MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG THUYẾT TRÌNH 2
1.1 Các khái niệm 2
1.1.1 Khái niệm thuyết trình 2
1.1.2 Vai trò của thuyết trình 2
1.1.3 Kỹ năng thuyết trình 2
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng thuyết trình 3
1.2.1 Tác phong khi thuyết trình 3
1.2.2 Nội dung thuyết trình 4
1.2.2.1 Đề tài nghiên cứu 4
1.2.2.2 Bố cục trình bày 4
1.2.2.3 Tính nhất quán 5
1.2.3 Công cụ trình chiếu và các yếu tố ngoại tác 6
1.2.3.1 Công cụ PowerPoint 6
1.2.3.2 Yếu tố không gian, thời gian 6
1.2.3.3 Yếu tố khán thính giả 7
Chương 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ KỸ NĂNG THUYẾT TRÌNH
CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM 8
2.1 Thực trạng kỹ năng thuyết trình của sinh viên trường Đại học kinh tế
TP.HCM 8
2.2 Phân tích thực trạng kỹ năng thuyết trình của sinh viên trường Đại
học kinh tế TP.HCM 9
2.2.1 Tác phong khi thuyết trình 9
2.2.2 Nội dung thuyết trình 10
2.2.2.1 Đề tài nghiên cứu 10
2.2.2.2 Bố cục trình bày 10
2.2.2.3 Tính nhất quán 11
2.2.3 Công cụ trình chiếu và các yếu tố ngoại tác 11
Đa số sinh viên thích học bằng phương pháp thuyết trình. Nhưng giữa thích
và làm tốt là một khoảng cách không nhỏ. Thuyết trình thực sự là một nhiệm vụ
không dễ dàng bởi người thuyết trình cần được trang bị những kỹ năng nhất định
mới có thể thực hiện thành công một bài thuyết trình gồm chọn đề tài, lập đề
cương, thu thập tư liệu, biên soạn nội dung, trình bày đề tài từ chủ đề cho đến kết
luận, trả lời các câu hỏi Người thuyết trình còn phải vượt qua nỗi sợ hãi khi nói
trước đám đông thì mới mong có được một buổi thuyết trình rõ ràng, thu hút được
người theo dõi.
Khảo sát một số lớp tại trường Đại học Kinh tế TP.HCM cho thấy hầu hết
sinh viên tuy thích nhưng lại sợ thuyết trình không tốt. Và số liệu cũng ghi nhận
hầu hết sinh viên chưa thực hiện tốt thuyết trình. Có thể nói nhu cầu được hiểu biết
và rèn luyện kỹ năng thuyết trình là một đòi hỏi thực tế khách quan đối với sinh
viên hiện nay.
Trong bối cảnh trên, nhóm nghiên cứu đã chọn đề tài "Kỹ năng thuyết trình
của sinh viên trường Đại học Kinh tế TP.HCM" nhằm ghi nhận thực trạng cũng
như đề ra giải pháp cải thiện nâng cao kỹ năng thuyết trình đối với sinh viên
trường Đại học Kinh tế TP.HCM.
2
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG THUYẾT TRÌNH
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Khái niệm thuyết trình
Theo Wiktionary thì thuyết trình là "trình bày một cách hệ thống và sáng rõ
một vấn đề trước đông người".
Xét đơn giản theo hành động và mục đích thì thuyết trình là trình bày bằng
lời trước nhiều người về một vấn đề nào đó nhằm cung cấp thông tin hoặc thuyết
phục, gây ảnh hưởng đến người nghe.
