TIỂU LUẬN:
Kế hoạch và giải pháp huy động vốn
đầu tư trong nước của Việt Nam LỜI NÓI ĐẦU Huy động và tập trung nguồn vốn trong nước để phát triển kinh tế xã hội đang trở
thành một bộ phân chủ yếu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta, bởi lẽ
nhu cầu vốn đầu tư trong nước càng trở nên bức thiết trong điều kiện khoa học kỹ thuật
tiến bộ và sự phân công lao động quốc tế ngày càng sâu rộng. Việt Nam tiến hành xây
dựng CNXH từ điểm xuất phát rất thấp trong khi đó lại cần một khoản vốn lớn để đầu tư
xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xây dựng các công trình công cộng phục vụ cho sự
phát triển kinh tế xã hội lâu dài. Mặt khác mục tiêu của chiến lược 2001 - 2010 chỉ rõ
"đưa nước ta khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá,
tinh thần của nhân dân; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp theo hướng hiện đại…". Để thực hiện được mục tiêu chúng ta cần
phải huy động được một nguồn vốn lớn để đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp hoá,
hiện đại hoá.
Vấn đề huy động và tập trung nguồn vốn trong nước là một đề tài rộng và nó cần có
sự đầu tư nghiên cứu của nhiều nhà kinh tế, nhà quản lý nhà chính trị. Đề tài này là một
xuất xã hội
Hình thức hữu hiệu, của vốn đầu tư dưới 2 dạng:
Vốn đầu tư sản xuất và vốn đầu tư phi sản xuất
II- Vai trò, nhiệm vụ của kế hoạch huy động vốn đầu tư trong nước đối với
quá trình phát triển kinh tế xã hội Việt Nam
1- Nhiệm vụ của kế hoạch huy động vốn đầu tư trong nước
1.1. Xác định nhu cầu khối lượng vốn đầu tư xã hội cần có kỳ kế hoạch
Để thực hiện được nhiệm vụ này, điều cơ bản là phải dựa vào kế hoạch tăng trưởng
các mục tiêu đặt ra về tăng trưởng GDP kỳ kế hoạch. Theo tính toán để đặt được mục
tiêu tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm thời kỳ 2001 - 2005 là 7, 5 thì nhu cầu về
vốn đầu tư tính theo mô hình Harrod - Damras là 200 ngàn tỷ đồng tương đướng 30 tỷ
USD
1.2. Xác định tỷ lệ cơ cấu vốn đầu tu theo ngành theo các lĩnh vực đối tượng, khu
vực đầu tư và xu hướng, chuyển dịch cơ cấu trong thời gian tới. Cơ cấu tăng trưởng
nhanh trên cơ sở hướng ngoại trước đây của một số nước Đông Á và Đông Nam Á còn
hạn chế
Trong bối cảnh toàn cầu hoá, khu vực hoá và hội nhập như hiện nay nền kinh tế
mỗi nước phải tăng cường cạnh tranh để xuất khẩu, bởi lẽ nền kinh tế hội nhập không
phân biệt thị trường trong nước và nước ngoài. Thực hiện đổi mới vừa qua ở nước ta và
kinh nghiệm quốc tế cho thất một quốc gia không chỉ theo đuổi một mục tiêu được thể
hiện ở một loại cơ cấu kinh tế nào đó. Để có cơ cấu phù hợp cho quá trình CNH - HĐH
đất nước thì đòi hỏi phải phân tích đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội trong nước, bối cảnh
quốc tế tìm ra một cơ cấu phù hợp với đất nước mình. Trong bước chuyển đổi cơ cấu từ
này đến năm 2020 cần thiết phải có những chính sách thoả đáng để tạo ra được các
ngành mũi nhọn, các vùng động lực cho phát triển. Để thực hiện được mục tiêu thì cần
thiết phải có vốn đầu tư, vốn giúp cho quá trình thực hiện chuyển dịch cơ cấu một cách
nhanh chóng và có hiệu quả bền vững
Bảng 1: Cơ cấu ngành đến 2010 và 2020 như sau:
Năm 2000 2010 2020
GDP năm 2010 lên ít nhất gấp đôi năm 2000. Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh
của sản phẩm doanh nghiệp và nền kinh tế, đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng thiết yếu,
một phần đáng kể nhu cầu tiêu dùng thiết yếu, một phần đáng kể nhu cầu sản xuất và
đẩy mạnh xuất khẩu. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX chỉ ra:
Đưa GDP năm 2005 gấp 2 lần so với năm 1995, giá trị sản xuất nông - lâm - ngư
nghiệp tăng 4,8%/năm, công nghiệp tăng 13% /năm dịch vụ tăng 7,5%/năm. Để thực
hiện được mục tiêu trên thì tỷ lệ tích luỹ nội địa sẽ có khả năng nâng lên 28 - 30% GDP.
