TIỂU LUẬN: Thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA - Pdf 12



TIỂU LUẬN:

Thực trạng và một số giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
nguồn vốn ODA lời nói đầu

Trong thời gian qua nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể .
Đây là kết quả việc triển khai thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và
lãnh đạo , sự nổ lực của toàn dân và trong đó có sự hỗ trợ đáng kể của cộng đồng các
nhà tài trợ dành cho Việt Nam .Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn vốn tài trợ
(ODA) ,Chính phủ Việt Nam đã tích cực nắm bắt các cơ hội nhằm thu hút nguồn vốn
này cũng như đề ra nhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu qủa sử dụng .
Kể từ khi Việt Nam chính thức nối lại quan hệ với cộng đồng tài chính quốc tế ,
hàng năm nguồn vốn cam kết tài trợ cho Việt Nam ngày càng gia tăng . Nguồn vốn
này được thực hiện dưới hai hình thức đó là viện trợ không hoàn lại và cho vay ưu
đãi.Nó bổ sung cho nguồn vốn trong nước ,giúp giải quyết tình trạnh cơ sơ hạ tâng lạc
hậu ,nhỏ bé và phận bổ không đều ở nước ta,ODA tác động tích cực rất lớn đến quá
trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương và các vùng lãnh thổ ,thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài FDI , cải thiện điều kiện sinh hoạt và chênh lệch trong phân phối
lợi tức ngày càng tăng giữa các vùng đô thị và nông thôn,vùng núi,các vùng sâu, vùng

Vốn đầu tư.
Số tiền cần thiết để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ là lớn.
Riêng đối với hoạt động đầu tư xây dựng thì không những vốn lớn mà còn nằm khê
đọng lâu dài ,đặc biệt là những công trình có tính chất quan trọng thì thời gian thu hồi
vốn một cách gián tiếp qua các hoạt động khác,thậm chí có những công trình không
thể thu hồi vốn như xây dựng hệ thống đường bộ lợi ích của công trình này được thể
hiện qua tác dụng của chúng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế.
Vởy nguồn vốn sẽ được tích luỹ từ đâu ? tiền được sử dụng cho các hoạt động trên

chỉ có thể là tiềng tích luỹ của xã hội , của các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ , là
tiền tiết kiệm của dân cư và vốn huy động từ nước ngoài .
Từ đây ta có thể rút ra định nghĩa về vốn đầu tư và nguồn gốc của vốn đầu tư như
sau :
- Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội , của các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch
vụ , là tiền tiết kiệm của dân cư và vốn huy động từ các nguồn khác (liên doanh , liên
kết hoặc tài trợ từ nước ngoài ) được đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã
hội nhằm duy trì tiềm lực lớn trên cho sản xuất kinh doanh , dịch vụ , sinh hoạt xã hội
và sinh hoạt trong mổi gia đình .
Tuỳ theo góc độ nghiên cứu ta có thể phân loại vốn đầu tư như sau :

+ Vốn trong nước :Đây là nguồn vốn đóng vai trò chủ chốt quyết định tới sự phát
triển vững mạnh lâu dài ,sự tăng trưởng kinh tế một cách liên tục ,ổn định nó không
những có ý nghĩa to lớn đối với sản xuất kinh doanh trong nội bộ nền kinh tế mà còn
ảnh hưởng đến thu hút vốn từ nước ngoài. Vốn tích luỹ trong nước có đủ lớn mới có
điều kiện xây dựng các cơ sở hạ tầng , tạo đầu tư thuận lợi để thu hút nguồn vốn và
tiệp nhận đầu tư từ nước ngoài đồng thời mới giữ được thế tự chủ , chủ động không
phụ thuộc vào nước ngoài .
Vốn trong nước có thể huy động từ các nguồn : vốn ngân sách nhà nước , vốn của
doanh nghiệp , vốn trong dân .
+ Vốn huy động từ nước ngoài : bao gồm vốn đầu tư trực tiếp và vốn đầu tư gián

