu, những bước chân đầu tiên rời mảnh đất
đồng bằng quê hương để đến với Tây Tiến. Con đường trước mặt trùng điệp núi non,
thăm thẳm mịt mù ở phía chân trời. Kết quả của câu thơ còn cho ta hiểu rằng, đường lên
thăm thẳm, mà cũng là thăm thẳm một chia phôi, chỉ có chia phôi, chỉ nghĩ đến chia phôi,
phảng phất chút buồn nhưng cũng rất hùng tráng và cảm động.
- Hai câu thơ cuối vang lên như là lời khẳng định sự trường tồn của đoàn quân Tây Tiến:
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.
+ Lời khẳng định ấy bắt đầu bằng việc nhắc đến những con người Tây Tiến, nhắc đến
mùa xuân ấy, mùa xuân đã trở thành bất diệt.
+ Sầm Nứa hay còn quen gọi là Sầm Nưa, là tên một địa danh của Lào, kề biên giới Việt-
Lào, thuộc địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến. Mãi mãi những người Tây Tiến
không baio giờ có thể quên được mảnh đất Tây Tiến, những tháng ngày Tây Tiến.
+ Tại sao ở đây nhà thơ không dùng từ “lòng” hay một từ nào khác như tâm hồn, trái
tim…mà dùng từ “hồn”? Bởi con người ta có hai phần: phần hồn và phần xác; xác thì có
thể chuyển dịch, có thể rời xa, có thể mất đi, hồn thì mãi mãi vẫn còn. Nhắc đến hồn là
nhắc đến những gì thiêng liêng nhất của con người, phần sâu thẳm nhất, đẹp nhất nơi mỗi
con người.
+ Nói về con người, Quang Dũng thật sự muốn khẳng định mình: Mãi mãi không quên
II. THÂN BÀI:
a. Mấy nét ban đầu về cái hay của bài thơ “Tây Tiến”:
- Bài thơ chọn thể “hành” của thơ cổ phong: cổ kính mà lại phóng khoáng, như nén chặt
mà lại bay bổng. Thể thơ rất phù hợp với cảm hứng của nhà thơ về Tây Tiến: gian khổ
mà lãng mạn, anh hùng mà hào hoa.
- Từ “Nhớ Tây Tiến” đến “Tây Tiến”, một sự chuyển đổi rất hay. Hai tiếng “Tây Tiến”
gợi hơn nhiều, nhan đề còn nghe như một khẩu lệnh: Tây Tiến!
b. Mở đầu cho một kỉ niệm độc đáo:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
- Sông Mã xa rồi: điệu thơ trầm lắng. Thế là đã xa Tây Tiến, không chỉ là trong thời gian
mà cả trong không gian, đã xa không bao giờ trở lại. Mở đầu bài thơ bằng bốn tiếng rất
buồn, như một nỗi nhớ tiếc khôn nguôi.
- Tây Tiến ơi!: Nhà thơ gọi về Tây Tiến, lúc Tây Tiến chỉ còn kỉ niệm, nhà thơ như muốn
gọi về tâm hồn mình, đánh thức nỗi nhớ của mình.
- Nhớ chơi vơi:
+ Trước hết, sau tiếng gọi Tây Tiến ơi ở câu thơ trên, hai tiếng chơi vơi như vang từ vách
đá dội về.
+ Nhớ chơi vơi là nhớ như thế nào? Một nỗi nhớ không nhìn thấy được, không cân đo
đong đếm được nhưng mênh mông đầy ắp, lúc nào cũng lơ lửng trong tâm hồn.
+ Nhớ chơi vơi: nỗi nhớ như chưa từng có trong thơ, có lẽ chỉ có trong ca dao:
Ra về nhớ bạn chơi vơi
Nhớ chiếu bạn trải, nhớ nơi bạn nằm
- Nỗi nhớ chơi vơi ấy, đầu tiên là dành cho nhớ về rừng núi: miền đất Tây Tiến là cả một
vùng rừng núi bao la, một niềm đất hoàn toàn lạ lùng đối với những người lính Tây Tiến
những chàng trai Hà Nội ra đi.