1.1.2 Vai trò của thuyết trình
Trong công việc, cho dù một người có những hiểu biết quý giá và ý tưởng
độc đáo đến đâu đi chăng nữa, mà đến khi cần thiết lại không thể trình bày cho
Ấn tượng đầu tiên về người thuyết trình chính là hình dáng bên ngoài của
họ ngay khi xuất hiện. Vì thế, chúng ta cần tạo được thiện cảm đối với người nghe
ở những giây đầu tiên này. Lựa chọn, phối hợp trang phục là một kỹ năng quan
trọng ảnh hưởng trực tiếp đến bài thuyết trình. Một sự phối hợp hài hòa giữa trang
phục, đầu tóc và những trang sức kèm theo sẽ tạo được ấn tượng tốt với khán thính
giả. Mặt khác, trang phục gọn gàng, phù hợp sẽ giúp cho bạn cảm thấy tự tin,
mạnh mẽ hơn khi thuyết trình và sẽ tạo được sự tin cậy nơi người nghe. Ngược lại,
nếu chọn trang phục không hợp với cơ thể, hoàn cảnh và nội dung bài diễn thuyết
sẽ gây phản cảm cho đối phương. Từ đó, bài thuyết trình của bạn sẽ giảm sức
thuyết phục.
Ví dụ: Bạn đang thuyết trình về đề tài cách ăn mặc nơi công sở, trong khi
đó lại khoác lên người một chiếc quần jean và áo thun với màu sắc sặc sỡ, cùng
với mái tóc không được kẹp gọn gàng, hẳn lời thuyết trình của bạn sẽ không còn
sức thuyết phục nữa, thậm chí khán thính giả cũng không hứng thú nghe tiếp. Hoặc
bạn đeo quá nhiều trang sức, chẳng hạn như hai, ba chiếc vòng tay; có thể chúng sẽ
tạo ra những tiếng va chạm, tiếng động gây mất tập trung cho người nghe. Vì vậy,
4
những nội dung mà bạn muốn truyền tải đến người nghe sẽ không được trọn vẹn,
và tất nhiên là bài thuyết trình của bạn sẽ không được như ý.
Bên cạnh trang phục thuyết trình, thì phong thái, hành vi, cách ứng xử của
bạn cũng chiếm một vị trí quan trọng. Một giọng nói to, rõ ràng sẽ truyền cảm
hứng cho người nghe. Cách diễn đạt tự tin, phong thái tự nhiên sẽ làm người nghe
cảm thấy thân thiện và tin cậy. Từ đó, dễ dàng chinh phục được người nghe. Người
nghe sẽ rất buồn ngủ, mất tập trung nếu giọng nói của bạn cứ đều đều như trả bài,
mắt thì chăm chăm nhìn vào bài thuyết trình đã chuẩn bị sẵn. Điều này, là dấu hiệu
để người nghe nhận thấy bạn đang mất tự tin, bối rối về bài thuyết trình của mình.
Ngoài vấn đề trang phục và thái độ hành vi trong khi thuyết trình, thì phong
thái khi xuất hiện cũng khá quan trọng. Ấn tượng trong phút đầu tiên sẽ ảnh hưởng
đến thái độ của khán thính giả dành cho bạn. Nếu có ấn tượng tốt, họ sẽ dành thiện
đến các vấn đề cần giải quyết, yêu cầu công việc, ý tưởng và giải pháp, cung cấp
bằng chứng, lợi ích khi áp dụng giải pháp, chương trình hành động, các việc làm
cụ thể.
Kết thúc: Nếu đoạn mở tạo ấn tượng ban đầu, đoạn giữa tạo giá trị cung cấp
thông tin, thì đoạn kết có tác dụng khắc sâu vào tâm trí khán thính giả, bởi những
lời sau cùng dễ được nhớ nhất. Về mặt hình thức, phải làm sao cho khán thính giả
biết là đã kết thúc và họ ra về mà vẫn còn tiếc. Về mặt nội dung, đoạn kết nêu lên
điểm nhấn của bài trình bày, giá trị và hạn chế của nghiên cứu.
1.2.2.3 Tính nhất quán
Mỗi bài thuyết trình có sứ mạng hướng đến chỉ một chủ đích nhất định, cho
nên tính nhất quán về nội dung phải được thể hiện xuyên suốt từ đầu đến cuối bài
thuyết trình, bao gồm:
Nhất quán giữa đoạn mở đầu và đoạn kết thúc.
6
Nhất quán giữa các nội dung chi tiết trong đoạn giữa. Cụ thể là phải có sự
tương đồng giữa các nội dung cơ sở lý thuyết, thực trạng và phân tích đánh giá,
mục tiêu và giải pháp.
