TIỂU LUẬN:
Xây dựng chiến lược kinh doanh
cho ngành ngân hàng thương mại
đến 2015
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Bước vào thế kỷ 21, trong xu thế hội nhập khu vực và thế giới, ngành ngân
hàng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức hơn, đặc biệt là trong
giai đoạn hiện nay khi nền kinh tế thế giới đang từng bước vượt qua khủng hoảng.
Mặc dù kinh tế trong nước đã lạc quan hơn nhưng các ngân hàng thương mại vẫn
không cảm thấy “dễ thở” trước sức ép để tồn tại và phát triển. Tìm kiếm một chiến
lược kinh doanh phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, gia tăng tính cạnh
tranh, nâng cao vị thế quy mô của ngân hàng trong giai đoạn hiện nay trở thành
nhu cầu cấp thiết của mỗi ngân hàng.
doanh phát triển dần theo thời gian và người ta tiếp cận nó theo nhiều cách khác
nhau.
Năm 1962, Chandler định nghĩa chiến lược kinh doanh là “việc xác định
các mục tiêu, mục đích cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và việc áp dụng một
chuỗi các hành động cũng như việc phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện
mục tiêu này”.
Đến những năm 1980, Quinn đã đưa ra định nghĩa có tính khái quát hơn
“Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính
sách, và chuỗi hành động vào một tổng thể được cố kết một cách chặt chẽ”
Sau đó, Johnson và Scholes định nghĩa lại chiến lược trong điều kiện môi
trường có rất nhiều những thay đổi nhanh chóng: “chiến lược là định hướng và
phạm vi của một tổ chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức
thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đáp
ứng nhu cầu thị trường và thoả mãn mong đợi của các bên hữu quan”.
Xuất phát từ cách tiếp cận cạnh tranh, giáo sư nổi tiếng về chiến lược kinh
doanh của trường Đại học Harvard Michael L. Porter cho rằng: “Chiến lược kinh
doanh là nghệ thuật xây dựng lợi thế cạnh tranh vững chắc và phòng thủ”.
Dù tiếp cận theo cách nào thì bản chất của chiến lược kinh doanh vẫn là
phác thảo hình ảnh tương lai của doanh nghiệp trong lĩnh vực hoạt động và khả
năng khai thác. Theo cách phát biểu này, thuật ngữ chiến lược kinh doanh được
dùng theo 3 ý nghĩa phổ biến nhất:
- Xác lập mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp
- Đưa ra các chương trình hành động tổng quát
- Lựa chọn các phương án hành động, triển khai phân bổ nguồn lực để thực
hiện mục tiêu đó.
Ngày nay, thuật ngữ chiến lược đã được sử dụng khá phổ biến ở Việt Nam
+ Mục tiêu ngắn hạn: là các kết quả cụ thể doanh nghiệp kỳ vọng đạt được
trong một chu kỳ, được lượng hóa thành con số.
Nguyên tắc khi xác định mục tiêu
+ Phải rõ ràng trong từng thời gian tương ứng và phải có mục tiêu chung
cũng như mục tiêu riêng cho từng lĩnh vực hoạt động
+ Các mục tiêu phải đảm bảo tính liên kết, tương hỗ lẫn nhau, mục tiêu này
không cản trở mục tiêu khác
+ Phải xác định được mục tiêu ưu tiên. Điều đó thể hiện tính thứ bậc của
mục tiêu, nhiệm vụ đề ra đối với doanh nghiệp trong từng giai đoạn.
1.2.2. Đánh giá các yếu tố tác động đến chiến lược kinh doanh:
Hình 1.1: Những cơ sở để xây dựng chiến lược kinh doanh Môi trường vĩ mô
1. Các y
ế
u t
3. Nhà
cung
cấp
4. Các
đối thủ
tiềm ẩn
5.
Hàng
hoá
thay
thế
1. Nhân sự
2. Tài chính
3. Vận hành sản xuất
4. Marketing
5. Hệ thống thông tin
6
. R&D
Môi trường nội bộ
Các nhân tố chính phủ, luật pháp và chính trị tác động đến doanh nghiệp
theo các hướng khác nhau. Chúng có thể tạo ra cơ hội, trở ngại, thậm chí là rủi ro
thật sự cho doanh nghiệp. Chúng thường bao gồm: các chính sách nhà nước về
phát triển kinh tế, quy chế, luật lệ, chế độ tiền lương, thủ tục hành chính… do
chính phủ đề ra cũng như sự ổn định về chính trị, chi tiêu của chính phủ.