12
Tài liệu tham khảo - Ngữ văn 12 GV: Đinh Quang Phương
c. Miền đất Tây Tiến, cả một vùng rừng núi mà thiên nhiên như muốn vượt lên
những tầm vóc bình thường: đẹp một cách phi thường, dữ dội một cách phi thường:
thì cọp trêu người.
- Người chiến sĩ Tây Tiến cứ hiên ngang mà bước đi trong cuộc hành quân, chỉ khi nào
không bước nữa, thí cứ thế mà bỏ quên đời! Hiên ngang, anh hùng quá, không phải thiên
nhiên chiến thắng con người mà con người vượt lên thiên nhiên, khinh thường thử thách.
- Mạch thơ bổng chuyển sang một sự tương phản khác, bất ngờ hơn: Tây Tiến với một kỉ
niệm ấm lòng người:
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
+ Tây Tiến không chỉ có thiên nhiên dữ dội, mà còn có tình người, còn có Tây Tiến cơm
lên khói.
+ Nhớ ôi: nhớ đến nôn nao, như còn muốn hít sâu vào lồng ngực làn khói thơm của bát
cơm nóng ngày nào!
13
Tài liệu tham khảo - Ngữ văn 12 GV: Đinh Quang Phương
+ Câu thơ như một câu hát. Sáu tiếng thanh bằng, cho một từ nếp thanh trắc bật lên.
+ Giữa cuộc hành quân mà có bát cơm nóng, đã đáng nhớ, đây còn là bát cơm cùng với
Mai Câu mùa em.
III. KẾT BÀI:
- Lịch sử như tình cờ mà có đoàn quân Tây Tiến chỉ hoạt động, tồn tại hơn một năm.
- Rồi cũng như tình cờ ấy mà đoàn quân ấy có một vị đại đội trưởng đồng thời là một nhà
thơ tài hoa Quang Dũng, thế rồi thơ Việt Nam có một bài thơ với những câu thơ như một
lần đi không trở lại với người Việt Nam.
ĐỀ: Phân tích đoạn thơ sau trích trong bài Đất Nước ( trường ca Mặt đường khát
vọng) của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm:
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
(…)
Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”
DÀN BÀI GỢI Ý:
I. MỞ BÀI:
- Giới thiệu sơ lược về tác giả và tác phẩm: Nguyễn Khoa Điềm tốt nghiệp khoa Văn
từ mấy ngàn năm.
+ Có văn hoá Việt Nam tức là đã hình thành một đất nước Việt Nam.
- Đất nước Việt Nam đã khẳng định sự trưởng thành:
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
+ Cây tre là hình ảnh quen thuộc từ ngàn đời.
+ Biết trồng tre mà đánh giặc, nhân dân Việt Nam thực sự đã trưởng thành trong ý thức
về chủ quyền dân tộc.
- Từ lâu đời, đã hình thành những vẻ đẹp Việt Nam:
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn.
+ Bới sau đầu là một nét đẹp, quen thuộc của người phụ nữ Việt Nam.
+ Gừng cay muối mặn chính là sự bền vững, thuỷ chung.
Tay bưng đĩa muối chén gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau
- Từ lâu đời, con người Việt Nam đã biết thành thạo trong việc tạo nên cửa nhà để ổn
định nơi sinh sống:
Cái kèo, cái cột thành tên
+ Cái kèo, cái cột là tên gọi những bộ phận quan trọng trong cấu trúc một ngôi nhà truyền
thống Việt Nam.
+ Cái kèo, cái cột cũng đã trở thành tên gọi mà người Việt Nam xưa dùng đặt cho con
cái. Đó là những tên gọi không có trong chữ Hán, những tên gọi thuần tuý Việt Nam.
Như vậy, đã có một thứ ngôn ngữ Việt Nam từ lâu đời.
- Điều quan trọng hơn nữa là:
Hạt gạo phải một nắng hai gương xay, giã, dần, sàng
+ Câu thơ như gói trọn cả quy trình lao động vất vả để làm nên lúa gạo. Từ nghìn xưa,
con người Việt Nam đã tự mình làm ra nguồn sống cho mình.