1.2.3 Công cụ trình chiếu và các yếu tố ngoại tác
1.2.3.1 Công cụ PowerPoint
Với sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông, việc thuyết trình
trở nên thuận lợi hơn rất nhiều nhờ phần mềm PowerPoint: các ý tưởng trình bày
được công cụ hỗ trợ để minh họa hoặc nhấn mạnh, thời gian viết vẽ bảng được tiết
kiệm, sức thu hút khán giả được nâng cao nhờ hiệu ứng âm thanh và hình ảnh sống
động.
Để khai thác PowerPoint hiệu quả, cần tuân thủ một số nguyên tắc chung:
làm sao cho các trang chiếu trở nên dễ nhìn, dễ hiểu, dễ nhớ; các trang chiếu càng
ngắn gọn, càng súc tích càng tốt, nhưng không được quá nghèo nàn, thiếu hấp dẫn;
thiết kế chữ lớn để bảo đảm khán giả xa nhất cũng thấy; nên sử dụng chữ không
chân cho rõ ràng; không quá nhiều dòng trên một trang (6); không quá nhiều chữ
bảo đảm hiểu đúng câu hỏi vì khá nhiều người hỏi rất dài dòng nhưng không rõ hỏi
gì. Gặp câu hỏi khó, không nên trả lời ngay, hãy suy nghĩ một chút, hoặc hỏi lại
cho rõ, mục đích có thêm thời gian chuẩn bị trả lời. Đôi khi gặp tình huống khán
thính giả muốn tranh luận, thậm chí cố tình khiêu khích, chọc tức, tìm cách bắt bẻ,
vặn vẹo. Tình huống này, cố gắng hạn chế tranh luận, công việc của bạn là thuyết
trình và thuyết phục chứ không phải tranh luận; dù bạn có đúng đến đâu chăng nữa
thì chắc gì khán thính giả đồng ý, thừa nhận họ sai.
8
Chương 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ KỸ NĂNG THUYẾT TRÌNH
CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
2.1 Thực trạng kỹ năng thuyết trình của sinh viên trường Đại học kinh tế
TP.HCM
Số liệu khảo sát được thực hiện ngày 12/01/2011 tại giảng đường đại học
kinh tế 10,11,12 cho thấy thực trạng về kỹ năng thuyết trình của sinh viên:
47,5% sinh viên đánh giá thường xuyên phải làm thuyết trình.
78,5% sinh viên đánh giá cao vai trò của kỹ năng thuyết trình.
40% sinh viên cảm thấy lo sợ khi thuyết trình.
26,5% sinh viên hài lòng với kỹ năng thuyết trình của mình.
85% sinh viên cho rằng yếu tố tác phong trong thuyết trình là quan trọng.
82,5% sinh viên cho rằng yếu tố nội dung trong thuyết trình là quan trọng.
56,5% sinh viên cho rằng yếu tố môi trường là quan trọng.
2,5% sinh viên thực hiện thuyết trình bằng tham gia khóa học thuyết trình.
81% sinh viên thực hiện thuyết trình bằng học hỏi giảng viên và bạn bè.
16,5% sinh viên thực hiện thuyết trình bằng bản năng.
89% sinh viên muốn trau dồi kỹ năng thuyết trình bằng tham gia khóa học.
Qua số liệu khảo sát trên cho thấy việc thuyết trình trở nên quen thuộc với
các bạn sinh viên, song thực tế nhiều bạn sinh viên thường thuyết trình một cách “
bản năng” hoặc chủ động mô phỏng theo giảng viên chứ chưa được đào tạo dẫn
đến thói quen học thuộc lòng – nhớ - đọc lại trở thành phổ biến. Đa số các bạn đều
sợ sệt, tung tăng chạy lên, bước ra sân khấu mà mắt đảo trên trần nhà, cho tay vào
túi quần Ngay cả sinh viên đã từng thuyết trình vài lần nhưng khi xuất hiện ra
mắt khán thính giả vẫn hồi hộp, vẫn bị cảm giác ngượng nghịu, thậm chí khó thở,
không thể mở lời ngay được.
