TIỂU LUẬN: Lợi nhuận và chế độ phân phối lợi nhuận tại Công ty xe máy- xe đạp Thống Nhất - Pdf 12

TIỂU LUẬN:
Lợi nhuận và chế độ phân phối lợi
nhuận tại Công ty xe máy- xe đạp
Thống Nhất

Lời mở đầu Trong những năm qua thực hiên đường lối phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần ,vận hành theo cơ chế thị trường theo định hướng XHCN ,nền kinh tế nước ta đã có
sự biến đổi sâu sắc và phát triển mạnh mẽ .Tất cả các hạt động kinh doanh của doanh
nghiệp phải thoả mãn nhu cầu của thị trường và thu về một khoản lợi nhuận cho mình
Thu lợi nhuận tối đa là cái đích mà doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển,trong
điều kiện mới hiện nay phải hướng tới .Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản
ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp .Qua đó cho biết việc thực
hiện chế độ phân phối lợi nhuận có hiệu quả hay không và nó có phải là động lực kích
thích vươn lên trong cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp hay không.
Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng đó em đã chọn đề tài:”Lợi nhuận và chế
độ phân phối lợi nhuận tại Công ty xe máy- xe đạp Thống Nhất”, để nghiên cứu,

Nhìn từ góc độ doanh nghiệp cho thấy lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa thu
nhập và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được thu nhập từ các hoạt động sản
xuất kinh doanh đem lại
Thật vậy, quá trình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp sau mỗi kỳ hạch
toán có những khoản thu bằng tiền gọi chung là thu nhập của doanh nghiệp trong
hoạt động sản xuất kinh doanh . Với khoản thu nhập đó để thực hiện quá trình sản
xuất kinh doanh tiếp theo thì doanh nghiệp phải bỏ ra những phần nhất định để bù
đắp chi phí cho toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh đã thực hiện . Những chi phí
đó là những chi phí về vật chất đã tiêu hao trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm , chi phí để trả lương cho người lao động , chi phí để làm nghĩa vụ đối với nhà
nước. Phần thu nhập còn lại sau khi bù đắp các khoản chi phí chính là lợi nhuận của
doanh nghiệp
1.2Nội dung lợi nhụân
Phù hợp với nội dung nêu trên , lợi nhuận đạt được của doanh nghiệp bao gồm
- Lợi nhuận thu được từ việc tiêu thụ sản phẩm . Đây là phần cơ bản nhất trong
tổng lợi nhuận của doanh nghiệp . Thường nó chiếm tỉ trọng lớn do đó nó có ý
nghĩa quyết định đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Lợi nhuận thực hiện từ các nghiệp vụ tài chính : đó là các khoản thu từ các
khoản thu từ lãi tiền gửi ngân hàng , tiền lãi cho vay , lợi nhuận từ các hoạt động
liên doanh , liên kết. Ngoài ra còn có các khoản thu về tiền phạt bồi thường do đơn
vị khác vi phạm hợp đồng kinh tế . Phần thu này hiện nay chiếm tỉ trọng khônh nhỏ
trong lợi nhuận
- Lợi nhuận thu được từ các hoạt động bất thường : thu từ việc thanh lý nhượng
bán tài sản cố định không cần dùng hoặc bán vật tư không sử dụng . Khoản thu này
trên thực tế không đáng kể
Sau khi thu được lợi nhuận doanh nghiệp phải nộp thuế lợi tức cho ngân sách
nhà nước theo thuế suất đã định . Phần lợi nhuận sau thuế thuộc về doanh nghiệp và
doanh nghiệp có quyền sử dụng . Phần này trước hết doanh nghiệp dùng để trang
trải các khoản tiền phạt tiền lãi vay ngoài định mức , chi cho các cổ đông góp vốn
liên doanh (nếu có ) liên kết . Số còn lại sau khi trừ các khoản trên được trích lập