chuyên môn trong đó uỷ ban hỗ trợ phát triển (Development assistance commitee-
DAC), nhằm giúp các nước đang phát triển phát triển kinh tế và nâng cao hiệu quả
đầu tư. Thành viên ban đầu của DACgồm 18 nước. Thường kỳ các nước thành viên
DAC thông báo cho uỷ ban các khoản đóng góp của họ cho các chương trình viện trợ
phát triển và trao đổi với nhau các vấn đề liên quan tới tư cách viện trợ phát triển.
Năm 1996 ,DAC đã cho ra đời bản báo cáo “ kiến tạo thế kỷ XXI- Vai trò của hợp tác
phát triển “.Báo cáo này đã nói tới một vai trò khác của viện trợ ngoài vai trò cung
cấp vốn. Viện trợ phát triển phải chú trọng vào việc hỗ trợ cho các nước nhận có được

thể chế và những chính sách phù hợp chứ không phải chỉ cấp vốn. Dĩ nhiên tiến cũng
là vấn đề quan trọng nhưng viện trợ có hiệu quả phải mang lại cả tài chính lẫn tư
tưởng , và sự kết hợp hai yếu tố đó có ý nghĩa thực sự quan trọng.
Thành viên của DAC hiện nay gốm có :áo, Bỉ ,Canada,Đan mạch
,Pháp,Đức,Ailen,Italia,Hà lan,Nauy,Bồ Đào Nha,Thuỵ Điển,Vương Quốc
Anh,Mỹ,Niudilân, ôtxtraylia,Nhật Bản,Phần lan, Luxembua,Tây Ban Nha,va Uỷ ban
của cộng đồng châu Âu.

22.Khái niệm về hỗ trợ phát triển chính thức.
Hỗ trợ phát triển chính thức (official Development assistance-ODA)bao gồm các
khoản viện trợ không hoàn lại,viện trợ có hoàn lại , hoặc tín dụng ưu đãi của các
chính phủ,các tổ chưc phi chính phủ,các tổ chức thuộc hệ thống liên hợp quốc,các tổ
chức tài chính quốc tế dành cho các nước đang và chậm phát triển .
Nguồn vốn từ bên ngoài đưa vào các nước đang và phát triển được thực hiện qua
nhiều hình thức:
+ Tài trợ phát triển chình thức (official Development Finance-ODF) là nguôn tài trợ
chính thức của chính phủ cho mục tiêu phát triển . Nguồn vốn này bao gồm :ODA và
các hình thức ODF khác;ODA chiếm tỷ trọng chủ yếu trong ODF.
+tín dụng thương mại từ các ngân hàng.
+Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment-FDI).
+Viện trợ cho không của các tổ chức phi chính phủ(NGO).

234.Theo hình thức:
- Hỗ trợ dự án : là hình thức chủ yếu của ODA để thực hiện các dự án cụ thể. Nó có
thể là hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật ,có thể là cho không hoặc cho ưu đãi.
- Hỗ trợ phi dự án bao gồm các loại hình sau:
+Hỗ trợ cán cân thanh toán thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp (chuyển giao tiền
tệ )hoặc hỗ trợ hành hoá ,hoặc hỗ trợ nhập khẩu . Ngoại tệ hoặc hành hoá được
chuyển giao qua hình thức này có thể được sử dụng để hỗ trợ cho ngân sách.
+Hỗ trợ trả nợ .

+Viện trợ chương trình: là khoản ODA dành cho một mục đích tổng quát với thời
gian nhất định mà không phải xác định một cách chính xác nó sẽ được sử dụng như
thế nào.
24.Tình hình hoạt động nguồn vốn ODA trên thế giới.
Cho đến nay , trên thế giới có bốn nguồn cung cấp ODA chủ yếu:
- các thành viên của uỷ ban hỗ trợ phát triển (DAC).
- Liên Xô (cũ ) và các nước Đông Âu .
- Một số nước ả Rập.
- Một số nước đang phát triển .
Trong các nguồn trên ,ODAtừ các nước thành viên DAC là lớn nhất . Năm 1992
,DAC cung cấp62,711tỷ USD chiếm 0,34% tổng GDP của các nước này .Năm 1997
,DAC cung cấp 48,342 tỷ USD bằng 0,22% tổng GNP.
Bên cạnh việc cung cấp ODA trực tiếp ( đóng vai trò nhà tài trợ song phương ),các
nước cung cấp ODA còn chuyển giao ODA cho các nước đang phát triển thông qua
các tổ chức viện trợ đa phương . Các tổ chức đó là:
- Các tổ chức thuộc hệ thống liên hợp quốc (như UNDP, UNICEF, WFP,
UNFPA, WHO, FAO ).
- Liên minh châu Âu (EU).
- Các tổ chức phi chính phủ (NGO).
- Các tổ chức tài chính quốc tế gồm:quỹ tiền tệ quốc tế(IMF), Ngân hàng thế
giới(WB), Ngân hàng phát triển châu á(ADB), quỹ viện trợ của tổ chức OPEC,