Trong đó tích luỹ từ khu vực ngân sách khoảng 6% thì khu vực dân cư doanh nghiệp 22
- 24% GDP
Các nhà khoa học cũng dự tính rằng cơ cấu ngành trong GDP của Việt Nam vào
năm 2020 như sau: Nông nghiệp chiếm 15 - 20% GDP còn công nghiệp và dịch vụ
chiếm 80 - 85% GDP. Theo nhiều tính toán cho thấy đến năm 2020 cơ cấu của sản phẩm
xuất khẩu như sau: 10 - 15% sản phẩm sơ cấp, 85 - 90% sản phẩm chế biến lâm nghiệp.
Tổng kim ngạch xuất khẩu chiếm khoảng 25 - 30 GDP.Để những nục tiêu trở thành hiện
thực. Trong thời gian tới Việt Nam cần có một nguồn vốn lớn đáp ứng nhu cầu đầu tư
mở rộng quy mô sản xuất, trong đó nguồn vốn trong nước là chủ yếu
2.2. Các nguồn hình thành vốn đầu tư trong nước
Cơ sở hình thành vốn đầu tư. theo JRQ. Kynes đó là từ nguồn tiết kiệm ông cho
rằng:
Tổng đầu tư = Tổng tiết kiệm
Trong nền kinh tế, hàng năm người ta đều tạo ra một khối lượng giá trị hàng hoá và
dịch vụ cuối cùng họi là tổng sản phẩm quốc dân GDP tuỳ theo mục đích khác nhau.
Một trong những cách xác định GDP là căn cứ vào mục đích sử dụng của nó, theo cách
này GDP được chia thành 2 bộ phận chính
Tiết kiệm quốc dân (Su)
Tiêu dùng quốc dân (C)
=> GDP = Su + C (1)
Tiết kiệm là nguồn giành cho đầu tư. Theo công thức (1) thì tiết kiệm tăng sẽ làm
cho chênh lệch giữa GDP và tiêu dùng C càng lớn
Chi cho các hoạt động đầu tư phát triển
Như vậy, cho đầu tư phát triển được thực hiện sau chi thường xuyên. Do vậy phải
đảm bảo các nguồn thu cho ngân sách để có thể thực hiện các chi phí thường xuyên và
chi cho hoạt động đầ tư. Đầu tư phát triển từ ngân sách chính là tập trung xây dựng cơ
sở hạ tầng kỹ thuật, cải thiện môi trường đầu tư đồng thời nâng cao trình độ phát triển
của đất nước, tác động đến nhiều mặt của nền kinh tế
b) Nguồn vốn dân cư và các tổ chức kinh tế xã hội
Đây là nguồn vốn đáng kể trong tổng các nguồn vốn có thể dùng cho đầu
tư phát triển. Nguồn vốn này chủ yếu là các khoản tiết kiệm trong dân tiền mua công
trái, tín phiếu, kho bạc Nhà nước, tiền đang dự trữ trong dân Qua thực tế điều tra thống
kê ở hầu hết các nước trên thế giới người ta cho rằng nguồn vốn đầu tư trong dân là rất
lớn hơn nhiều so với nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước
Theo đánh giá của các nhà thống kê Việt Nam thì lượng vốn trong dân được huy
động cho các hoạt động đầu tư ở Việt Nam còn quá ít. Nhưng lại được dùng để đầu tư
vào các lĩnh vực buôn bán, dịch vụ hay sản xuất lao động nhỏ lẻ Đó là những lĩnh vực
rủi ro ít vòng quay của vốn nhanh
Do vậy, cần có những biện pháp hữu hiệu để thu hút nguồn vốn này phục vụ cho
sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước thông qua các chính sách về thuế về tiết kiệm
và trái phiếu.