● Yếu tố công nghệ:
Đây là loại nhân tố có ảnh hưởng lớn, trực tiếp cho chiến lược kinh doanh
của các lĩnh vực, ngành cũng như nhiều doanh nghiệp. Thực tế trên thế giới đã
chứng kiến sự biến đổi công nghệ làm chao đảo, thậm chí mất đi nhiều lĩnh vực,
nhưng đồng thời cũng lại xuất hiện nhiều lĩnh vực kinh doanh mới, hoặc hoàn
thiện hơn. Do đó, việc phân tích và phán đoán biến đổi công nghệ là rất quan trọng
và cấp bách hơn lúc nào hết. Sự thay đổi công nghệ ảnh hưởng đến chu kỳ sống
của một sản phẩm hay một dịch vụ, đến các phương pháp sản xuất, nguyên vật liệu
cũng như thái độ ứng xử của người lao động.
Chương 2: THỰC TRẠNG KINH DOANH VÀ CÁC NHÂN TỐ CHIẾN
LƯỢC CỦA NGÀNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
2.1. Tổng quan về ngành tài chính ngân hàng hiện nay:
Lịch sử ngành ngân hàng thế giới đã hình thành và phát triển từ rất sớm.
Vào khoảng 3.000 năm trước Công nguyên, hình thức ngân hàng sơ khai được
nhiều nhà sử học cho rằng đã hình thành trước khi phát minh ra tiền. Hoạt động
của ngân hàng phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên ở vùng
Địa Trung Hải. Theo thời gian, hệ thống Ngân hàng vẫn tiếp tục phát triển cùng
với sự tiến bộ của xã hội loài người với vai trò và ảnh hưởng ngày một quan trọng
và sâu sắc hơn.
Sau chiến tranh thế giới, do nhu cầu tái thiết Châu Âu và xây dựng kinh tế
tại các nước tư bản, hàng loạt những Ngân hàng lớn ra đời. Tại Việt Nam, lịch sử
hình thành các Ngân hàng đã gắn liền với lịch sử đấu tranh chống kẻ thù xâm lược
Tính đến thời điểm hiện nay, trong hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam
có 5 Ngân hàng thương mại nhà nước (trong đó có Ngân hàng ngoại thương và
Ngân hàng Công thương Việt Nam chuyển sang mô hình cổ phần), 39 Ngân hàng
thương mại cổ phần, 40 Ngân hàng chi nhánh nước ngoài, 5 Ngân hàng liên
doanh, 5 Ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 17 Công ty tài chính, 13 Công ty cho
thuê tài chính, 53 Văn phòng đại diện Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam và 965
quỹ tín dụng nhân dân.
Lợi nhuận của các ngân hàng năm 2010 duy trì ở mức tốt bởi tăng trưởng
tín dụng cao và dự phòng thua lỗ các khoản vay thấp. Tỉ suất thu hồi trên bình
quân tài sản (ROA) của 6 ngân hàng lớn nhất theo tính toán của Fitch trong 3
tháng đầu năm lên mức 1,9% (tính theo trung bình năm). Tỉ suất này năm 2010 là
1,5%.
Tuy nhiên, trong năm 2010, tăng trưởng tài sản các ngân hàng tụt lại so với
tăng trưởng các khoản vay bởi các ngân hàng Việt Nam chú trọng nhiều hơn đến
tăng trưởng tín dụng. Thay đổi này mang yếu tố hỗ trợ đối với một số tỷ suất quan
trọng như ROA và tỷ lệ vốn hữu hình/tổng tài sản, thế nhưng cũng khiến rủi ro tín
dụng tăng cao.
Chênh lệch giữa cho vay/vốn huy động trung bình đối với đồng nội tệ dành
cho doanh nghiệp giảm 220 điểm cơ bản trong năm 2010 bởi lãi suất cơ bản thay
đổi liên tục được giảm xuống, Chính phủ áp dụng lãi suất trần đối với các khoản
vay và cạnh tranh cấp vốn.