Về thái độ hành vi: qua khảo sát và đặc biệt là quan sát trực tiếp một số buổi
thuyết trình thì đây là kỹ năng mà sinh viên có biểu hiện yếu nhất. Rất hiếm có
10
sinh viên biết khai thác ngôn ngữ hình thể. Hầu hết sinh viên mang thái độ thiếu tự
tin, rụt rè. Phần quan trọng nhất là giao tiếp bằng ánh mắt với khán thính giả thì rất
hạn chế, bắt gặp nhiều nhất là nhìn vào giấy trên tay, nhìn vào màn hình, nhìn ra
cửa sổ, nhìn lên trần nhà có lúc nhìn xuống khán phòng nhưng cũng chỉ nhìn
phớt phía trên chứ không nhìn vào mắt khán thính giả. Giọng nói có vẻ không
được luyện tập, trau chuốt vì hầu như không phải thuyết mà là đọc hoặc nói thuộc
lòng một cách đều đều, còn khi quên thì ấp úng, ngập ngừng. Nét mặt ít biểu lộ
được sự tươi vui, hăng hái, tự tin; thay vào đó là sự căng thẳng, hồi hộp, âu lo. Do
căng thẳng nên dáng cơ thể thường không yên, không ngừng lắc lư qua lại; đôi
chân cũng đảo bộ qua lại liên tục; đôi tay thì một tay cầm micro, một tay không
biết phải làm gì nên thường cầm theo tờ giấy vừa để đỡ thừa thải vừa có cái để
nhìn và đọc.
2.2.2 Nội dung thuyết trình
2.2.2.1 Đề tài nghiên cứu
Bỏ qua trường hợp đề tài được giảng viên chọn sẵn thì sinh viên đành phải
thụ động chấp nhận. Vậy mà trong trường hợp có cơ hội được tự chọn đề tài thì đa
số sinh viên lại thích những đề tài có sẵn, đã được nhiều thế hệ sinh viên trước
thực hiện, có lẽ bởi tính dễ tham khảo thậm chí copy. Những đề tài như thế ít có
sức thu hút, mặt khác không chắc sẽ được thực hiện tốt hơn những người thuyết
trình trước đây.
2.2.2.2 Bố cục trình bày
Một số sinh viên không làm đề cương. Một số khá lớn tuy có làm đề cương
2.2.3 Công cụ trình chiếu và các yếu tố ngoại tác
2.2.3.1 Công cụ PowerPoint
Phần mềm PowerPoint thật là đắc dụng, nhưng không phải sinh viên nào
cũng biết khai thác hiệu quả. Sinh viên thường quá lạm dụng hoặc không hiểu
nguyên tắc sử dụng. Các lỗi mắc phải nhiều nhất là chữ quá nhỏ, chữ quá nhiều,
đọc từng câu chữ trên màn hình, lạm dụng các hiệu ứng, lạm dụng các hình ảnh,
thiếu phương án dự phòng. Chữ quá nhỏ đến mức khó mà đọc được, nhất là những
12
ai ở cuối khán phòng. Chữ quá nhiều khiến người đọc không biết nên đọc màn
hình hay nghe thuyết trình. Đọc trên màn hình nên không thể giao tiếp ánh mắt với
khán thính giả. Lạm dụng hiệu ứng âm thanh, hình ảnh khiến người xem bị phân
tán theo dõi. Sử dụng hình ảnh không liên quan nội dung. Khi tập tin trình chiếu bị
hỏng hoặc máy chiếu có vấn đề thì hầu như không thể khắc phục, phải hoãn thuyết
trình.
2.2.3.2 Yếu tố không gian, thời gian
Không gian và thời gian thuyết trình: đối với sinh viên thì gần như đây là
yếu tố khách quan vì địa điểm và thời gian do nhà trường và giảng viên ấn định.
Nhiều lúc phòng họp quá rộng so với khán giả gây nên cảm giác lạc lõng, trống
trải, xa lạ; cũng có lúc phòng quá hẹp tạo nên sự chật chội, ngột ngạt, bất tiện.