lan
Mỹ Itali
a
Nau
y
Nhật
bản
ôxtrây
lia
Phá
p
Thỵ
u
điển
Năm1996
triệu(USD)
318
5
937 1782 177
3
330
3
905
8
249
7
131
1
943

Bảng viện trợ của 10 nhà tài trợ lớn phân bổ theo nhóm nước .

Các nư
ớc nhậnNh
ật

M


Đ
ức

Pháp


lan
Anh

Italia

Thu

Điển
Canada

Đan
mạch

17,6 25,4

33,9

40,9 25,5 36,2 40,4
Các nước có thu nhập
trung bình(676-
2695USD/người)
28,0 33,8 32,1

38,6 27,0

21,0

21,7 31,0 27,7 11,8
Các nư
ớc có thu nhập
trung bình khá(2696-
8395USD/người)
8,6

1,3

4,1

14,0

11,5

3,6

Nước và vệ
sinh
0,7 1,0 7,5 3,2 2,7 2,4 0,7 4,4 0,9 2,2

V
ận tải
thông tin và
năng lượng
41,1

3,9

20,1

5,3

4,1

9,3

8,4

10,9

9,3

25,5

Nông nghiệp


8,6

Các l
ĩnh vực
khác
28,4

52,7

23,1

21,6

54,2

28,9

8,4

26,8

45,9

43,7 Hỗ trợ phát triển chính thức có thể có ràng buộc(phải chi tiêu ở nước cung cấp
viện trợ) hoặc không ràng buộc(có thể chi tiêu ở bất cứ nơi nào) hoặc có thể ràng
buộc một phần (một phần chi tiêu ở nước cấp viện trợ ,phần còn lại chi tiêu ở bất ký
nơi nào),ngoài ra mổi nước cung cấp viện trợ cũng đều có những ràng buộc khác

tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ hoạt động với mục tiêu trợ giúp cho
chiến lược phát triển của các nước đang và chậm phát triển ,do vậy nguồn vốn này có
những ưu đãi nhất định – do những ưu đãi này mà các nước đang và chậm phát triển
trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá đất nước thường coi ODA như một
“giải pháp cứu cánh” để vừa khắc phục tình trạng thiếu vốn đầu tư trong nước ,vừa
tạo cơ sở vật chất ban đầu nhằm tạo dựng một môi trường đầu tư thuận lợi để kêu gọi
nguồn vốn đầu tư trực tiếp FDI ,đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy đầu tư trong nước
phát triển. Như vậy có thể nói nguồn vốn ODA có vai trò quan trọng trong chiến lược