+ Từ nghìn năm, con người Việt Nam đã tạo dựng cho đất nước mình một nền văn minh
lúa nước Việt Nam, nền văn minh sông Hồng.
- Đóng lại đoạn thơ bằng lời khẳng định ngắn gọn:
Đất nước có từ ngày đó…
nhìn xa xôi của ta cũng là Đất và Nước của Đất Nước mình.
+ Hai câu thơ gần như lấy nguyên từ một lời bài hát ru em xứ Huế. Không chỉ ngày nay
mà từ ngày xưa, không chỉ người trí thức, mà cả những người mẹ, người chị bình thường
nơi xóm quê đã nhận ra và tự hào về bờ cõi mênh mông, Đất và Nước mênh mông của
Đất Nước mình.
III. KẾT BÀI:
- Không chỉ lần đầu Nguyễn Khoa Điềm nghĩ về Đất Nước. Tuy nhiên, phải vào không
gian và thời gian này, nhà thơ mới có những suy nghĩ mang chiều sâu cho những câu thơ
Đất Nước như vậy.
16
Tài liệu tham khảo - Ngữ văn 12 GV: Đinh Quang Phương
ĐỀ: Phân tích cảm hứng tình yêu trong bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh.
DÀN BÀI GỢI Ý:
I. MỞ BÀI :
- Giới thiệu sơ lược về nhà thơ Xuân Quỳnh: sinh năm 1942, mất 1988, để lại khoảng
10 tập thơ, trong đó có nhiều bài thơ tình.
- Bài thơ Sóng in trong tập thơ Hoa dọc chiến hào (1968)
- Sóng là lời bày tỏ của nhà thơ, một người phụ nữ về tình yêu.
II. THÂN BÀI:
a. Nhìn sóng, cảm nhận về sóng để nhận ra chính mình.
- Thật ra, “sóng” không phải là hình tượng mới trong thơ.
+ Truyện Kiều:
Sóng tình dường đã xiêu xiêu
+ Ca dao:
Tình anh như nước dâng cao
Tình em như dải lụa đào tẩm hương…
+ Tuy nhiên, với nhà thơ đang khao khát bày tỏ tình yêu, không còn hình ảnh nào tốt hơn.
- Cảm nhận về những điều đối nghịch lạ lùng trong tình yêu cũng là của sóng:
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
+ Nói về sóng là để nói về mình:
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức
- Tình yêu của mình là một tình yêu trọn vẹn, duy nhất:
Dẫu xuôi về phương bắc
Dẫu ngược về phương nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh - một phương.
+ Trên con người đi lại xuyên đất nước, có hai phương để chọn: phương bắc và phương
nam.
+ Trong tình yêu này, chỉ có một phương duy nhất: Phương anh
- Tình yêu của mình có sức mạnh để vượt lên mọi trở ngại.
Ở ngoài kia đại dương
Trăm ngàn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở.
+ Một tình yêu đích thực là phải biết vượt qua mọi khó khăn để giữ trọn tình yêu:
Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo
Ngũ lục sông cũng lội, tứ cửu tam thập lục đèo cũng qua
- Nhà thơ nhận biết tình yêu của mình cũng giống với sóng, đủ sức mạnh để vượt lên
muôn vàn cách trở, muôn vàn giông tố đến được với bờ.
c. Niềm khao khát cháy bỏng của người đang yêu.
- Bắt đầu nhận ra sự hữu hạn của cuộc đời và mọi thứ trong cuộc đời. Kể cả những thứ
được coi là vô biên, vô hạn nhưng thật ra đều nhỏ bé và hữu hạn. Tình yêu cũng thật hữu
hạn như thế chăng?
Cuộc đời tuy dài thế
dân của Nguyễn Khoa Điềm.