Năm 2010, tín dụng tại các ngân hàng Việt Nam tăng trưởng nóng, mức
tăng trưởng tín dụng lên tới 37,73% trong khi đó con số này năm 2009 chỉ là 25%,
dù vậy tăng trưởng tín dụng năm 2010 vẫn trong xu thế đi lên so với tăng trưởng
tín dụng các năm 2002 – 2004. Tăng trưởng tín dụng chững lại trong tháng 1/2011,
mức tăng trưởng chỉ đạt 1% trong khi đó tăng trưởng huy động tiền gửi là 0,3%.
Tín dụng tại các ngân hàng tư nhân tăng trưởng mạnh trong chương trình kích cầu
kinh tế của Chính phủ. Khả năng huy động vốn của các ngân hàng vẫn vững
hàng thương mại nhà nước cao nhất là Agribank trên 21 ngàn tỷ đồng, ngân hàng
nước ngoài là 45 triệu USD, ngân hàng liên doanh là 100 triệu USD), trong đó vốn
của các ngân hàng thương mại nhà nước (Agribank, BIDV, Vietcombank,
Vietinbank) đã chiếm 60% tổng vốn của toàn hệ thống. Và nhóm ngân hàng này
tiếp tục thống trị hệ thống ngân hàng Việt Nam, cung cấp tới 51% tổng số các
khoản vay trong toàn hệ thống tính đến hết tháng 9/2010 (con số này năm 2009 là
52% và năm 2008 là 54%). Nhóm ngân hàng này cung cấp tới 2/3 trong số các
khoản vay hỗ trợ lãi suất và vì thế bảo vệ được thị phần.
Trong thời kỳ hậu WTO, lĩnh vực ngân hàng được xem là điểm nóng cả về
phát triển lẫn cạnh tranh, chưa bao giờ hoạt động và sự chuyển biến của các ngân
hàng lại diễn ra sôi động đến thế. Trong khi Ngân hàng nhà nước đang sửa đổi luật
lệ cho phù hợp với các thông lệ quốc tế, các Ngân hàng thương mại nhà nước và
cổ phần đang tranh thủ thời gian để đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu, xử lý dứt điểm
nợ xấu, nợ tồn đọng, cổ phần hoá, tăng vốn điều lệ, tìm kiếm và hợp tác với các
nhà đầu tư chiến lược, hiện đại hoá hệ thống…
Bên cạnh đó, viễn cảnh kinh tế thế giới cũng khá bi quan. Quỹ tiền tệ quốc
tế đã đưa ra dự báo ban đầu về mức tăng trưởng kinh tế thế giới trong năm 2011 sẽ
là 3,9% và 4,3% trong năm kế tiếp cao hơn mức giảm 1,1% của năm 2010. Tuy
nhiên theo cơ quan này, Mỹ và các nước phát triển khó đạt mức tăng trưởng GDP
đủ mạnh để giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp. Mặc dù dự báo này vẫn kém xa so với
mức tăng trưởng gần 5% của kinh tế thế giới trong thời kỳ 2004 - 2008, nhưng đây
đã là một sự cải thiện đáng kể so với mức suy giảm 0,8% năm 2009, năm mà sản
lượng kinh tế toàn cầu lần đầu tiên suy giảm kể từ chiến tranh thế giới thứ 2.
Đứng trong nền kinh tế thế giới đang trong giai đoạn khủng hoảng và chúng
ta lại đang trong lộ trình từng bước hội nhập quốc tế, ngành ngân hàng có nhiều cơ
hội hơn nhưng cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức hơn. Chính vì
vậy, nhiệm vụ của ngành ngân hàng trong giai đoạn này hết sức nặng nề, bởi lẽ để
có thể tồn tại và phát triển thì ngành ngân hàng phải xây dựng để mình trở thành
động nhưng đây lại là năm có tỷ giá và giá vàng tăng chóng mặt.
Bước sang năm 2011, Việt Nam đã tròn 4 năm gia nhập tổ chức thương mại
thế giới (WTO). Sau năm 2007 gia nhập WTO đến năm 2008 xuất khẩu đã tăng
đáng kể, tuy nhiên đến năm 2009 lại bị âm 9% do tác động của khủng hoảng kinh
tế thế giới. Về thu hút vốn đầu tư nước ngoài, năm 2007 có số vốn cam kết là 81 tỷ
USD, năm 2008 vảo khoảng 60-71 tỷ USD, năm 2009 giảm xuống còn 20 tỷ USD
do khủng hoảng kinh tế. Đặc biệt, để hội nhập vào nền kinh tế thế giới đã tạo ra
sức ép buộc các cơ quan Trung ương và địa phương phải giảm khoảng 30% các
thủ tục hành chính.
