Kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh tại Công Ty Cổ Phần Thực Phẩm Kinh Đô Sài Gòn - Pdf 47

PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Lí Do chọn đề tài
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường như ngày nay, với cơ chế hạch toán
kinh doanh và sự cạnh tranh gay gắt của nhiều thành phần kinh tế thì để tồn tại lâu
dài và phát triển bền vững, các đơn vị sản xuất kinh doanh phải đảm bảo tự chủ trong
hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động có lãi. Thực hiện được yêu cầu đó đòi
hỏi các nhà quản lý doanh nghiệp cần nắm bắt thông tin kịp thời và chính xác, từ đó
làm cơ sở để đưa ra những quyết định kinh doanh sao cho có hiệu quả nhất. Vì thế
buộc các nhà quản lý phải quan tâm tới tất cả các khâu của quá trình sản xuất, từ lúc
bỏ vốn ra đến khi thu hồi vốn về vì mục đích cuối cùng của hầu hết các doanh nghiệp
là tối đa hoá lợi nhuận. Trong điều kiện này các doanh nghiệp phải tự mình quyết
định sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Và sản xuất như thế nào? Lúc này doanh
nghiệp nào tổ chức tốt khâu tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa thì doanh nghiệp đó đảm
bảo thu hồi vốn, bù đắp được chi phí bỏ ra và xác định đúng kết quả kinh doanh sẽ có
cơ hội tồn tại và phát triển. Ngược lại, doanh nghiệp nào thiếu quan tâm đến tiêu thụ
và xác định kết quả kinh doanh sẽ dẫn đến tình trạng “lãi giả, lỗ thật” như vậy không
sớm thì muộn cũng đi đến chỗ phá sản. Muốn thực hiện được điều đó, doanh nghiệp
phải nắm bắt và đáp ứng được tâm lý, nhu cầu người tiêu dùng với sản phẩm có chất
lượng cao, mẫu mã đẹp và phong phú, đa dạng, chương trình tiếp thị, chương trình
khuyến mãi hấp dẫn...có như thế doanh nghiệp mới có thể cạnh tranh để tồn tại và
phát triển. Thực tế nền kinh tế thị trường đã và đang cho thấy rõ điều đó.
Qua tiêu thụ, sản phẩm chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ và
cuối cùng kết thúc một vòng luân chuyển vốn. Có tiêu thụ sản phẩm mới có vốn để
tiến hành tái sản xuất mở rộng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Nhưng muốn đẩy
mạnh khâu tiêu thụ đòi hỏi các nhà quản lý phải sử dụng nhiều công cụ và biện pháp
khác nhau, trong đó hạch toán kế toán là công cụ quan trọng, không thể thiếu để tiến
hành quản lý các hoạt động kinh tế, kiểm tra việc sử dụng, quản lý tài sản, hàng hóa
nhằm đảm bảo tính năng động, sáng tạo và tự chủ trong sản xuất kinh doanh. Nhờ có
những thông tin kế toán cung cấp các nhà quản lý doanh nghiệp mới biết được tình
hình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp thế nào, kết quả kinh doanh trong kì ra sao
1