DÀN Ý THAM KHẢO:
1. Ở đoạn thơ trên, Đất Nước được quy tụ bằng một loạt những hình ảnh, những hiện
tượng, những địa danh, những danh nhân…mà bất cứ người Việt Nam nào cũng nhận ra:
Hòn Trống Mái, núi Vọng Phu, voi Hùng vương, ngựa Thánh Gióng, núi Bút, non
Nghiêng, vịnh Hạ Long hay những địa phương mang tên những Ông Đốc, Ông Trang, Bà
Đen, Bà Điểm v.v…Cách nhìn của tác giả về những thắng cảnh, về địa lí là một cách
nhìn có chiều sâu và là một phát hiện mới mẻ:
“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
…………………………………………
Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm
Những cảnh quan thiên nhiên kỳ thú của đất nước khắp Bắc Trung Nam (Đá
vọng phu, hòn Con Cóc, Con Gà hay hòn Trống Mái v.v…) được tiếp nhận, cảm thụ
qua tâm hồn và qua lịch sử của dân tộc. Nếu không có những người vợ mòn mỏi nhớ
chồng qua các cuộc chiến tranh và li tán thì cũng không có sự cảm nhận về núi Vọng
Phu; nếu không có truyền thuyết Hùng Vương dựng nước thì cũng không có thể có sự
cảm nhận như vậy về vẻ hùng vĩ của vùng núi đồi xung quanh đền vua Hùng…
Tác giả đã liệt kê hàng loạt hiện tượng rồi quy nạp để đi đến một khái quát sâu sắc:
Núi sông này và cuộc đời của dân tộc là một:
19
Tài liệu tham khảo - Ngữ văn 12 GV: Đinh Quang Phương
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lốt sống ông cha
Ôi đất nước bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hoá núi sông ta…
2. Khi nghĩ về bốn nghìn năm đất nước, nhà thơ không điểm lại các triều đại, các anh
hùng nổi tiếng, mà nhấn mạnh đến vô vàn những con người vô danh, bình dị, sinh ra,
lớn lên, lao động và đánh giặc từ thế hệ nọ tiếp nối thế hệ kia:
Có biết bao người con gái, con trai
Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
(Văn chiêu hồn, Truyện Kiều của Nguyễn Du).
Đến nền văn học hiện đại, được soi sáng bằng tư tưởng XHCN, bằng quan điểm
mác xít về nhân dân và nẩy nở từ trong thực tiễn vĩ đại của cuộc cách mạng mang tính
nhân dân sâu sắc, văn học từ sau Cách mạng tháng Tám đã đạt đến một nhận thức sâu sắc
về nhân dân và cảm hứng về đất nước mang tính dân chủ cao.
20
Tài liệu tham khảo - Ngữ văn 12 GV: Đinh Quang Phương
Thơ ca kháng chiến chống Pháp là một ví dụ tiêu biểu (Tình sông núi của Trần Mai
Ninh, Đất nước của Nguyển Đình Thi, Bên kia sông Đuống của Hoàng cầm).
Đến giai đoạn chống Mĩ, tư tưởng Đất nước của nhân dân một lần nữa được nhận
thức sâu sắc thêm bởi vai trò và những đóng góp to lớn, những hi sinh vô vàn của nhân
dân trong cuộc chiến tranh dài lâu và cực kì ác liệt này.
Tư tưởng ấy được các nhà thơ trẻ thời chống Mĩ cứu nước phát biểu một cách thấm
thía qua sự trải nghiệm của chính mình như những thành viên của nhân dân, cùng
chia sẻ mọi gian lao, hi sinh và được sự chở che, đùm bọc, nuôi dưỡng của nhân dân (Hơi
ấm ổ rơm của Nguyễn Duy, các trường ca Những người đi tới biển của Thanh Thảo và
Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh đều tập trung nói về những gương mặt của các con
người bình thường, vô danh trong nhân dân và không phải ngẫu nhiên mà đều bắt đầu
bằng hình ảnh người mẹ.)
Đây là đoạn thơ trữ tình – chính luận. Chất chính luận nằm trong ý đồ tư tưởng
của tác giả: thức tỉnh tinh thần dân tộc của thế hệ trẻ thành thị miền Nam, để dứt
khoát đứng về phía nhân dân và cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn
ra quyết liệt. Đoạn thơ thể hiện được những chỗ mạnh của thơ Nguyễn Khoa
Điềm: kết hợp cảm xúc và suy nghĩ, chính luận và trữ tình.