phát triển kinh tế của các nước đang và châm phát triển , điều đó thể hiện rõ nét ở các
khía cạnh sau:
Thứ nhất ODA có vai trò bổ sung cho nguồn vốn tròng nước.
Đối với các nước đang phát triển ,các khoản viện trợ và cho vay theo điều kiện
ODA là nguồn tài chính quan trọng giữ vai trò bổ sung cho quá trình phát triển.
Chẳng hạn trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hoá ở các nước Nics và
ASEAN viện trợ nước ngoài đã có một tầm quan trọng đáng kể.
Đài loan trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hoá đã dùng viện trợ và
nguồn vốn nước ngoài để thoả mãn gần 50% tổng khối lượng vốn đầu tư trong nước.
Sau khi nguồn tiết kiệm trong nước tăng lên ,Đài Loan mới giảm dần sự lệ thuộc vào
viện trợ .
Hàn Quốc nhờ có mối liên hệ đặc biệt với Mỹ nên có được nguồn viện trợ rất lớn ,
chiếm 81,2% tổng số viện trợ của nước này trong những năm1970-1972. Nhờ đó mà
giảm được căng thẳng về nhu cầu đầu tư và có điều kiện thuận lợi để thực hiện được
các mục tiêu kinh tế
Còn hầu hết các nước Đông Nam á ,sua khi dành được độc lập đất nước ở trong
tình trạng nghèo nàn lạc hậu .Để phát triển cơ sở hạ tầng – một lĩnh vực đảm bảo tiền
đề vật chất ban đầu cho phát triển kinh tế song đòi hỏi phải có nhiều vốn và khả năng
thu hồi vốn chậm . Giải quyết vấn đề này các nước đang phát triển nói chung và các
nước Đông Nam á nói riêng đã sử dụng nguồn vốn ODA . Theo báo cáo của ngân
hàng thế giới ,từ năm 1971 đến năm 1974 tại Philippines có tới 60% tổng số vốn vay

USD để hỗ trợ điều chỉnh cơ cấu kinh tế ở các nước đang phát triển. Đây cũng là loại
hỗ trợ được thế giới thừa nhận.
Thứ tư ,hỗ trợ phát triển chính thức ODA tăng khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài FDI và taọ điều kiện để mở rộng đầu tư phát triển trong nước ở các nước
đang và chậm phát triển .
Như chúng ta đã biết , để có thể thu hút được các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài bỏ
vốn đầu tư váo một lĩnh vực nào đó , thì tại quốc gia đó phải đảm bảo cho họ có môi
trường đầu tư tốt (cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội , hệ thống chính sách , pháp luật ổn

định ), đảm bảo đầu tư có lợi với phí tổn đầu tư thấp hiệu quả đầu tư cao . Muốn vậy
, đầu tư của nhà nước phải được tập trung vào việc nâng cấp cải thiện và xây ựng mới
cơ sở hạ tầng , hệ thống tài chính , ngân hàng Nguồn vốn nhà nước có thể giải
quyết nhưng đầu tư này là phải dựa vào nguồn vốn ODAgiúp bổ sung cho vốn đầu tư
hạn hẹp từ ngân sách của nhà nước . Môi trường đầu tư một khi được cải thiện sẽ tăng
sứ hút đồng vốn trực tiếp nước ngoài , thúc đẩy đầu tư trong nước tăng dẫn đến sự
phát triển bền vững của nền kinh tế.
Mặt khác , việc sử dụng nguồn vốn ODA để đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng sẽ tạo điều
kiện cho các nhà đầu tư trong nước tập trung đầu tư vào các công trình sản xuất kinh
doanh có khả năng mang lại lợi nhuận .

Chương ii
Thực trạng sử dụng nguồn vốn ODA ở việt nam

i. Các nguồn ODA đối với Việt Nam.
1.Các nguồn ODA hiện nay
Trong giai đoạn 1993 đến nay ,Việt Nam đã nhận được sự hỗ trợ tích cực của cộng
đồng các nhà tài trợ quốc tế đối với công cuộc phát triển kinh tế xã hội . Nguồn vốn
hỗ trợ phát triển chình thức ODA đã đóng vai trò quan trọng , góp phần giúp Việt
Nam đạt được tăng trưởng kinh tế , xóa đói giảm nghèo và cải thiện đời sống nhân
dân .

viện trợ Việt Nam từ trước. Quỹ Koweit đã tài trợ một số dự án cho Việt Nam
Ngày càng có thêm nhiều nước viện trợ cho Việt Nam nhưng với số lượng vốn của
các dự án này không lớn . Ngoài ra , Việt Nam còn nhận sự hợp tác của các tổ chức
phi chính phủ (NGO)như tổ chức SIDA Thuỵ Điển