Thường gặp nhất là sử dụng phòng học bố trí bàn ghế theo kiểu lớp học, sinh viên
không sắp xếp lại nên sự giao tiếp diễn giả với khán thính giả không hợp lý, thuận
tiện. Điều kiện âm thanh và ánh sáng, máy móc thiết bị nghe và nhìn, thì hoàn
toàn lệ thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường. Thời gian thuyết trình
nếu đúng buổi trưa nhằm lúc hạn chế dùng phòng máy lạnh thì xem như buổi
thuyết trình sẽ gặp sự nóng bức, ngột ngạt.
2.2.3.3 Yếu tố khán thính giả
Khán thính giả gây phiền: những hình ảnh thường gặp nhất ở khán thính
giả, đặc biệt ở những dãy bàn cuối, là nói chuyện bất chấp người diễn thuyết.
Trung bình năm phút thuyết trình có một lần chuông điện thoại reng từ dưới khán
tác nhân ngoại tác. Giải pháp chủ yếu ở yếu tố này nằm khả năng kiểm soát mức
độ phản ứng của khán thính giả. Nó bao hàm từ thời gian thuyết trình đến cách
thức tương tác, tần số đối thoại giữa người nói và người nghe.
14
3.2 Giải pháp cải thiện kỹ năng thuyết trình của sinh viên trường Đại học
kinh tế TP.HCM
3.2.1 Cải thiện tác phong khi thuyết trình
Về trang phục: cho dù giảng viên không bắt buộc về trang phục, nhưng sinh
viên nên tự trang phục phù hợp cho mình. Về nguyên tắc hãy trang phục sang hơn
thính giả một bậc; điều này giúp cho ta tự tin hơn, còn thính giả sẽ nể trọng ta hơn.
Vừa phù hợp với sinh viên vốn eo hẹp về tài chính, vừa phù hợp yêu cầu thuyết
trình, thì có vẻ đối với nam sinh viên, trang phục thích hợp là quần tây sậm màu,
có thắt lưng, áo sơ mi dài tay có cài khuy, giày tây hoặc dép có quai hậu, có thể
thêm cà vạt để tăng phần sang trọng. Đối với nữ sinh viên thì cũng quần tây áo sơ
mi như nam, hoặc váy áo vét cho sang trọng. Nam thì không trang sức, trang điểm;
trong khi nữ thì cần để tăng phần duyên dáng, vẻ đẹp.
Về phong thái xuất hiện: giáo sư Loek Hopstaken - giảng viên ĐH
Wittenborg (Hà Lan) - nổi tiếng về đào tạo quản trị nhân sự, quan hệ công chúng,
có lời khuyên ngắn gọn như sau "Hãy đi chậm rãi, kiểm soát từng di chuyển, khi ra
đến sân khấu thì đứng thẳng người vì đó là tư thế thể hiện bạn tự tin nhất".
Về thái độ hành vi: sinh viên cần có hiểu biết về ngôn ngữ cơ thể trong
thuyết trình và phải luyện tập trước khi thuyết trình. Ngôn ngữ cơ thể phải hòa
quyện với suy nghĩ và lời nói khi thuyết trình. Ánh mắt nhìn bao quát khán phòng,
có thể dừng lại ở cá nhân nào đó, sự giao tiếp cá nhân bằng mắt trong thời gian vừa
phải 15 giây. Nét mặt phải có sự biểu cảm, không cười nhưng vẫn tươi. Động tác
tay không buông thẳng, cũng không vung quá nhiều, khi vung tay thì trong phạm
vi từ hông tới cằm. Di chuyển qua lại nên có để tạo sự thu hút nơi khán giả, nhưng
không di chuyển quá nhanh hay quá nhiều dễ gây rối mắt. Dù cho có hiểu biết
nhưng nếu thiếu luyện tập thì vẫn không quen và lúng túng như thường. Một điển
đưa ra một lời khuyên, khuyến khích một hành động, đặt ra một câu hỏi cho khán
thính giả, phác họa một tương lai vui vẻ, mở rộng vấn đề
3.2.2.3 Tính nhất quán
16
Khi đã lập đề cương hợp lý như đã nêu trên thì tính nhất quán của bài thuyết
trình không còn đáng lo ngại. Chỉ cần tra cứu tư liệu thích hợp đưa vào bài viết.