Thành công của đoạn trích là việc tạo một không khí, giọng điệu, một không gian
nghệ thuật riêng đầy màu sắc sử thi, đưa người đọc vào thế giới gần gũi, mĩ lệ và giàu sức
bay bổng của ca dao, truyền thuyết, của văn học dân gian, nhưng lại mới mẻ qua cách
cảm nhận và tư duy hiện đại với hình thức câu thơ tự do. Đó chính là nét đặc sắc thẩm
mĩ, thống nhất với tư tưởng “Đất nước của Nhân dân- Đất Nước của ca dao thần thoại”.
21
“Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ! Chúng tôi phải duyên phải kiếp với nhau…
Chẳng qua nó cũng là cái số cả…”
Bà lão cúi đầu nín lặng. bà lão hiểu rồi.”
- Không còn ngạc nhiên nữa nhưng bà cụ chuyển sang một tâm trạng khác. “Bà lão hiểu
rồi”. Nhưng bà lão hiểu gì? Đó là điều lẽ ra rất đáng vui nhưng theo bà là rất buồn vào
lúc này:
+ Thế là con trai bà đã có vợ.
+ Thế người con gái này là “vợ nhặt” của Tràng, một cô dâu không phải cưới xin, dạm
hỏi gì cả, một con người đói khát nào đó đã theo Tràng về nhà.
+ Chỉ vì mẹ con bà quá nghèo, con trai bà mãi vẫn chưa có vợ, nay nhờ có hoàn cảnh trớ
trêu này mới có được vợ.
- Bởi vậy, bà cụ Tứ mừng nhưng cũng ai oán xót thương, cay đắng.
22
Tài liệu tham khảo - Ngữ văn 12 GV: Đinh Quang Phương
+ Bà là người mẹ chỉ có Tràng là con trai, niềm mong ước bấy lâu của bà cụ Tứ là Tràng
có vợ. Lòng người mẹ Việt Nam nào mà chẳng vậy. Bấy giờ thì chuyện ấy đã thành sự
thật. Mẹ con bà cũng giống như bao gia đình khác. Có cha mẹ, con cái, vợ chồng…
+ Nhưng cũng chính nỗi mừng ấy mà nảy sinh nỗi ai oán xót thương: “Chao ôi, người ta
dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm ra, những mong sinh con đẻ cái
nở mặt sau này. Còn mình thì…Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được con
đói khát này không?” Cái đói mạnh hơn tất cả. Cái đói sẽ tiêu diệt tất cả mọi niềm vui,
mọi hi vọng.
+ Xót thương cho con trai mình, người mẹ cũng xót thương cho cô gái này là con dâu bà.
Đó là sự thông cảm của những người đồng chung cảnh ngộ, là tấm lòng độ lượng của bà
mẹ nghèo. Vì bà nghĩ : “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy
đến con mình”.
- Cuối cùng thì mọi nỗi cay đắng cũng qua đi. Bởi trong cuộc đời của những người như
mẹ con Tràng, đã biết bao lần phải trải qua những nỗi đắng cay. Còn lại là một tình cảm
thương yêu của người mẹ.
+ Không lo nghĩ về chuyện có thêm một người để chia sẻ miếng ăn vốn đã đói khát,
- Tràng ạ. Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà…Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có
ngay đàn gà cho mà xem…”
+ Quyết định không để cho niềm vui mau chóng kết thúc cùng với những bát cháo loãng
ít ỏi, bà cụ Tứ quyết kéo dài bữa ăn sáng bằng cách tiếp thêm một món ăn mới với những
lời rất vui vẻ: “Chè khoán đây, ngon đáo để cơ”.
- Nhưng từ niềm vui đến sự tuyệt vọng, thường chỉ trong chớp mắt.
+ Thực chất thứ chè khoán của bà cụ Tứ là cháo cám. Đó không phải là thứ thức ăn dành
cho người. Nhìn thấy nó là nhìn thấy cái đói, là nỗi lo chết đói.