c) Nguồn vốn tín dụng ngân hàng
Đây là nguồn vốn được huy động thông qua hệ thống các ngân hàng. ngân hàng sẽ
thực hiện các nghiệp vụ nhận gửi tiền và dùng tiền này cho vay để thực hiện đầu tư. Đây
là nguồn huy động vốn rất lớn. Tuy nhiên đồng thời với việc vay nguồn vốn này thì nhà
đầu tư phải trả một khoản lãi suất tiền vay. Đây cũng chính là nhân tố thúc đẩy hoạt
động đầu tư có hiệu quả. Tuy nhiên có một thực trạng là số lượng tiền gửi ở các ngân
hàng quá lớn trong khi lượng tiền này chưa được đầu tư hoặc cho vay và các dự án đem
lại hiệu quả cao.
Nguồn vốn tín dụng ngân hàng là một nguồn vốn lớn nhưng để phát huy hiện quả
nguồn vốn này cần có các chính sách thông thoáng trong điều kiện cho vay quản lý tốt
1- Kinh nghiệm của Trung Quốc
Khu vực tư nhân, bao gồm hệ cá thể và doanh nghiệp tư nhân có vai trò ngày càng
quan trọng trong nền kinh tế Trung Quốc. Trước năm 1985, sản lượng công nghiệp của
khu vực tư nhân chiếm tỷ lệ không đáng kể trong tổng sản lượng công nghiệp mặc dù
lao động trong khu vực này đã chiếm khoảng 2% tổng lao động phi nông nghiệp năm
1981. Trong giai đoạn 1991 - 1997 vốn đầu tư của khu vực tư nhân chiếm khoảng 15 -
17% nhưng việc vay vốn lại gặp nhiều khó khăn, lượng vốn vay chỉ chiếm khoảng
0,87% tổng dư nợ của các ngân hàng
Từ những năm 90, Trung Quốc đã tiến hành quá trình tư nhân hoá, giai đoạn 95 -
98 tư nhân hoá với tốc độ rất nhanh và tất nhiên đã nhanh chóng nhận được những chỉ
trích mạnh mẽ không chỉ từ phía những người có khuynh hướng ta mà còn từ phía các
nhà khoa học. Bên cạnh đó Trung Quốc còn thực hiện việc mở cửa thị trường cho doanh
nghiệp tư nhân, đặc biệt là mở cửa khu vực tài chính vì lý do:
Thứ nhất, đó và vấn đề đối xử bình đẳng giữa các loại hình sở hữu
Thứ hai, Trung Quốc cần nhiều ngân hàng nhỏ cung cấp vốn cho doanh nghiệp vừa
và nhỏ, mà phần lớn trong số đó là doanh nghiệp tư nhân
Thứ ba, các ngân hàng tư ngân không chịu sự can thiệp của Chính phủ về các
chính sách cho vay như ngân hàng quốc doanh
2- Khuyến khích đầu tư ở Malaysia
Kể từ khi chấm dứt chủ nghĩa thực dân đến nay đường lối phát triển kinh
tế nói chung và chính sách phát triển công nghiệp nói riêng ở Malaysia đã thay đổi 3 lần:
- Giai đoạn 1957 - 1970 Malaysia chủ trương chuyển từ chính sách mậu dịch tự do
nhập khẩu hàng phế phẩm, sang bảo hộ kinh tế dân tộc ở mức vừa phải, đa dạng hoá sản
xuất, khuyến khích sản xuất thay thế nhập khẩu
- Giai đoạn 1970 - 1980, Malaysia chuyển sang công nghiệp hoá hướng về
xuấtkhẩu - trong đó chú trọng các ngành công nghiệp nhẹ. Biện pháp cơ bản đó là tiếp
tục thu hút mạnh vốn nước ngoài và kích thích hoạt động của tư bản trong nước
- Từ 1980 đến nay Malaysia chủ trương công nghiệp hoá dựa vào nguồn tài nguyên
trong nước và chú trọng phát triển công nghiệp nặng sử dụng nhiều vốn và kỹ thuật cao,
=
K
Y
=>
Y
=
1
K
x K
Trong đó: K: Mức vốn sản xuất gia tăng
Như vậy: Hệ số ICOR sẽ phụ thuộc vào năng suất vốn, phụ thuộc vào tốc độ trang