2.Một số nhà tài trợ chính cho Việt Nam .
+ Nhật Bản :ODA của Nhật Bản (Quỹ hợp tác kinh tế hải ngoại – OECF Nhật Bản).
Có khối lượng lớn và số dự án được tài trợ nhiều nhất trong các dự án có vốn ODA
của Việt Nam . Trong những năm lại đây mức giải ngân nguồn vốnODA của Nhật
Bản đạt trên500 triệu USD hàng năm. Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC)
đã đẩy nhanh đáng kể tốc độ giải ngân cho một số dự án giao thông vận tải và điện
lực có quy mô lớn .Như vậy nghành năng lượng đã tiếp nhận khoảng2/3 tổng mức
giải ngân của JBIChàng năm. Phần lớn số kinh phí còn lại được chi cho việc xây
dựng đường quốc lộ , khôi phục cầu và xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng nông
thôn trong nghành giao thông vận tải .Nguồn ODA không hoàn được đầu tư đặc biệt
cho các chương trình đào tạo (về công nghệ) , giao thông vận tải và y tế .

+Ngân hàng phát triển châu á (ADB) :Đây là một trong ba nhà tài trợ lớn nhất cho
Việt Nam hàng năm lượng vốn viện trợ là lớn và ổn định .Hàng năm ADB viện ttrợ

cho Việt Nam khoảng tử 250 đến 350 triệu USD , phần lớn là từ quỹ hỗ trợ ưu đãi
ADF và bên cạnh đó là hỗ trợ kỹ thuật 7-10 triệu USD một năm . Giao thông vận tải
vẫn là nghành được ADB đầu tư nhiều nhất , với mức giải ngân khoảng hơn 60 triệu
USD. Các hoạt động hỗ trợ của ADB cho nghành năng lượng đã tăng lên rất nhiều
lần . Sự hỗ trợ của ADB cho lĩnh vực thể chế và chính sách thậm chí còn tăng với
mức độ cao hơn nhiều và vì vậy nó đã trở thành lĩnh vực hỗ trợ lớn thứ hai của ADB.
Đây chủ yếu là kết quả triển khai chương trình hỗ trợ trong nghành tài chính của
ADB .

+Ngân hàng thế giới (WB): Tính đến tháng 11/2001Ngân hàng thế giới đã tài trợ cho

, sức khoẻ sinh sản và sức khoẻ bà mẹ . Một lượng kinh phí đáng kể cũng được đầu tư
cho các hoạt động chuẩn bị phòng chống thiên tai , xây dựng thể chế , giáo dục ,phát
triển nông thôn và quỹ môi trường toàn cầu (GEF).

+ Đức: Nguồn tài trợ của nước Đức cho Việt Nam chủ yếu tập trung vào công nghiệp
, ytế và nông nghiệp . Mức đầu tư cho nghành năng lượng nhiều nhất song chiếm tỷ lệ
chưa đến 10% tổng mức giải ngân của Đức . Mức giải ngân mấy năm gần đây đạt
khoảng 60 triệu USD /năm.

+ôtxtraylia : ODA của ôtxtraylia chủ yếu dưới hình thức viện trợ không hoàn lại
thuần tuý và tập trung cho phát triển nguồn nhân lực , giao thông và ytế . Mức giải
ngân thấp hơn Đức ( khoảng 50 triêu USD).

+Thuỵ Điển , Đan Mạch , Hoa Kỳ , Tây Ban Nha là những nhà tài trợ cho Việt Nam
tuy không lớn bằng những nhà tài trợ nói trên song nó cũng nằm trong 10 nhà tài trợ
lớn nhất cho Việt Nam . Mức giải ngân hàng năm của các tổ chức này nằm trên dưới
40 triệu USD.
ii.tình hình sử dụng nguồn vốn oda.