Năm 2011 được dự báo là năm nền kinh tế thế giới phục hồi dù còn chật vật
khó khăn; kinh tế Việt Nam cũng trong quá trình vượt qua suy giảm. Năm 2011 là
ngưỡng cửa bước vào giai đoạn nước rút đưa Việt Nam trở thành nước công
nghiệp vào năm 2020, để Việt Nam bước từ nước thu nhập thấp thành nước có thu
nhập trung bình (thu nhập trên 1.000 USD/người).
Cũng trong năm mới này, Chính phủ đã đưa ra thông điệp kiểm soát tăng
trưởng tín dụng không vượt quá 25%, thấp hơn nhiều so với con số 38 – 39% của
năm 2010.
Áp lực huy động vốn tiếp tục gia tăng, dẫn đến cho vay ra cũng phải thận
trọng và chọn lọc khách hàng tốt nhất để cho vay, người vay phải trả lãi suất cao.
Đồng thời các biện pháp thắt chặt tiền tệ sẽ làm cho lượng tiền cung ứng ra thị
trường ít hơn, việc huy động vốn sẽ khó khăn hơn so với năm 2010. Mặt khác,
việc hạn chế mở rộng mạng lưới hoạt động nếu tiếp tục kéo dài trong năm 2011 sẽ
gây khó khăn cho các ngân hàng trong việc tăng trưởng thị phần.
Tuy nhiên, với mức dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới khoảng 3,9% năm
2011 thì nó sẽ tác động tích cực đến kinh tế Việt Nam. Những nền kinh tế lớn như
Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản bắt đầu tăng trưởng trở lại thì không ít thì nhiều nền kinh
chuyển nhanh chóng, dần ổn định trong quý II (đạt 4,46%), và phục hồi nhanh
chóng trong 2 quý còn lại (quý III đạt 6,04%, quý IV đạt 6,9%) nên mức tăng
trưởng GDP cả năm đạt tới 5,32%. Bao gồm: khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản
tăng 1,83%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,52%; khu vực dịch vụ
6,63%.
Tuy đây là mức tăng trưởng kinh tế thấp nhất trong vòng 10 năm gần đây
(năm 2008 tăng 6,18%, năm 2007 tăng 8,46%, năm 2006 tăng 8,23% ) nhưng
Việt Nam vẫn được thế giới đánh giá là một trong những nước có tốc độ tăng
trưởng cao trong khu vực Châu Á (sau Trung Quốc tăng gần 7,8%).
Mức tăng trưởng như trên cho thấy, xu hướng phục hồi của nền kinh tế
nước ta năm 2009 là rõ nét. Kết quả đó đánh dấu sự thành công bước đầu của
Chính phủ trong chỉ đạo, điều hành vĩ mô nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế. Tổng
sản phẩm trong nước (GDP) quí I/2011 ước tính tăng 5,83% so với cùng kì năm
2010, bao gồm khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,45%, khu vực công
nghiệp và xây dựng tăng 5,65%, khu vực dịch vụ tăng 6,64%).
Hình 2-5: Biểu đồ tăng trưởng GDP của VN từ 2001 đến 2010 Nguồn: Theo số liệu của Tổng cục thống kê
● Yếu tố lạm phát:
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
năm
GDP (%)
năm qua. Lạm phát tăng cao làm cho việc huy động và cho vay vốn của các ngân
hàng gặp nhiều khó khăn. Nó làm yếu và thậm chí còn phá vỡ thị trường vốn, ảnh
hưởng lớn đến các hoạt động của ngân hàng thương mại. Sự không ổn định của giá
cả, bao gồm cả giá vốn, đã làm suy giảm lòng tin của các nhà đầu tư và dân chúng,
gây khó khăn cho sự lựa chọn các quyết định của khách hàng cũng như các thể chế
tài chính tín dụng.
Sang năm 2011, do ngay từ đầu năm Chính phủ và các cấp, các ngành đã
triển khai quyết liệt và đồng bộ các giải pháp nhằm chủ động phòng ngừa tái lạm
phát cao trở lại, khôi phục và đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, nhất là tập trung phát
triển thị trường trong nước, chỉ đạo, điều hành tài chính, tiền tệ linh hoạt nên mức
lạm phát năm 2011 không cao.