+ Các báo cáo tài chính của doanh nghiệp: bảng CĐKT, bảng báo cáo kết quả
HĐKD, phiếu thu, phiếu chi…
+ Thu thập thêm thông tin từ báo chí ( báo Sài Gòn Tiếp Thị, …) và
Internet.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận và thực tiễn về tổ chức công tác kế toán
tiêu thụ sản phẩm trong điều kiện nền kinh tế thị trường cạnh tranh và các biện pháp
tài chính nhằm đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Công Ty Cổ Phần Thực Phẩm Kinh
Đô Sài Gòn - Là công ty chuyên sản xuất và cung cấp cho thị trường các sản phẩm
bánh kẹo, chế biến thực phẩm công nghiệp. Trên cơ sở đó xác lập mô hình tổ chức
công tác kế toán tiêu thụ sản phẩm trên cơ sở công ty đang áp dụng, đồng thời cải
tiến thêm để hoàn thiện hệ thống hạch toán kế toán cho doanh nghiệp.
Đề tài này xin được giới hạn trong phạm vi hoạt động kinh doanh sản xuất của
Công Ty Cổ Phần Thực Phẩm Kinh Đô Sài Gòn. Người viết chỉ nghiên cứu quá trình
tiêu thụ sản phẩm, chi phí, doanh thu trong thời gian đầu năm 2010 ( Quý I ). Các số
liệu được thu thập từ phòng kế toán của công ty.
5. Bố cục khóa luận
Khóa luận gồm có 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận –
kiến nghị.
Trong phần nội dung có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán tiêu thụ và xác định kết quả hoạt động
kinh doanh.
Chương 2: Thực trạng và tình hình hoạt động của Công Ty Cổ Phần Thực
Phẩm Kinh Đô Sài Gòn.
Chương 3: Kế toán tiêu thụ và xác định kết quả hoạt động kinh doanh tại Công
Ty Cổ Phần Thực Phẩm Kinh Đô Sài Gòn.
Trong điều kiện nghiên cứu còn nhiều hạn chế cả về thời gian và sự hiểu biết
của bản thân, vì vậy bài làm chắc chắn không thể tránh được thiếu sót, kính mong sự
chỉ bảo và đóng góp ý kiến của quý Thầy cô và các bạn giúp khóa luận được hoàn
thiện hơn.

có trường hợp được tiêu dùng nội bộ; dùng làm quà tặng; khuyến mãi không thu tiền;
dùng để trả thay lương, thưởng cho người lao động...
4
Sản phẩm của doanh nghiệp có thể được tiêu thụ thị trường nội địa, cũng có
thể xuất khẩu ra thị trường nước ngoài để mở rộng thị trường.
1.1.1.2. Ý nghĩa
Tiêu thụ thành phẩm (hàng hóa) là thực hiện mục đích sản xuất và tiêu dùng,
đưa hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng, vì vậy quá trình tiêu thụ chính là cầu
nối giữa sản xuất và tiêu dùng. Nó là giai đoạn tái sản xuất, tạo điều kiện thu hồi vốn,
bù đắp chi phí, thực hiện nghĩa vụ với ngân Sách Nhà nước thông qua việc nộp thuế,
đầu tư phát triển tiếp, nâng cao đời sống người lao động. Đặc biệt trong nền kinh tế
thị trường thì tiêu thụ không chỉ là việc bán hàng hóa mà nó bao gồm từ nghiên cứu
thị trường, xác định nhu cầu khách hàng, tổ chức mua và xuất bán hàng hóa theo nhu
cầu của khách hàng nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất.
1.1.2. Kế toán tiêu thụ thành phẩm
Phương thức tiêu thụ thành phẩm có ảnh hưởng trực tiếp đến việc sử dụng các
tài khoản kế toán phản ánh tình hình xuất kho thành phẩm, hàng hóa. Đồng thời, có
tính quyết định đến việc xác định thời thời điểm bán hàng, hình thành doanh thu bán
hàng và tiết kiệm chi phí bán hàng để tăng lợi nhuận. Hiện nay, các doanh nghiệp
thường vận dụng các phương thức bán hàng dưới đây:
1.1.2.1. Bán hàng và kế toán hàng bán theo phương thức gửi hàng đi bán
Theo phương thức này, định kỳ doanh nghiệp gửi hàng cho khách hàng trên cơ
sở thỏa thuận trong hợp đồng mua bán giữa hai bên và giao hàng tại địa điểm quy
ước trong hợp đồng. Khi xuất kho gửi đi, hàng vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp, chỉ khi nào khách hàng trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán thì khi ấy mới
chuyển quyền sở hữu và được ghi nhận doanh thu bán hàng.
Tài khoản sử dụng: 157 – Hàng gửi đi bán.
Nội dung và kết cấu tài khoản 157:
Bên nợ ghi:
− Trị giá vốn thực tế của thành phẩm, hàng hóa gửi bán, kí gửi.