Từ năm 1993 tới nay , Việt Nam đã hợp tác với cộng đồng các nhà tài trợ tổ chức
thành công 9 hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ ( hội nghị CG) và được cộng đồng
tài trợ cam kết hỗ trợ nguồn vốn ODA với giá trị là 20.006 tỷ USD .
Khả năng huy động trong việc thu hút nguồn vốn ODA la việc mà nhà nước Việt
Nam luôn chú trọng . Chính phủ đã không ngừng hoàn thiện khung pháp lý cho việc
quản lý nguồn vốn này .Bắt đầu từ nghị định 20/cp ban hành 1994 (tức chưa đầy 1
năm sau hội nghị Paris) tiếp đó là nghị định 87/CP năm 1997và hiện nay là nghị định
17/2001/NĐ - CP ban hành năm 2001.Chính phủ đã 3 lần ban hành các văn bản
khung pháp lý cao nhất cho hoạt động thu hút quản lý và sử dụng nguồn vốn quan
trọng này.Đây cũng chính là 3 lần khuồn khổ pháp lý cơ bản cho hoạt động quản lý
Nhà Nước về nguồn vốn ODA được bổ sung , sưă đổi , hoàn thiện cho phù hợp với

năm 1990 , song tỷ trọng ODA cho lĩnh vực nảy đã giảm xuống còn 5% vào cuối thập
kỷ . Tuy nhiên ,mức giải ngân tuyệt đối từ năm 1998 trở về trước khá ổn định (
khoảng 50 triệu USD) nhưng từ năm 1999 đến nay lượng vốn ODA cho lĩnh vực này
đã tăng vọt lên hơn 70 triệu USD hằng năm .Tính bình quân chung cho cả giai đoạn
1993 đến hết 2001 tỷ trọng ODA cho lĩnh vực nay chiếm khoảng 7,8%(tường đương
75 triệu USD) .lượng kinh phí này được phân bổ trong phạm vi khoảng 50 dự án (
chủ yếu là ở cấp vùng ) với sự hỗ trợ của rất nhiều nhà tài trợ song phương . Ngoài
ADB , cung cấp 1/3 nguồn vốn ODA ,hầu như các tổ chức đa phương khác đều không
tham gia vào lĩnh vực này . Vẫn còn nhiều việc phải làm , như kết quả của việc điều
tra chính thức cho thấy mới có khoảng một nữa số dân Việt Nam được cung cấp nước
sạch và các phươn tiện vệ sinh có hiệu quả.

1.4.lĩnh vực phát triển con người.
lĩnh vực phát triển con người có mức giải ngân tương đối lớn chiếm khoảng 12%
tổng nguồn vốn ODA (giai đoạn 1993- 2001) tức là khoảng hơn 1tỷ USD .tập trung
chủ yếu của nguồn vốn này là phân bổ cho ytế(năm 2001 chiếm khoảng 110 triệu

USD) như cải tạo nâng cấp các bênh viện,mua các thiết bị dụng cụ ytế , tiêm chủng
toàn quốc tiếp theo là lĩnh vực giáo dực và đào tạo(năm 2001 chiếm khoảng gần
triệu USD). Cả hai lĩnh vực ytế , giáo dục và đào tạo có một số lượng lớn các dự án
đơn lẻ và thường là quy mô nhỏ . ví dụ trong năm 1999 có hơn 200 dự án đang được
triển khai , đó là chưa kể những dự án do các tổ chức phi chính phủ hỗ trợ .Trong
tổng số hơn 150 dự án góp phần vào con số giải ngân trong năm 1999 , thì chưa đến
một nữa có tổng mức cam kết trên 1 triệu USD , dẫn đến con số giải ngân tương đối
nhỏ qua từng năm . Những dự án đơn lẻ có thể phát huy tác dụng rất lớn đối với việc
cải thiện tình hình sức khoẻ người dân , nhưng cũng có chi phí giao dịch cao về phía
nhà tài trợ cũng như về phía cơ quan tiếp nhận viện trợ .
1.5 lĩnh vực phát triển nông thôn.
Phát triển nông thôn được xếp thứ ba với mức vốn đầu tư chiếm khoảng 13% trong
giai đoạn 1993 – 2001 ( tương đương 1.26tỷ USD). Tuy nhiên trong mấy năm gần