Giá tiêu dùng năm 2010 tương đối ổn định, ngoài tháng 2 và tháng 12 chỉ
số giá tiêu dùng tăng trên 1% thì các tháng còn lại giảm hoặc tăng thấp nên chỉ số
giá tiêu dùng bình quân năm 2010 là 6,88% - là mức thấp nhất trong 6 năm trở lại
2006
2007
2008
2009
2010
%
năm
Tốc độ lạm phát của Việt Nam
các ngân hàng vẫn phải thực hiện nhiều biện pháp khác nhau để cạnh tranh giữ
khách hàng và thu hút khách hàng, đây cũng là nhân tố đẩy lãi suất huy động lên
cao.
● Lãi suất, tỷ giá và giá vàng:
Lãi suất là một công cụ của chính sách tiền tệ có tác động khá lớn đến lạm
phát và tăng trưởng. Nhìn vào cách thức một Ngân hàng trung ương thay đổi lãi
suất, người ta có thể đoán được chính sách tiền tệ đang thắt chặt hay đang nới
lỏng.
Lãi suất tăng sẽ làm tăng giá người tiêu dùng và doanh nghiệp phải trả khi
đi vay tiền và vì vậy nhu cầu vay sẽ bị giảm, có nghĩa là lạm phát sẽ được kiềm
chế. Nhưng ở Việt Nam hiện nay, dù nguy cơ lạm phát năm 2010 bị cảnh báo sẽ
tăng cao, nhưng lãi suất cho vay bằng Việt Nam đồng vừa thả nổi trong khi mặt
bằng lãi suất lại đang được khuyến khích giảm khiến nhiều người băn khoăn chính
sách tiền tệ đang ngả theo hướng nào? Chúng ta hãy cùng nhìn lại thị truờng tiền
tệ những năm qua.
Năm 2008 có thể nói là một năm “sóng gió” của ngành tài chính ngân hàng.
Tháng 12/2007 lãi suất cơ bản là 8,25% nhưng đến 19/5/2008 lãi suất cơ bản đã
được nâng lên thành 12%. Đến ngày 11/6/2008 lãi suất cơ bản lại một lần nữa
sau Quyết định điều chỉnh của Ngân hàng nhà nước ngày 26/11/2009. USD tăng
giá đã gây khó khăn lớn cho các doanh nghiệp nhập khẩu, doanh nghiệp sản xuất,
thương mại, ảnh hưởng tới hàng loạt mặt hàng tiêu dùng.
Không kém phần tỷ giá, năm 2009 là năm chứng kiến sự hỗn loạn giá trên
thị trường vàng, đây là năm tăng giá thứ 9 liên tiếp của vàng. Từ mức giá 18 – 19
triệu đồng/lượng hồi đầu năm 2009, tới cuối năm 2009 có thời điểm giá leo lên tới
29 triệu đồng/lượng trước khi giao động 36 – 37 tr. đ/lượng như hiện nay. Bỏ qua
sự tác động của giá thế giới thì giá vàng Việt Nam vẫn cao hơn nhiều so với giá
vàng thế giới. Đặc biệt, cùng với tâm lý đám đông, những tin đồn đã đẩy vàng vào
cơn sốt giá chóng mặt. Sự lộn xộn cũng xảy ra trên thị trường vàng “ảo”, các sàn
vàng đua nhau mọc lên. Những cuộc tranh cãi về trục trặc hệ thống dẫn tới thiệt
hại hàng tỷ đồng cho nhà đầu tư vẫn kéo dài. Trước thực trạng này, Thủ tướng
Chính phủ đã quyết định chấm dứt toàn bộ hoạt động của các sàn vàng trên cả
nước.
2.2.2. Phân tích ảnh hưởng của chính sách luật pháp:
Pháp lệnh quản lý ngoại hối có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2006 và nghị
định số 160/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành pháp lệnh ngoại hối đã khẳng định nguyên tắc tự do hoá đối với các giao dịch
vãng lai, từng bước nới lỏng, quản lý có chọn lọc đối với các giao dịch vốn, tạo cơ
sở pháp lý hết sức quan trọng cho công tác quản lý ngoại hối của ngân hàng trong
điều kiện hội nhập quốc tế đã tác động tích cực đến xuất nhập khẩu, dự trữ ngoại
hối và đầu tư của người nước ngoài vào Việt Nam.