• Căn cứ vào phiếu xuất kho gửi thành phẩm, hàng hóa đi bán hoặc gửi cho
các đại lý nhờ bán hộ - kế toán ghi:
Nợ TK 157 – Hàng gửi đi bán
Có TK 155 – Thành phẩm
Có TK 156 – Hàng hóa
• Trường hợp DNTM mua hàng gửi đi bán ngay không qua nhập kho, kế
toán ghi:
6
Nợ TK 157 – Hàng gửi đi bán
Có TK 331 – Phải trả cho người bán
• Căn cứ vào giấy chấp nhận thanh toán hoặc các chứng từ thanh toán tiền
của khách hàng, của cơ sở đại lý bán hộ và các chứng từ thanh toán khác,
kế toán kết chuyển trị giá vốn của hàng đã bán sang bên nợ TK 632 – Giá
vốn hàng bán.
Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán
Có TK 157 – Hàng gửi bán
• Thành phẩm, hàng hóa đã gửi đi hoặc dịch vụ đã thực hiện, khách hàng
không chấp nhận, kế toán phản ánh nghiệp vụ nhập lại kho:
Nợ TK 155 – Thành phẩm
Nợ TK 156 – Hàng hóa
Có TK 157 – Hàng gửi bán
− Đối với đơn vị hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ:
• Đầu kỳ, kết chuyển trị giá thành phẩm gửi đi bán cuối kỳ trước nhưng
chưa được chấp nhận thanh toán, kế toán ghi:
Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán
có TK 157 – Hàng gửi bán
• Cuối kỳ, căn cứ vào kết quả kiểm kê thành phẩm gửi đi bán nhưng chưa
được xác định là bán, kế toán ghi:
Nợ TK 157 – Hàng gửi bán
Có TK 632 – Giá vốn hàng bán

xuyên:
• Căn cứ vào phiếu xuất kho, giao hàng trực tiếp cho khách hàng, kế toán
ghi:
Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán
Có TK 155 – Thành phẩm
Có TK 156 – Hàng hóa
• Trường hợp doanh nghiệp thương mại, dịch vụ mua bán hàng giao tay ba,
kế toán ghi:
Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán
Có TK 331 – Phải trả người bán
8
• Trường hợp doanh nghiệp sản xuất sản phẩm hoàn thành nhưng không
nhập kho mà chuyển bán ngay, kế toán ghi:
Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán
Có TK 154 – Chi phí SXKD dở dang
• Cuối kỳ, kết chuyển trị giá vốn hàng xuất kho đã bán vào bên nợ TK 911 –
xác định kết quả kinh doanh, kế toán ghi:
Nợ TK 911 – Xác định kết quả kinh doanh
Có TK 632 – Giá vốn hàng bán
Ngoài ra, các trường hợp bán lẻ hàng hóa, bán hàng trả góp cũng sử dụng tài
khoản 632 để phản ánh tình hình giá vốn hàng xuất kho đã bán.
− Đối với đơn vị hạch toàn hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ:
• Đầu kỳ, kết chuyển giá trị thành phẩm tồn kho và gởi bán đại lý, kế toán
ghi:
Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán
Có TK 155 – Trị giá thành phẩm tồn kho đầu kỳ
Có TK 157 – Trị giá thành phẩm gửi bán đại lý đầu kỳ
• Xác định và kết chuyển giá thành sản xuất thực tế của thành phẩm trong
kỳ:
Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán

đánh giá và lựa chọn phương án kinh doanh, phương án đầu tư có hiệu quả tối ưu.
1.2.2. Khái niệm, nguyên tắc và nhiệm vụ kế toán liên quan đến việc xác
định kết quả kinh doanh
1.2.2.1. Khái niệm kế toán
a) Khái niệm:
- Hoạt động sản xuất kinh doanh là hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm
hàng hóa, lao vụ, dịch vụ của các ngành sản xuất kinh doanh chính và sản xuất phụ.
- Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh: là số chênh lệch giữa doanh thu
thuần và giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.