USD) được cung cấp trong khuôn khổ của chương trình cho vay vốn thuộc lĩnh vực
tài chính của ADB. Thuỵ Điển và UNDP đứng ở vị trí thứ hai với mưc viện trợ không
hoàn lại của mổi bên là 5 triệu USD . Các dự án giải ngân lớn nhất củaThuỵ Điển bao
gồn chương trình cải cách kinh tế về thuế và quản lý thuế , thiết lập quỹ đào tạo và
các dịch vụ tư vấn , và hỗ trợ Ban Tổ chức chính phủ hiện đại hoá hệ thốn quản lý
nhân sự đối với công chức .UNDP hỗ trợ một số dự án quan trọng nhằm tăng cường
thể chế và xây dựng năng lực cũng như cải thiện các chính sách kinh tế xã hội và môi
trường pháp lý liên quan đến các hoạt động kinh doanh của khu vực tư nhân.

2.Đánh giá chung về hiệu quả và biện pháp mà chính phủ áp dụng nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA thời gian qua.
2.1. Đánh giá chung về tình hình thực hiện nguồn vốn ODA trong thời gian qua.
Trong thời gian qua ,nhìn chung Việt Nam đã thàn công trong việc thu hút
nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức , phục vụ việc thực hiện chiến lược ổn định và
phát triển kinh tế xã hội 1991-2000.

Trong thời kỳ 1993-2001 các nhà tài trợ đã cam kết dành cho Việt Nam các khoản
ODA trị giá19,94 tỷ USD trong đó bao gồm viện trợ không hoàn lại và vốn vay ưu
đãi . Khoản ODA cam kết nói trên được sử dụng trong một số năm để thực hiện các
chương trình , dư án ODA được thoả thuận giữa Chính phủ ta và các nhà tài trợ .
Việc sử dụng ODA trong thời gian qua về cơ bản là có hiệu quả , tập trung cao cho
việc hỗ trợ thực hiệ các mục tiêu phát triển kinh tế ,xã hội ưu tiên của nước ta . Có
đến hơn 50% trong tổng nguồn vốn ODA ( chủ yếu là nguồn vốn vay ưu đãi ) dành
cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế , đặc biệt là cho phát triển hệ thống năng lượng
điện và phát triển giao thông vận tải . Khoảng 13% nguồn vốn ODA đã được sử dụng
trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp và nông thôn nhằm phát triển hạ tầng cơ sở
như: giao thông nông thôn, thuỷ lợi, phát triển lưới điện, hệ thống cấp nước sinh hoạt
và phát triển sản xuất như trồng và chế biến cà phê ,cao su chè Bên cạnh đó , nguồn
ODA đã hỗ trợ đánh kể cho lĩnh vực xã hội trước hết là ytế , giáo dục và đào tạo khoa
học và công nghệ , chiếm tỷ lệ khoảng 12% so với tổng nguồn ODA . Chúng ta cũng

hỗ trợ kỹ thuật . Cơ sơ phát lý về quản lý và sử dụng ODA chưa đồng bộ.Quy trình
thủ tục còn nhiều phức tạp , rườm rà và chưa có sự hài hoà về thủ tục giữa các quy
định của nhà nước ta và nhà tài trợ .Năng lưc cán bộ quản lý và sử dụng ODA ở các
cấp còn nhiều yếu kém .Công tác qủan lý sau dự án chưa được quan tâm đúng mức .
Những yếu kém trong quản lý và sử dụng ODA nói trên hiện đang được khắc phục
từng bước .

2.2.Những biện pháp chính phủ áp dụng để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn
ODA.
+ Chính phủ luôn coi trọng việc hoàn thiện môi trường pháp lý để quản lý và
sử dụng hiệu qủa nguồn vốn ODA . Tiếp theo Nghị định 20/CP của Chính phủ ban
hành năm 1993 , Nghị định 87/ CP ban hành nă 1997 về quản lý và sư dụng ODA ,
ngày 4 tháng 5 năm 2001 Chính phủ đã ban hành nghị định số 17/2001/NĐ-CP( thay
thế nghị định 87/CP) . Bên cạnh đó ,nhiều văn bản pháp quy khác cũng được ban
hành nhằm quản lý và tạo điều kiện thực hiện nguồn vốn ODA như nghị định số


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status