Ngay từ cuối năm 2008 và đầu năm 2009, Chính phủ đã có Nghị quyết số
30/2008/NQ-CP ngày 11/12/2008 với nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách là tập trung
mọi nỗ lực để chủ động ngăn chặn suy giảm kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh,
đẩy mạnh xuất khẩu, kích cầu đầu tư và tiêu dùng, đảm bảo an sinh xã hội.
cho các ngân hàng thương mại có đủ năng lực cạnh tranh trong bối cảnh mới.
Tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán
của cả nước giảm liên tục từ mức 23,7% năm 2001 xuống còn 14,6% năm 2008 và
năm 2009 vẫn duy trì được xu hướng tích cực này. Như vậy là về đích sớm hơn so
với đề án không dùng tiền mặt giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến 2020 tại
Việt Nam đã được Thủ tướng phê duyệt.
2.2.3. Ảnh hưởng của thay đổi công nghệ:
Trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, tạo lập được một nền tảng kỹ thuật,
công nghệ thông tin vững chắc luôn là một trong những chuẩn mực của một ngân
hàng hiện đại. Công nghệ kỹ thuật là một trong những yếu tố cốt lõi tạo nên toàn
bộ hoạt động cuả một ngân hàng, quyết định chất lượng dịch vụ của ngân hàng đó.
Để nâng cao khả năng cạnh tranh trong giai đoạn hội nhập, bất kỳ một ngân hàng
nào cũng phải đặt ra mục tiêu hiện đại hoá công nghệ, hệ thống thanh toán của
mình lên hàng đầu.
Trong những năm vừa qua, hệ thống các ngân hàng nói chung không ngừng
tiếp tục có những nỗ lực mới nhằm hiện đại hoá công nghệ. Dự án hiện đại hoá
ngân hàng và hệ thống thanh toán đã cam kết với WB đang được khẩn trương thực
hiện theo đúng lộ trình và cơ bản đáp ứng đúng tiến độ.
Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng giai đoạn II được đưa vào vận
hành từ tháng 11/2008 với khả năng xử lý 2 triệu giao dịch mỗi ngày đã góp phần
rất quan trọng cho việc tăng cường khả năng cung cấp các dịch vụ thanh toán điện
tử hiện đại, tiện ích cao cho xã hội.
Với nỗ lực nâng cao khả năng cạnh tranh, nhiều ngân hàng đã chú trọng
ứng dụng công nghệ hiện đại vào việc thực hiện các dịch vụ của ngân hàng mình,
một số ngân hàng đã nối mạng trực tuyến trong nội bộ hệ thống nhằm phục vụ
việc quản lý tập trung và giao dịch trực tuyến. Bên cạnh dịch vụ thẻ, các nghiệp vụ
3.1. Các giải pháp thực hiện:
3.1.1. Nhóm giải pháp nhằm phát huy điểm mạnh:
● Giải pháp về nguồn nhân lực:
- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên:
Cán bộ, nhân viên là khâu quyết định hiệu quả kinh doanh và nâng cao
năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Kết quả này phụ thuộc rất lớn vào trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ, tính năng động sáng tạo, đạo đức nghề nghiệp, thái độ
phục vụ của cán bộ ngân hàng, đó cũng là những vấn đề mà khách hàng phàn nàn
nhiều nhất và mong muốn nhiều nhất từ ngân hàng. Do vậy, để góp phần nâng cao
chất lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng và tạo được hình ảnh thân thiện trong lòng
khách hàng thì việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên chính là một
giải pháp rất quan trọng. Thực hiện giải pháp này, ngành nên tập trung trên các
phương diện sau:
+ Nên xây dựng một quy trình tuyển dụng nhân viên khoa học, chính xác,
hợp lý nhưng phải phù hợp với điều kiện riêng của từng ngân hàng nhằm tuyển
chọn được những nhân viên có trình độ và phù hợp với yêu cầu công việc.