P
Công thức tính: T
sv
=  100
V
BQ

Trong đó T
SV
: tỷ suất lợi nhuận vốn
P : lợi nhuận trong kỳ
V
BQ
: tổng số vốn sản xuất được sử dụng bình quân trong kỳ ( vốn cố
định và vốn lưu động hoặc vốn chủ sở hữu ).
- Vốn cố định là nguyên giá tài sản cố định trừ đi số đã khấu hao
- Vốn lưu động gồm có : Vốn dự trữ sản xuất, vốn sản phẩm dở dang, bán thành
phẩm tự chế, vốn thành phẩm.
Việc sử dụng tỷ suất lợi nhuận nói lên trình độ sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn
của doanh nghiệp, thông qua đó kích thích việc sử dụng vốn đạt hiệu quả cao.
Doanh nghiệp có thể tính doanh lợi vốn chủ sở hữu, doanh lợi vốn đi vay trên cơ
sở xác định được lợi nhuận hay lợi nhuậnểòng do các khoản vốn đó mang lại để
thấy hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp và phục vụ cho việc phân tích tài chính
doanh nghiệp.
2.2: Tỷ suất lợi nhuận giá thành: Là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận tiêu thụ so với
giá thành toàn bộ của sản phẩm hàng hoá tiêu thụ.
Công thức: T

ngành khác. Tỷ suất lợi nhuận cao hay thấp phụ thuộc vào đặc thù của từng ngành
sản xuất và phương hướng sản xuất kinh doanh của từng ngành.
3/ Kế hoạch hoá lợi nhuận của doanh nghiệp
Kế hoạch lợi nhuận giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp biết trước được quy
mô số lãi mà doanh nghiệp sẽ tạo ra, từ đó giúp cho doanh nghiệp có kế hoạch sắp
xếp nhiệm vụ hoạt động kinh doanh và tìm ra các giải pháp phấn đấu thực hiện.
Kế hoạch lợi nhuận hàng năm là một bộ phận của kế hoạch tài chính doanh
nghiệp, do đó nó cũng phải được lập đồng thời với các bộ phận kế hoạch khác.Việc

P
Công thức : T
SG

=
 100

dự tính trước được số lợi nhuận sẽ tạo ra sẽ giúp cho doanh nghiẹp chủ động sử
dụng nó , chủ động phân phối, chủ động lập kế koạch đầu tư , đổi mới thiết bị
Việc lập kế hoạch lợi nhuận , phải kết hợp vớiviệc phân tích tình hình hoạt động
kinh doanh , phân tích tài chính và phân tích điểm hoà vốn.
Nội dung của lợi nhuận như đã phân tích ở trên bao gồm: lợi nhuận hoạt động
kinh doanh , lợi nhuận hoạt động tài chính và lợi nhuận hoạt động khác . Đối với lợi
nhuận hoạt động kinh doanh , chủ yếu là lợi nhuận tiêu thụ sản phẩm được xác định
theo công thức sau:

Lợi nhuận Doanh Trị giá chi phí Chi phí
hoạt động = thu - vốn - bán - quản lý
kinh doanh(a) thuần hàng bán hàng doanh nghiệp