bị vốn trên lao động và sự gia tăng năng suất lao động trong nền kinh tế. Nếu năng suất
lao động tăng nhanh hơn so với tốc độ trang bị vốn thì hệ số ICOR sẽ không tăng mà giữ
ở mức độ thấp
Dựa vào mô hình Harrod - Domar và mục tiêu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2001 -
2005 là 7,5, ước tính nhu cầu vốn đầu tư nguồn trong nước khoảng 70% thì nguồn nước
ngoài khoảng 30%,
b) Xác định khả năng tiết kiệm của nền kinh tế kỳ kế hoạch
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế lỳ k + 1
Y
K+1
= Y=k + Y
KH
Y
KH
= Y
K
K
: Tổng vốn sản xuất năm kế hoạch
: Hệ số khấu hao
K: Hệ số ICOR
IK: Nhu cầu tiết kiệm kỳ gốc của kế hoạch (k+1)
Từ công thức trên ta thấy, để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng giai đoạn 2001 - 2005
là 7,5%/năm GDP được tạo ra trong 5 năm vào khoảng 2650 - 2660 nghìn tỷ đồng, thì
tổng quỹ tiêu dùng dự báo tăng khoảng 5,5%/năm, tỷ lệ tích luỹ nội địa khoảng 28 -
30% GDP. Trong đó từ khu vực ngân sách khoảng 6% GDP, từ khu vực dân cư doanh
nghiệp khoảng 22 - 24% GDP
c) Phân chia tổng nhu cầu vốn đầu tư theo ngành và địa phương
Tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội sẽ được định hướng đầu tư vào một số ngành
và lĩnh vực chủ yếu như sau:
- Tiếp tục tập trung đầu tư cho nông nghiệp, nâng tỷ lệ đầu tư lên đạt khoảng 13%
tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
- Đầu tư vào các ngành công nghiệp nhất là các ngành mũi nhọn, để tăng lực sản
xuất và khả năng cạnh tranh một số sản phẩm hàng hoá, dự kiếm tỷ trọng chiếm khoảng
44% đầu tư toàn xã hội
- Đầu tư cho lĩnh vực giai thông vận tải, bưu điện khoảng 15% vốn đầu tư toàn xã
hội
- Đầu tư vào các ngành khoa học và công nghệ giáo dục và đào tạo y tế, văn hoá xã
hội khoảng 8% vốn đầu tư toàn xã hội
- Đầu tư vào các ngành khai thác như công nghiệp, cấp thoát nước khoảng 20%
Nhà nước có thể trực tiếp và chủ động bố trí theo cơ cấu chiến lược bình quân hằng
năm vào khoảng 35 - 39%. Tổng vốn 65 - 70% trong tổng nguồn vốn để tập trung đầu tư
cho một số lĩnh vực kết cấu hạ tầng kinh tế vào khoảng 30 - 35% kết cấu hạ tầng xã hội
Bảng 2: Vốn đầu tư phát triển 5 năm 2001 - 2005 theo ngành kinh tế
Đơn vị tính: Nghìn tỷ đồng (giá năm 2000)
thành công chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong từng vùng lãnh thổ và trong
toàn bộ nền kinh tế -xã hội
Bảng 3: Vốn đầu tư phát triển 5 năm 2001 - 2005 phân theo vùng kinh tế
Đơn vị: Nghìn tỷ đồng (giá năm 2000)
Vùng kinh tế
2001-
2005
2001 2002 2003 2004 2005
Tổng số 840 145,6 163,3 170,3 176,8 184
1- Vùng núi phía Bắc 68,9 11,6 13,1 14 14,9 15,5
2- Vùng Đồng Bằng Sông
Hồng
205,8 35,2 39,8 41,7 43,6 45,4
3. Vùng Bắc Trung Bộ 67,2 11,2 12,9 13,5 14,4 15,3
4- Vùng Duyên Hải Miền
Trung
104,2 17,2 19,9 21,3 22,3 23,6
5- Vùng Tây Nguyên 43,7 7,1 8,2 8,9 9,5 10
6- Vùng Đông Nam Bộ 222,5 41,6 44,7 45,1 45,1 46
7- Vùng Đồng bằng Sông
Cửu Long
127,7 21,7 24,7 25,9 27,1 28,2