10
Lãi
=
Doanh thu
thuần
Chi phí
bán hàng
Chi phí
quản lý DN
-
-
Giá vốn
hàng bán
+
+
- kết quả hoạt động tài chính là số còn lại của các khoản thu nhập từ hoạt
động tài chính sau khi đã trừ các khoản chi phí hoạt động tài chính như: mua bán
chứng khoán, cho vay, góp vốn liên doanh...
- Kết quả hoạt động khác: là số chênh lệch giữa các khoản thu nhập khác, chi
phí khác.

khác
=
Thu nhập
khác
Chi phí khác
-
Sau một kỳ kế toán, cần xác định kết quả của hoạt động kinh doanh trong kỳ
với yêu cầu chính xác và kịp thời. Chú ý nguyên tắc phù hợp khi ghi nhận giữa doanh
thu và chi phí phát sinh trong kỳ hạch toán.
1.2.2.3. Nhiệm vụ kế toán
Phản ánh và giám đốc tình hình kế hoạch tiêu thụ thành phẩm, tính toán doanh
thu và các khoản giảm trừ doanh thu ( chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán,
hàng bán bị trả lại và các khoản thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước).
Theo dõi, phản ánh, kiểm soát chặt chẽ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch
vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động khác. Ghi nhận đầy đủ, kịp thời vào các
khoản chi phí thu nhập của từng địa điểm kinh doanh, từng mặt hàng, từng hoạt
động.
Phân tích sự biến động của các khoản giảm trừ doanh thu để đánh giá hiệu quả
của các chiến lược đang thực hiện ( chẳng hạn doanh nghiệp áp dụng chính sách
chiết khấu thương mại có hiệu quả hay không, có nên thay đổi hay từ bỏ thực hiện
chính sách đó); hoặc tìm ra nguyên nhân nhằm giảm thiểu tình trạng phải giảm giá
hàng bán, hàng bán bị trả lại vì những trường hợp này một mặt làm tổn hại đến lợi
ích kinh tế của doanh nghiệp, mặt khác làm giảm uy tín của doanh nghiệp trên thị
trường.
Xác định kết quả từng hoạt động trong doanh nghiệp, phản ánh và kiểm tra,
giám sát tình hình phân phối kết quả kinh doanh. Xác định đúng số thuế phải nộp cho
nhà nước liên quan tới quá trình tiêu thụ thành phẩm và kịp thời thanh toán với ngân
sách nhà nước theo quy định của các luật thuế hiện hành.
Phản ánh và giám đốc tình hình thu nợ khách hàng về tiền mua hàng; vào thời
điểm cuối niên độ kế toán, căn cứ vào tình hình thực tế và chứng cứ thu thập được để

Sơ đồ hạch toán doanh thu cung ứng dịch vụ
Tài Khoản 511,512
- Thuế TTĐB, Thuế XK, Thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp phải nộp
- Khoản chiết khấu thương mại
- Trị giá hàng bị trả lại, giảm giá hàng bán
- Kết chuyển doanh thu bán hàng vào TK 911- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch
vụ phát sinh trong kỳ
Tài Khoản 511,512 không có số dư cuối kỳ
b) Các khoản giảm trừ doanh thu
13
Doanh thu bán hàng thuần mà doanh nghiệp thu được có thể thấp hơn doanh
thu bán hàng. Doanh thu thuần là khoản chênh lệch giữa doanh thu bán hàng và các
khoản giảm trừ doanh thu.
Các khoản giảm trừ doanh thu gồm:
- Chiết khấu thương mại: là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho
khách hàng mua hàng với khối lượng lớn. Khoản giảm giá có thể phát sinh trên khối
lượng từng lô hàng mà khách hàng đã mua, cũng xó thể phát sinh trên tổng khối
lượng hàng mua lũy kế trong một khoảng thời gian nhất định tùy thuộc vào chính
sách chiết khấu thương mại của bên bán.
Tài khoản sử dụng: 521 “chiết khấu thương mại”
Nội dung tài khoản:
Bên nợ: Số chiết khấu thương mại đã chấp nhận cho khách hàng được hưởng.
Bên có: Kết chuyển số chiết khấu thương mại phát sinh trong kỳ vào tài khoản
511 “ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” để xác định doanh thu thuần.
- Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua cho toàn bộ hay một
phần hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu. Như vậy chiết
khấu thương mại hoặc giảm giá hàng bán đều là giảm giá cho người mua, song lại
phát sinh trong hai trường hợp khác nhau hoàn toàn.
Tài khoản sử dụng: 532 “ giảm giá hàng bán”
Nội dung tài khoản:

+ Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch đó.
+ Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.
Sơ đồ tài khoản:
15
- Số thuế GTGT phải
nộp tính theo phương
pháp trực tiếp (nếu có)
- Kết chuyển doanh thu
hoạt động tài chính
thuần sang TK 911
- Tiền lãi, cổ tức và lợi
nhuận được chia.
- Chiết khấu thanh toán
được hưởng.
- Doanh thu hoạt động tài
chính khác phát sinh trong kì
TK515
515
b) Chi phí hoạt động tài chính:
Là những khoản chi phí hoạt động tài chính bao gồm các khoản chi phí hoặc
các khoản lỗ liên quan đến hoạt động đầu tư tài chính: chi phí vốn vay, chi phí góp
vốn liên doanh, lỗ chuyển nhượng chứng khoán ngắn hạn…
Kế toán sử dụng tài khoản 635 – Chi phí tài chính
tài khoản 635
- Chi phí hoạt động tài chính.
- Khoản lỗ do thanh lí đầu tư ngắn hạn,
chênh lệch tỷ giá hối đoái, bán ngoại tệ...
- Dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán.
- Chi phí chuyển nhượng, cho thuê cơ sở
hạ tầng.

Tài khoản sử dụng: kế toán sử dụng TK 811 – Chi phí khác

Tài khoản 811 không có số dư cuối kỳ
1.2.3.4. Chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh
a) Kế toán giá vốn hàng bán
Để xác định đúng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, trước hết cần xác
định đúng giá vốn hàng bán. Giá vốn hàng bán là giá vốn thực tế xuất kho của số
hàng hoá (gồm cả chi phí mua hàng phân bổ cho số hàng hoá đã bán ra trong kỳ - đối
với DN thương mại, hoặc là giá thành thực tế sản phẩm, lao vụ, dịch vụ - đối với
DNSX ) đã xác định là đã tiêu thụ, được tính vào giá vốn để xác định kết quả kinh
doanh.
Trị giá vốn hàng xuất kho đã bán được xác định bằng 1 trong 4 phương pháp
và đồng thời phụ thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp cụ thể, ở phạm vi nghiên
cứu này chỉ giới hạn trình bày trong doanh nghiệp sản xuất.
17
TK 811
Cuối kỳ, kết chuyển toàn bộ các
khỏan thu nhập khác phát sinh trong
kỳ vào TK 911.
Chi phí thanh lý nhượng bán tài
sản cố định.
Các khoản chi phí khác.
Trị giá vốn hàng xuất kho đã bán hoặc thành phẩm hoàn thành không nhập kho
đã bán ngay chính là giá thành sản xuất thực tế của thành phẩm xuất kho hoặc giá
thành sản xuất thực tế của sản phẩm hoàn thành. Có 4 phương pháp tính giá vốn:
- Giá thực tế đích danh: Khi xuất kho thành phẩm thì căn cứ vào số lượng
xuất kho thuộc lô nào và giá thành thực tế nhập kho của lô đó để tính giá trị xuất kho.
- Giá bình quân gia quyền: Theo phương pháp này, trị giá vốn của thành phẩm xuất
kho để bán được căn cứ vào số lượng thành phẩm xuất kho và đơn giá bình quân gia
quyền.