Doanh Tổng doanh Chiết khấu Khoản Trị giá Thuế gián

trình độ tổ chức và quản lý vốn cố định và vốn lưu động.
Lợi nhuận là nguồn tích luỹ quan trọng để doanh nghiệp bổ sung vốn cố dịnh và
vốn lưu động , tạo điêu kiện mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh .Bởi vì có lợi
nhuận thì mới có thể trích lập vào các quỹ của doanh nghiệp.Và cũng từ các quỹ của
doanh nghiệp mà không ngừng nâng cao đờii sống cho cán bộ công nhân viên về
mọi mặt, góp phần kích thích người lao động gắn bó với doanh nghiệp , tận tâm ,tận
lực để thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển .Vai trò đòn bẩy kinh tế còn được thể
hiện thông qua quá trình hình thành , phân phối và sử dụng lợi nhuận . Quá trình đó
góp phần giải quyết mối quan hệ giữa ba lợi ích: lợi ích của người lao động ,lợi ích
của tập thể , lợi ích của nhà nước , do đó thúc đẩy mọi người quan tâm đến hiệu quả
hoạt động sản xuất kinh doanh.
Lợi nhuận của doanh nghiệp là mọt phần quan trọng của ngân sách nhà nước
dưới hình thức thuế thu nhập doanh nghiệp . Nếu sản xuất hànghóa càng phát triển
thì lợi nhuận của doanh nghiệp ngày càng nhiều kéo theo nguồn thu này của ngân
sách nhà nước ngày càng tăng đáp ứng ngày càng nhiều nhu cầu chi tiêu của bộ máy
quản lý nhà nướcđáp ứng nhu cầu chi tiêu cho phát triển kinh tế , văn hoá giáo dục
và củng cố an ninh quốc phòng.
Lợi nhuận đạt được cao hoặc thấp sẽ tác động trực tiếp đến khả năng thanh toán
của doanh nghiệp . Một doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả thu được lợi nhuận
cao thi không nhưng có khả năng thanh toán mà còn nâng được uy tín của mình trên
thương trường, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình
sản xuất kinh doanh hoặc liên doanh liên kết hoặc cổ phần hoá và ngược lại .
Tóm lại ,lợi nhuận đối với sự tồn tại vphát triển của nền kinh tế nói chung và của
mỗi doanh nghiệp nói riêng là rất quan trọng,nhất là trong nền kinh tế thị trường có
sự cạnh tranh quyết liệt như hiện nay .Lợi nhuận được coi là đòn bẩy hữu hiệu
không những đối với mỗi doanh nghiệp mà còn góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng
và phát triển kinh tế quốc dân .
II/ Phân phối lợi nhuận
1.Nguyên tắc phân phối lợi nhuận trong các doanh nghiệp
Lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh

2.Nội dung của việc thục hiện chế độ phân phối lơi nhuận ở doanh nghiệp.
Theo thông tư số 64/1999/TT- BTC này 07/06/1999 hướng dẫn chế độ phân phối
lợi nhuận sau thuế và quản lý các quỹ trong các doanh nghiệp nhà nước sau khi kết
chuyển lỗ theo điều 22 của luật thuế thu nhập doanh nghiệp và nộp thuế theo luật
định ,lợi nhuận sau thuế được phân phối như sau:
2.1 Bù lỗ các năm trước không được trừ vào lợi nhuận trước thuế
2.2 Nộp tiền thu sử dụng vốn ngân sách nhà nước theo quy định hiện hành .
2.3 Trả tiền phạt vi phạm pháp luật nhà nước như: vi phạm luật thuế ,luật giao thông
,luật môi trường ,luật thương mại và quy chế hành chính Sau khiđã trừ tiền bồi
thường tập thẻ hoặc cá nhân gây ra (nếu có).
2.4 Trừ các khoản chi phí thưc tế đã chi nhưng không tính vào chi phí hợp lý khi
xác định thu nhập chịu thuế .
2.5 Chia lãi cho các bên đối tác góp vốn theo hợp đồng hợp tác kinh doanh (nếu có).
2.6 Phần lợi nhuân sau khi đã trừ các khoản nói trên được phân phối như sau;
- Trích 10% vào quỹ dự phòng tài chính ,khi số dư của quỹ này bằng 25% của vốn
điều lệ của doanh nghiệp thì không trích nữa.
- Trích tối thiểu 50% vào quỹ đầu tư phát triển
- Trích 5% vào quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm ,khi số dư quỹ này đạt 6 tháng
lương thực hiện của doanh nghiệp thì không trích nữa.
- Đối với một số ngành đặc thù (ngân hàng ,thương mại ,bảo hiểm ) mà pháp luật
quy định phải trích lập các quỹ đặc biệt từ lợi nhuận sau thuế thì doanh nghiệp phải
trích lập theo các quỹ đó
- Chia lãi cổ phần trong trường hợp doanh nghiệp phát hành cổ phiếu.
2.7 Sau khi trích lập 5 quỹ trên ,số lợi nhuận còn lại trích lập quỹ khen thưởngvà
quỹ phúc lợi .Mức trích tối da cho cả 2 quỹ căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận trên vốn
nhà nước (vốn nhà nước nói ở đây là số trung bình cộng của số dư vốn nhà nứoc tại
thời điểm 1/1 và cuối mỗi quý của năm) như sau.
- 3 tháng lương thực hiện cho các trường hợp :
+Doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận nói trên năm nay cao hơn hoặc bằng năm
trước.