+ Định kỳ tổ chức các khoá đào tạo kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn cho đội
ngũ cán bộ, nhân viên về khả năng thực hiện công việc với kỹ thuật công nghệ
hiện đại, khả năng ứng xử khi tiếp xúc khách hàng. Đồng thời lập kế hoạch cử các
cán bộ trẻ có năng lực đi đào tạo chuyên sâu ở các lĩnh vực kinh doanh chủ chốt,
các dịch vụ mới nhằm xây dựng được đội ngũ chuyên gia giỏi, làm nòng cốt cho
nguồn nhân lực trong tương lai.
+ Thuê công ty tư vấn nguồn nhân lực đánh giá lại trình độ của đội ngũ
quản trị điều hành cũng như đội ngũ cán bộ nhân viên để làm cơ sở cho việc đào
tạo, bồi dưỡng; xây dựng bảng lương cho đội ngũ quản trị trung cao cấp, đội ngũ
cán bộ nhân viên nhằm trả lương theo năng lực và hiệu quả, tránh hiện tượng cào
bằng và giải quyết dứt điểm việc trả lương theo thâm niên.
+ Tiếp tục nâng cao khả năng làm việc độc lập và làm việc theo
nhóm của cán bộ để có thể đảm nhận được những vấn đề trong thẩm quyền hoặc
tư vấn chính xác cho lãnh đạo những vấn đề vượt thẩm quyền.
Nội dung tổ chức mô hình phát triển theo hướng đẩy mạnh giao dịch một
cửa, quản lý ngân hàng theo nhóm khách hàng và loại dịch vụ thay thế cho việc
quản lý theo chức năng và nghiệp vụ như hiện nay. Đây cũng là cách quản lý mà
các ngân hàng trên thế giới áp dụng. Ưu điểm của nó là nâng cao khả năng phục
vụ và chăm sóc khách hàng, hơn nữa trình độ của nhân viên nghiệp vụ cũng phát
triển sâu rộng hơn. Tuy nhiên, hiện nay quá trình triển khai tại các ngân hàng còn
chậm, chưa được hoàn thiện, trong thời gian sắp tới các ngân hàng cần bố trí thêm
các bộ phận và phòng ban khác cần thiết như sau:
+ Phòng nghiên cứu và phát triển, marketing: nghiên cứu thị trường, phát
triển sản phẩm, thực hiện chính sách khách hàng…
+ Bộ phận tiếp tân: trực tiếp đón khách hàng và hướng dẫn khách hàng giao
dịch.
+ Bộ phận tư vấn, chăm sóc khách hàng.
Từ đó thực hiện điều chuyển, sắp xếp, luân chuyển cán bộ cho phù hợp với yêu
cầu nhiệm vụ trên cơ sở phát huy tốt nhất năng lực, sở trường của từng cá nhân
theo đúng quy định.
● Hoàn thiện công tác quản trị điều hành:
- Chuyển dần việc quản trị điều hành từ “cầm tay, chỉ việc” sang đặt yêu
cầu, mục tiêu, giành quyền chủ động, sáng tạo trong tổ chức thực hiện cho các bộ
phận.
- Đổi mới quản trị kinh doanh - quản trị điều hành hướng tới các chuẩn mực
và thông lệ quốc tế của hệ thống ngân hàng thương mại hiện đại. Nghĩa là quản trị
kinh doanh theo nhóm khách hàng và loại hình sản phẩm, dịch vụ. Tạo điều kiện
phục vụ khách hàng, tăng cường khả năng tiếp cận và cung cấp sản phẩm chuyên
biệt cho từng loại đối tượng khách hàng, đưa ra chính sách phù hợp cho mỗi loại
khách hàng. Đồng thời, nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng, giảm bớt chi phí
- Tăng cường hợp tác với giữa các ngân hàng , với các công ty chứng
khoán, tổ chức quản lý quỹ… hay các đối tác chiến lược để phát triển dịch vụ kinh
doanh và mở rộng khả năng huy động vốn.
● Hoàn thiện hoạt động tín dụng:
- Tiếp tục thực hiện tốt công tác kiểm soát tăng trưởng tín dụng ở mức hợp
lý, gắn chặt việc tăng trưởng các khoản vay mới với yêu cầu nâng cao chất lượng
và hiệu quả, đảm bảo an toàn hoạt động, tuân thủ điều hành kỷ cương, kỷ luật
trong điều hành hoạt động tín dụng.
- Xây dựng định hướng, mục tiêu hoạt động dài hạn trong đó tập trung các
ngành kinh tế mũi nhọn theo định hướng của Chính phủ, của Tỉnh.