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội dự kiến thu hút vào các tỉnh miền núi phía
Bắc khoảng 8, 2 đầu tư toàn xã hội, các tỉnh vùng Đồng bằng Sông Hồng khoảng 24,5%
các tnhr vùng Bắc Trung Bộ khoảng 8%, các tỉnh Duyên Hải Miền Trung khoảng
12,4%, các tỉnh Tây Nguyên khoảng 5,2%, các tỉnh Đông Nam Bộ khoảng 26,5%, các
tỉnh Tây Nam Bộ khoảng 15,2%. Như vậy hướng điều chỉnh chung là tăng vốn đầu tư
vào các vùng còn khó khăn đồng thời giảm tương đối nguồn vốn đầu tư trong các vùng
cộng từ ngân sách Nhà nước
51,8
3- Vốn tín dụng Nhà nước 119,4
Trong đó: Vốn trong nước 71,2
4- Vốn của các doanh nghiệp Nhà nước 162,3
Trong đó: Vốn trong nước 147,3
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư
Tổng nguồn vốn thuộc chương trình đầu tư công nghiệp trong 5 năm vào khoảng
550 nghìn tỷ, gấp gần 1, 7 lần do với 5 năm trước, chiếm trên 62% tổng vốn đầu tư phát
triển. Nếu chỉ kể vốn trực tiếp của ngân sách và tín dụng thì chiếm 43% tổng vốn đầu tư
phát triển.
II- Tình hình huy động vốn đầu tư trong nước
1- Tình hình huy động vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước
Tổng số vốn đầu tư được huy động đưa vào nền kinh tế trong 5 năm 2001
- 2005 (tính theo giá năm 2000) đạt khoảng 976 nghìn tỷ đồng, bằng khoảng 118,2% dự
kiến kế hoạch 5 năm và gấp 1, 76 lần so với 5 năm 1996 - 2000 cụ thể là:
Chỉ tiêu
Tổng vốn
(nghìn tỷ đồng)
Cơ cấu (%)
Tổng đầu tư xã hội 976 100
Trong đó:
(1) Vốn đầu tư thuộc khu vực Nhà nước 528 54,1
- Vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước 219,9 22,5
- Vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước 130,2 13,3
- Vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước 178,2 18,3
(2) Vốn đầu tư của khu vực tư nhân và dân cư 259,3 26,6
(3) Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 161,9 16,6
(4) Nguồn khác 26,4 2,7
Đơn vị: Nghìn tỷ đồng (giá năm 20000
2001-2005 2001 2002 2003 2004 2005
Tổng số vốn tín dụng 119,4 20,7 22,8 23,9 25,4 26,6
1- Các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh
116 20,4 22,4 23,1 24,5 25,6
2- Các doanh nghiệp hoạt
động công ích
3,4 0,3 0,4 0,8 0,9 1
Tất cả các thành phần kinh tế đều có thể tiếp cận nguồn vốn tín dụng đầu tư của
Nhà nước, nếu có những dự án đầu tư có hiệu quả, được thông qua thẩm định của các cơ
quan chức năng
Trong năm 2004 và 6 tháng đầu năm 2005 được đánh giá là có sự cạnh tranh thực
sự sôi động trên thị trường tiền tệcủa hệ thống các ngân hàng thương mại và tổ chức tín
dụng để huy động vốn trong xã hội đầu tư cho nền kinh tế. Đó là đa dạng hoá các hình
thức huy động, các sản phầm huy động, cơ chế khuyến mại, công tác tiếp thị Song, tốc
độ huy động chỉ đạt khoảng 23%, dư nợ cho vay tăng gần 27% so với năm 2004
Nhìn chung trong hệ thống các ngân hàng thương mạiN, do tình hình cân đối vốn
khẩn trương và để kiểm soát chất lượng tín dụng nêu các chi nhánh tập trung cho các hộ
làm kinh tế trang trại, hộ nuôi trồng Thuỷ sản, chăn nuôi vay.