Lợi
nhu
ận

Lợi
nhuận

ho
ạt
Lợi
nhụân

các
khoả
n
tiền
b

Trừ
các
khoả
n lỗ
Chia
liên
doanh
, cổ
phần
,trái

đắp
bảo
toàn
vốn
Trích
lập
các
quỹ
doanh
nghi

nhuận tại công ty xe máy -xe đạp thống nhất

I/Giới thiệu khái quát về công ty xe máy xe đạp Thống Nhất .
1. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển.
Công ty xe máy -xe đạp Thống Nhất (Thống Nhất motorcycle-bicycle
company)có địa điểm đặt tại 198B-Tây Sơn-Đống Đa-Hà Nội(địa chỉ mới số2 Thái
Hà-Hà Nội).
Đây là một công ty chuyên sản xuất xe đạp với công nghệ sản xuất gần như khép
kín từ việc chế tạo phụ tùng chi tiết đến lắp ráp thành xe đạp hoàn chỉnh .Bên cạnh
đó cũng có một số chi tiết sản phẩm mua của các đơn vị thành viên trong Liên hiệp
xe máy -xe đạp Hà Nội về để lắp ráp thành xe đạp hoàn chỉnh như : săm ,lốp, nan
hoa Năm 2001 công ty sản xuất và tiêu thụ gần 60000 chiếc xe đạp với nhiều kiểu
dáng và màu sắc khác nhau .Là một công ty có quy mô vừa ,trực thuộc Liên hiệp Xí
nghiệp xe máy xe đạp Hà Nội (LIXEHA) gồm có 13 xí nghiệp thành viên.
Công ty xe máy- xe đạp Thống Nhất trước đây có tên gọi là xí nghiệp xe đạp
Thống Nhất được thành lập tháng 6 năm 1960 trực thuộc bộ Cơ Khí và Luyện kim.
Tiền thân của xí nghiệp là hãng xe đạp Dân Sinh của tập đoàn sản xuất xe đạp Sài
Gòn. Trong quá trình phát triển của mình, xe đạp Thống Nhất đã trải qua nhiều
thăng trầm biến đổi, có thời kỳ xe đạp Thống Nhất là biểu tượng của chất lượng xe
đạp Việt Nam nhưng cũng có thời kỳ nhãn hiệu xe đạp Thống Nhất bị lãng quên.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sau 18 năm hoạt động ( 1960-2978) xí
nghiệp xe đạp Thống Nhất tách khỏi bộ Cơ khí và Luyện kim về trực thuộc Sở
Công nghiệp Hà Nôi, nằm trong liên hiệp xí nghiệp xe đạp. Xí nghiệp xe đạp Thống
Nhất cùng với các xí nghiệp thành viên khác trong liên hiệp hạch toán nội bộ,
không có tư cách pháp nhân. Năm 1981 UBND thành phố Hà Nội đã quyết định
thành lập liên hiệp các xí nghiệp xe đạp nhằm quản lý các xí nghiệp xe đạp và phụ
tùng xe đạp độc lập trong đó có xí nghiệp xe đạp Thống Nhất. Lúc này xí nghiệp
hạch toán độc lập và có đủ tư cách pháp nhân, với nhiệm vụ sản xuất: khung, vành,
ghi đông, pôtăng, nồi trục giữa xe đạp
Để phù hợp với nhu cầu sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường, tháng 11

+ CPSX 25.102.900 28.093.700 2.990.800 112%
+CPBH và
CPQLDN
2.657.438 3.659.870 1.002.432 138%
3.Tổng lợi nhuận 504.134 150.175 - 353.959 30%
4.Nộp ngân sách
nhà nước
1217.344 553.511 - 663.833 45%
5.Thu nhập bình
quân
1.141 1.187 46 104%