Nếu làm việc nhóm, phân công mỗi người biên soạn một phần, thì về mặt
cá nhân cần tuân thủ theo đề cương đã lập, về mặt nhóm cần có sự hoàn thiện, hiệu
chỉnh cho đồng bộ khi ghép các phần lại.
3.2.3 Cải thiện sử dụng công cụ trình chiếu và các yếu tố ngoại tác
3.2.3.1 Công cụ PowerPoint
Số lượng trang chiếu tương ứng thời lượng thuyết trình, nhiều quá gây mất
tập trung, ít quá sẽ nhàm chán; thuyết trình 30 phút thì số trang chiếu 25-30.
Kích thước chữ to bảo đảm tất cả khán giả đều thấy rõ, cỡ 30-40 tùy loại
phông chữ. Phông chữ nên chọn không chân sẽ dễ nhìn hơn, ví dụ Arial, VNI-
Helve (phông chữ có chân như Times New Roman, VNI-Times thì chỉ thích hợp
cho sách, bài viết dài vì có tác dụng chống mỏi mắt khi đọc).
Số dòng và số chữ vừa phải. Một trang chiếu nhiều lắm chỉ 6 dòng, mỗi
dòng không quá 6 từ. Thuyết trình viên phải xem trang chiếu như là công cụ gợi
nhớ và tạo sinh động chứ không phải là bài viết để nhìn mà đọc, cho nên cần hiểu
kỹ phần trình bày để tránh quên trước quên sau, dẫn đến lúng túng phải đọc từng
từ trên trang chiếu.
Tránh sử dụng các hiệu ứng gây rối mắt kiểu như câu chữ xoay vòng gây
nhức mắt khán giả. Các hình ảnh nên vừa phải và có sự chọn lọc cho phù hợp nội
dung, không nên dễ dãi sử dụng những hình ảnh có sẵn vì khán giả dễ thấy chán vì
đã được xem quá nhiều lần, cố gắng sử dụng những hình ảnh tự tạo, đặc biệt có
liên quan đến cá nhân, tập thể nhóm thuyết trình, hay lớp học. Có thêm các đoạn
phim, hoạt cảnh, tiểu phẩm tự thực hiện thì thuyết trình sẽ sinh động, hấp dẫn hơn.
Nên lưu giữ tập tin trình chiếu ít nhất hai nơi; nếu có điều kiện thì dự phòng
để tạo phong trào rèn luyện kỹ năng, trong đó có thuyết trình.
18
KẾT LUẬN
Ta đã biết kỹ năng thuyết trình là một trong những chìa khóa giúp ta thành
công cho dù trong môi trường học tập hay làm việc. Đặc biệt đối với sinh viên
kinh tế, đang nuôi dưỡng hoài bão kinh doanh thì kỹ năng thuyết trình lại càng cần
thiết.
Qua bài viết, ta có thể thấy nhiều bạn sinh viên vẫn còn thiếu sự tự tin và
những kỹ năng cần thiết để có thể thuyết trình một cách hiệu quả. Nếu sinh viên
sớm quan tâm đến kỹ năng thuyết trình thì điều này không chỉ giúp sinh viên thành
công trong thời gian học đại học, mà còn mang lại cho họ nhiều lợi thế trong môi
trường công việc sau này.
Bài viết chỉ đưa đến cho các bạn sinh viên một số khái niệm, một vài giải
pháp mang tính giới thiệu nhằm giúp các bạn sinh viên có sự quan tâm đến kỹ
năng thuyết trình, thấy tầm quan trọng của thuyết trình, có nhu cầu rèn luyện kỹ
năng thuyết trình.
Các khóa hướng dẫn rèn luyện kỹ năng thuyết trình chuyên nghiệp sẽ là
điểm đến tiếp theo cho các bạn sinh viên thực sự muốn trở thành chuyên gia thuyết
trình, thành công trong tương lai.