+ Ăn vội một miếng, Tràng thấy “miếng cám đắng chát và nghẹn bứ trong cổ”. Không ai
dám nhìn vào mắt nhau.
+ Như để tăng thêm hiệu quả của cháo cám, từ ngoài đình dội lên một hồi trống dồn dập,
những tiếng trống thúc thuế. Rồi đàn quạ trên những cây bay vù lên như những đám mây
đen. Một bầu trời như đã bị bao trùm bởi cái đói, một không khí chết chóc.
+ Lòng bà cụ Tứ lúc này cũng không còn niềm vui nào, chỉ còn lại là một nỗi tuyệt vọng.
“Giời đất này không chắc đã sống qua được đâu con ạ…” “Bà lão ngoảnh vội ra ngoài.
Bà lão cũng không dám để con dâu nhìn thấy bà khóc.”
+Kim Lân không gì thêm về tâm trạng của bà cụ Tứ. Tuy nhiên, sau lời người con dâu
“trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không đóng thuế nữa đâu. Người ta còn
phá kho thóc của Nhật, chia cho người đói nữa đấy”, bà cụ Tứ sẽ nghĩ gì? Chắc chắn
phải là một niềm hi vọng về một con đường sống: một cuộc cách mạng đang đến một nơi
nào đó không xa.
3. Giá trị của bức tranh tâm trạng mà nhà văn dụng công miêu tả:
- Một sự miêu tả đầy tinh thần nhân bản: rất hiểu con người trong nỗi khổ mà cuộc
sống như cứ lần lượt tước đi mọi niềm hi vọng nhỏ nhoi nhất.
- Một sự khám phá đầy tinh thần nhân đạo: dù khốn khổ đến cận kề cái chết, những
con người nghèo khổ ấy vẫn không mất đi những gì tốt đẹp nơi con người: lòng yêu
thương, sự chia sẻ và đặc biệt là một niềm tin dù mong manh nhưng bao giờ cũng chân
thành và cảm động ở điều tốt đẹp của cuộc đời.
- Không hề nói đến cách mạng nhưng chỉ với một chi tiết về chuyện “trên mạn Thái
Nguyên, Bắc Giang”, người đọc có thể hiểu đó là niềm hi vọng duy nhất về con đường
tính chuyện ăn lá ngón để tìm sự giải thoát. Vì lòng hiếu thảo nên phải nén nỗi đau riêng,
quay trở lại nhà thống lí.
+ Quay trở lại nhà thống lí, sống những ngày làm dâu, Mị bị vắt kiệt sức lao động:
“Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa mùa thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi
nương bẻ bắp, và dù lúc đi hái củi, lúc bưng ngô, lúc nào cũng gài một bó đay trong
cánh tay để tước thành sợi”.
“Con ngựa con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà
con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày”.
+ Mị còn chịu nỗi đau khổ về tinh thần: Sống như trạng thái gần như đã chết. Bị giam
cầm trong căn phòng “kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào
trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng”.
+ Mị sống tăm tối, nhẫn nhục, đau khổ, tê liệt về tinh thần, buông xuôi theo số phận:
“Ở lâu trong cái khổ, Mị cũng quen rồi”.
“Bây giờ Mị tưởng mình cũng là con trâu, cũng là con ngựa (…) ngựa chỉ biết ăn cỏ,
biết đi làm mà thôi”.
“Mỗi ngày Mị không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa.”
* Sự trỗi dậy của sức sống tiềm tàng của Mị:
- Bị đày đoạ trong cảnh tượng hãi hùng như địa ngục trần gian, có lúc ta tưởng Mị chỉ là
cái xác không hồn và mất hết tinh thần phản kháng nhưng tâm hồn yêu đời, khát vọng
hạnh phúc lúc nào cũng âm ỉ cháy trong lòng Mị. Quá trình diễn biến tâm lí của Mị được
tác giả khắc hoạ rất sinh động:
- Chất xúc tác đánh thức sức sống tiềm tàng trong lòng của Mị chính là tiếng sáo gọi bạn
“vọng lại thiết tha, bồi hồi” trong những đêm tình mùa xuân.
25