Tổng doanh thu năm 2000 tăng 11% so với tổng doanh thu năm 1999 ,điều đó
chứng tỏ năm 2000công ty hoạt động có hiệu qua hơn. Tuy nhiên tổng lợi nhuận
của công ty lại giảm sút mạnh so với năm 1999, nguyên nhân là do tổng chi phí của
công ty năm 2000 tăng hơn so vưói năm 1999 khoảng 14%, đặc biệt là chi phí bấn
hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp tăng 38%, đây chính là một hạn chế của công
ty. Bên cạnh đó đời sống của cán bộ cong nhân viên trong ty cũng đã được cải thiện
,thể hiện ở thu nhập bình quân của người lao động tăng.
2.Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh và bộ máy quản lý ở Công ty xe máy -
xe đạp Thống Nhất.
2.1.Đặc điểm tổ chức sản xuất.
Công ty xe máy -xe dạp Thống Nhất là một đơn vị sản xuất hàng tiêu dùng.Tổ
chức sản xuất gồm có 6 phân xưởng sản xuất, trong đó có 5 phân xưởng sản xuất
chính và một phân xưởng sản xuất phụ. Mỗi phân xưởng có chức năng , nhiệm vụ
khác nhau, phối hợp với nhau trong việc tạo xe đạp thành phẩm. Nhiệm vụ chính
của từng phân xưởng như sau:
- Phân xưởng linh kiện: từ các loại nguyên vật liệu đầu vào như: thép tấm , thép
tròn đưa vào dây chuyền để gia công, chế tạo các loại linh kiên phục vụ cho việc
sản xuất khung ,vành , lắp ráp xe đạp như: rắc co , tuýp lam khung , ống cổ , cấu


Sơ đồ :Quy trình công nghệ của công ty 2.2.Đặc điểm bộ máy quản lý:
Sau quá trình nghiên cứu và cải tiến bộ máy quản lý, đến nay công ty tổ chức bộ
máy quản lý theo hệ trực tuyến gồm 5 phòng và 1 ban. Chức năng và nhiệm vụ của
các phòng ban như sau:
- Phòng tài vụ :Làm nhiệm vụ kế toán ,có chức năng thu thập ,xử lý và cung cấp
thông tin kinh tế phục vụ cho công tác quản lý ,kiểm tra tình hình sử dụng vật tư
,lao động ,tài sản cố định ,tiền vốn và mọi hoạt động sản xuất kinh doanh.
-Phòng tổ chức lao động và tiiền lương :Có nhiệm vụ tổ chức ,quản lý lao động, giải
quyết chế độ lao động như: điều lệ ,tuyển dụng lao động ,hưư trí ,bảo vệ lao động
,tiền lương; tham mưu cho ban giấm đốc công ty trong việc xây dựng phương án
thanh toán tiền lương,xây dựng dịnh mức lao động
-Phòng hành chính -bảo vệ :Có trách nhiệm điều hành các công việc hành chính
như: công văn ,đón khách ,bảo vệ
-Phòng công nghệ :Nghiên cứu các quá trình công nghệ ,chế tạo sản phẩm mới ,phụ

,giao dịch tiêu thụ sản phẩm và lập kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
-Ban thiết kế cơ bản: Theo dõi ,lập dự toán các công trình mới và sửa chữa.
Trong đó ,ban lãnh đạo công ty gồm :
+ Đứng đầu là giám đốc công ty phụ trách mọi mặt của công ty và chịu thách
nhiệm trước nhà nước và cấp trên về hoạt động của công ty. Giúp việc cho giám đốc
là 2 phó giám đốc.
+ Một phó giám đốc kỹ thuật : Thay mặt giám đốc quản lý bộ phận sản xuất ,sáng
kiến cải tiến kỹ thuật ,an toàn lao động.
+Một phó giám đốc kinh doanh ;Thay mặt giám đốc quả lý kinh doanh ,mua ban
vật tư ,hàng hoá ,lên ké hoạch sản xuất
Quản lý và chịu trách nhiệm với giám đốc ở các phòng ban là các trưởng phòng
,trưởng ban. Còn chịu trách nhiệm quản lý ở khâu sản xuất tại các phân xưởng là
các quản đốc phân xưởng.
Giám
đ
ốc