TK 632 không có số dư
b) Kế toán chi phí bán hàng
Chi phí bán hàng là toàn bộ chi phí bỏ ra trong quá trình lưu thông và tiếp thị
khi tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, lao vụ, dịch vụ bao gồm: chi phí bảo quản, chi phí
quảng cáo, đóng gói, vận chuyển, hoa hồng…. Có thể nói, chi phí bán hàng là chi phí
lưu thông và chi phí tiếp thị phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa,
dịch vụ.
Một số loại chi phí bán hàng của doanh nghiệp theo quy định hiện hành:
Chi phí nhân viên: là các khoản lương và phụ cấp phải trả cho nhân viên bán
hàng; nhân viên đóng gói; bảo quản và vận chuyển sản phẩm, hàng hóa... và các
khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ trên tiền lương theo quy định.
Chi phí vật liệu bao bì: là các chi phí vật liệu bao bì dùng để đóng gói sản
phẩm hàng hóa; chi phí vật liệu dùng cho bảo quản, bóc vác, nhiên liệu cho vận
chuyển sản phẩm hàng hóa trong tiêu thụ, vật liệu dùng cho sửa chữa TSCĐ....
Chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hóa: là các khoản chi phí bỏ ra để sửa chữa,
bảo hành sản phẩm, hàng hóa trong thời gian quy định về bảo hành.
Chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dụng cụ, đồ dùng: chi phí khấu hao của các
TSCĐ dùng trong khâu tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa như nhà kho, cửa hàng, phương
tiện bóc dở...Chi phí về công cụ, dụng cụ, đồ dùng đo lường, tính toán, làm việc...
Chi phí dịch vụ mua ngoài: Các dịch vụ mua ngoài phục vụ cho khâu tiêu thụ
hàng hóa, sản phẩm như chi phí thuê TSCĐ; thuê kho bãi; thuê bóc vác, vận chuyển,
hoa hồng cho các đại lý bán hàng,...
Kế toán sử dụng TK 641- Chi phí bán hàng
c) Kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp
19
TK 641
Tập hợp các chi phí bán
hàng phát sinh trong kỳ
Kết chuyển chi phí bán hàng
vào bên Nợ TK 911 - “Xác định

nhập khác.
20
TK 911
TK 642
Tập hợp các chi phí quản
lí doanh nghiệp phát sinh
trong kỳ
Kết chuyển chi phí quản lí
doanh nghiệp vào bên Nợ TK 911
- “Xác định kết quả kinh doanh”,
hoặc vào bên Nợ TK 142 - “CP
chờ kết chuyển”
Tài khoản 642 không có số dư cuối kỳ
- Lãi của hoạt động tiêu thụ trong kỳ - Lỗ của hoạt động tiêu thụ trong kỳ.
21
TK333(1)
TK111,112
TK155 TK632 TK911
TK521,531
532,333
TK511
TK111,
112,131
(1a) (9)
TK111,112
131
(4a) (4b)
(2)
(7)
(1b) (1c)

2.1.1 Quá trình hình thành
-Công ty Cổ Phần Thực Phẩm Kinh Đô Sài Gòn là đơn vị kinh doanh hoạt động
trong lĩnh vực sản xuất chế biến thực phẩm công nghệ, bánh kẹo các loại, đầu tư
thương mại và dịch vụ.Chức năng chính là sản xuất và kinh doanh các loại sản phẩm
bánh tươi cao cấp và quản lý hệ thống Kinh Đô Bakery
-Công ty Cổ Phần Thực Phẩm Kinh Đô Sài Gòn được thành lập vào năm 2004,
với số vốn ban đầu 20 tỷ đồng, được xây dựng trên diện tích 46000m
2
. Ban đầu Công
ty là bộ phận của đại gia đình Kinh Đô (Công ty Cổ Phần Kinh Đô). Công ty được
xây dựng tại địa chỉ 447/18 Hùng Vương, Phường 12, Quận 6, TP Hồ Chí Minh.
Nhưng đến 11/2009 để phát triển bền vững và mở rộng thị phần, Kinh đô Sài Gòn
ngoài việc dời nhà máy từ Phú Lâm vào khu công nghiệp Tân Tạo ( Lô số 7, Đường
Nước Lên, Khu Công Nghiệp Tân Tạo, Phường Tân Tạo, Quận Bình Tân, TP Hồ Chí
Minh) nhằm hoàn thiện các tiêu chuẩn về chất lượng, tăng năng lực sản xuất để phục
vụ cho mục tiêu mở rộng thị trường, công ty còn đầu tư thêm một số dây chuyền sản
xuất hiện đại, sử dụng nhiều nguyên liệu cao cấp, nâng cao tay nghề công nhân, mở
các lớp đào tạo kỹ năng phục vụ cho nhân viên và hợp tác cùng chuyên gia nước
ngoài để phát triển dòng sản phẩm Châu Âu...để phát triển đón đầu thị trường trong
tương lai.
2.1.2 Quá trình phát triển
-Trong thời gian mới đầu kinh doanh với số vốn ít nên công ty cũng gặp nhiều
khó khăn trước những đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Trước những khó khăn đó,
toàn thể công nhân viên đã nỗ lực hết mình tìm ra những mẫu mã, sản phẩm mới. Với
giá cả hợp lý, những sản phẩm của công ty đã trở thành người bạn của người tiêu dùng.
-Qua những nỗ lực của toàn thể công nhân viên, Công ty Cổ Phần Thực Phẩm
Kinh Đô Sài Gòn đã đứng vững trên thị trường trong nước. Hiện nay số lượng công
nhân của Công ty lên đến gần 600 người. Công ty đã không ngừng hợp tác, đào tạo,
nâng cao tay nghề của đội ngũ nhân sự. Đầu năm 2010, Công ty Kinh Đô Sài Gòn
mời Mr Thomas Bruenger – chuyên gia nước ngoài vào vị trí Giám đốc kỹ thuật sản