3. Nguồn vốn trong dân cho đầu tư phát triển.
a. Nguồn hình thành.
Vốn trong dân chính là lượng giá trị mới do lao động của con người sáng tạo ra
được tích luỹ lại nó bao gồm:
Thứ nhất, tiền tích luỹ và tiết kiệm của dân. Tiết kiệm của dân cứ phụ thuộc vào
thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình. Thu nhập của hộ gia đình bao gồm thu nhập có thể
sử dụng ( DI) và các khoản thu nhập khác.
Thứ hai, Nguồn tiền di chuyển từ nước ngoài vào Việt Nam, nguồn này hình thành
Số tiền tích luỹ chủ yếu là vàng, USD và một số tài có giá trị cao như mua nhà đất,
xe….
Trong năm gần đây, ngành ngân hàng nói riêng và các cơ quan tài chính nói chung
đã nhiều lần cải tiến hình thức và nội dung huy động nguồn vốn này. Việc huy động
nguồn vốn trong dân đã tăng lên đáng kể tuy nhiên chủ yếu là lượng tiền tiết kiệm gửi
vào các ngân hàng mà chưa có nhiều dự án trực tiếp đầu tư. Trong 6 tháng đầu năm
2005, ngân hàng đầu tư phát triển Việt Nam thường xuyên tổ chức các chiến dịch huy
động vốn với quy mô lớn như: Huy động tiết kiệm dự thưởng đợt II /2005 với tổngtrị giá
giải thưởng lên tới 5, 5 tỷ đồng. Tính đến hết tháng 6/2005 tổng nguồn vốn huy động
của ngân hàng đầu tư phát triển Việt Nam đạt 6.585 tỷ đòng, chỉ tăng có 2% so với cuối
năm 2005. Ngân hàng ngoại thương Việt Nam huy động được khoảng 124.000 tỷ đồng.
Theo tính toán của các chuyên gia kinh tế, dự báo rằng khả năng huy động vốn đầu
tư phát triển thời kỳ 2001 - 2005 của khu vực dân cư và tư nhân là 188, 8 nghìn tỷ đồng
(giá năm 2000)
Năm 2005 có khoảng trên 45 nghìn doanh nghiệp tư nhân mới thành lập với tổng
số vốn trên 110 nghìn tỷ đồng
4- Tình hình huy động vốn đầu tư qua nguồn vốn tự có của doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp dự tồn tại và phát triển phụ thuộc vào hoạt động tài
chính của doanh nghiệp hay với cách khác, sự sống còn của doanh nghiệp phụ thuộc vào
hiệu quả kinh doanh và việc huy động vốn cho tăng trường và phát triển doanh nghiệp.
Nhờ có chính sách đổi mới và hoàn thiện luật doanh nghiệp luật hợp tác xã… trong
những năm qua số lượng các doanh nghiệp tham gia đăng ký thành lập không ngừng
tăng lên, từ năm 2001 đến năm 2004 đã có khoảng 106 nghìn doanh nghiệp đăng ký
thành lập mới với số vốn đăng ký, 198, 2 nghìn tỷ đồng tăng 44,1% về vốn đăng ký
Tỷ trọng đầu tư của doanh nghiệp dân doanh, trong nước liên tục tăng và vượt cao
hơn vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước
Bảng 6: Số doanh nghiệp đang hoạt động
2000 2001 2002