PGĐ kỹ
thu
ật

PGĐ kinh
doanh

Phòn
g
công
Phòn
g
tài
Ban
kiến
thi
ết
Phòn
g tổ
ch
ức

Phòn
g
hành
Phòng

- Một kế toán trưởng (kiêm trướng phòng tài vụ và PGĐ kinh doanh):Có nhiệm vụ
tổ chức và kiểm tra việc thực hiệnchế độ ghi chép ban đầu, chấp hành chế độ báo
cáo thống kê định kỳ, tổ chức bảo quản hồ sơ, cải tiến hình thức và phương thức kế
toán ngày càng hợp lý, chặt chẽ, phù hợp với điều kiện của công ty.
- Một kế toán tổng hợp :Có nhiệm vụ tập hợp tài liệu của các kế toán khác kết hợp
với nghiệp vụ kế toán đang theo dõi ,lập bảng cân đối số phát sinh trong kỳ, tập hợp
chi phí sản xuất và tính ra giá thành sản phẩm sản xuất, sau đó ghi chép vào sổ cái
các tài khoản và cuối cùng lập báo cáo định kỳ.
- Một kế toán nguyen vật liệu và TSCĐ. Có nhiệm vụ theo dõi ,ghi chép ,phản ánh
,tổng hợp số liệu về tình hình mua vào, vận chuyển ,bảo quản,N-X-T kho vật liệu
,công cụ ,dụng cụ ; tính giá hành thực tế vật liệu xuất kho,phân bổ và tính toán chi
phí vật liệu đang dùng cho các đối tượng tập hợp chi phí. Bên cạnh đó cũng song
song theo dõi ghi chép tình hình mua ,bán TSCĐ,trích khấu hao TSCĐ và phân bổ
cho các đối tượng sử dụng .
-Một kế toán ngân hàng ,tiền lương và các khoản trích theo lương:Có nhiệm vụ
giao dịch với các ngân hàng để theo dõi về các khoản thanh toán với người bán,
vưới khách hàng và các khoản vay qua ngân hàng. Bên cạnh đó còn làm nhiệm vụ
tổng hợp số liệu từ cácphân xưởng, phòng ban gửi lên, phối hợp với các bộ phận
khác để tính toán và thanh toán lương, phụ cấp lương cho CBCNV, trích BHXH,
BHYT, KPCĐ theo chế độ quy định.
- Một kế toán tiêu thụ :Có nhiệm vụ hạch toán chi tiết và tổng hợp kết quả tiêu thụ
thành phẩm và kết qủa hoạt động dịch vụ ,giám sát việc chấp hành quy định N-X-T
tiêu thụ thành phẩm, đôn đốc việc kiểm tra, thanh toán kịp thời ,theo dõi các khoản
phải thu,phải trả khách hàng và tiến hành thanh toán công nợ với khách hàng.
- Một kế toán thanh toán với nhà cung cấp: Có nhiệm vụ theo dõi các khoản thu
chi tiền mặt , thanh toán công nợ đối với nhà cung cấp và ngân sách nhà nước.
- Một thủ quỹ: Có nhiệm vụ cùng với kế toán thanh toán,kế toán tiêu thụ ,kế toán
ngân hàng tiến hành thu chi tiiền mặt, theo dõi các khoản thu chi tồn quỹ tiền mặt
tai đơn vị.
Mỗi bộ phận , mỗi kế toán có nhiệm vụ riêng song giữa họ lại có mối quan hệ chặt

Kế toán
trư
ởng

Kế
toán
NVL
Kế
toán
NH,
Kế
toán
t
ổng
Kế
toán
tiêu
Kế
toán
thành
Thủ
quỹ

Hình thức ghi sổ nhật ký chứng từ


Sổ thẻ kế toán
chi ti
ết

Bảng cân đối
s
ố phát sinh

Bảng kê
Sổ
cái
các
tài
Bảng cân đối kế
toán và các báo
Sổ
qu


1. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.

Cơ chế thị trường cùng với nó là liên kết và hoà nhập kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ
đã đem lại cho nền kinh tế nhiều thời cơ, vận hội mới nhưng cũng có nhiều thách
thức . Trong bối cảnh chung áy , những năm qua công ty đã có nhiều cố gắng vươn
lên trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, biết phát triển và khai thác khả
năng sản xuất phù hợp với đặc điểm và thế mạnh riêng của công ty , đảm bảo sản
xuất kinh doanh đạt hiêu quả cao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status