-Cũng qua hệ thống này, Công ty tiếp nhận rất nhiều ý kiến đóng góp cũng như
phản hồi của người tiêu dùng, qua đó có thể hoàn thiện và cải tiến sản phẩm, cung
cách phục vụ của mình nhiều hơn nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người
tiêu dùng. Một trong những thành quả và là niềm tự hào mà công ty đạt được trong
những năm qua, đó là đội ngũ các nhà quản lý và chuyên môn cao, được đào tạo
trong và ngoài nước. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực là một trong những mục tiêu
hàng đầu mà công ty quan tâm.
24
-Kinh Đô Sài Gòn với chiến lược kinh doanh mới, đầu tư vào việc xây dựng mô
hình kinh doanh kết hợp giữa bánh tươi truyền thống và nước uống trong năm 2009,
đã nhận sự ủng hộ nhiệt tình của khách hàng. Tiếp nối thành công, Kinh Đô Sài Gòn
đã chính thức khai trương cửa hàng Bakery mới vào ngày 8/1 tại 1/31 Quang Trung,
Thị trấn Hóc Môn theo hình thức nhượng quyền. Sự kiện này khẳng định kế hoạch
mở rộng chuỗi cửa hàng Kinh Đô, không chỉ tại khu vực trung tâm mà còn đến tận
những nơi xa hơn. Từ nay, khách hàng khu vực Hóc Môn và vùng lân cận sẽ không
cần đi xa mà vẫn được thưởng thức các loại bánh tươi Kinh Đô thơm ngon cùng với
nhiều món nước uống mát lạnh sảng khoái. Ngay từ trước ngày khai trương, dân cư
trong khu vực đã quan tâm và tìm đến mua sản phẩm. Và ngày khai trương đã đánh
dấu cho sự thành công rực rỡ. Kinh Đô Bakery xuất hiện như một hiện tượng đặc biệt
trong khu vực khi ở đây chưa có một cửa hàng bánh tươi cao cấp nào. Khách chen
lấn để được vào mua hàng và chỉ trong nháy mắt, hàng hóa vừa trưng bày lên đã hết
ngay. Thậm chí khách còn xếp hàng ngay tại khu vực lò nướng để tranh thủ chọn lấy
những chiếc bánh thơm ngon nóng hổi vừa ra lò. Sự thành công này khẳng định một
lần nữa hướng đi đúng đắn của Kinh Đô Sài Gòn trong việc gia tăng giá trị phục vụ
bằng việc kết hợp giữa bánh tươi và nước uống. Với cửa hàng này, toàn bộ nhân viên
Bộ phận Nhượng quyền và dự án của công ty Kinh Đô Sài Gòn đã tập trung hết sức
lực và tận tâm trong việc chuẩn bị khai trương. Công việc chuẩn bị chu đáo từ việc
đào tạo, thiết kế nội thất, xây dựng các chương trình khuyến mãi,... Kinh Đô Bakery
Hóc Môn sẽ theo mô hình mới với màu chủ đạo cam và xanh, kinh doanh các loại
bánh tươi và nước uống. Đây chính là sự khởi động đầy thuận lợi cho Kinh Đô Sài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status